Bài 3. “Anh trai” Mười Hương – cũng là một “Siêu tình báo” – cũng kể chuyện … Láo! Và khuôn mặt “anh em ruột” không giống nhau

  1. Bằng chứng và phân tích.
  2. Những nội dung kể láo ở bài “Xa rồi, người giúp sức làm rung chuyển Sài Gòn xuân 1968!” (Báo Sài Gòn giải phóng – 22/10/2008) (Văn bản 2)

1.1 Cũng được cử vào nam 1954.

Ông Tư Hùng …Qua nhiều vị trí công tác khác nhau, đến năm 1954, ông được Đảng, quân đội giao nhiệm vụ đặc biệt – tình báo chiến lược, hoạt động tại Sài Gòn. Với cái vỏ nhà buôn, nhà thầu khoán lớn, ông vừa tạo nguồn kinh tế hoạt động cách mạng vừa có cơ hội thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình.

Lời bàn: Giống như người “Anh trai” ruột –  Mười Hương cũng được cử vào nam 1954, và cùng làm Tình báo!

Mâu thuẫn ở đây là thực tế ngành Tình báo ít khi cùng sử dụng 2 anh em cùng làm tình báo và ở cùng 1 thời điểm, cùng thời gian!

Nhỡ lộ thì gay!

Vì như ông kể ở đoạn cuối bài: “…Ông tâm sự: “Anh em tôi gặp nhau trong nhà tù Diệm – Nhu, những năm 1959 – 1964. Sau này vài lần gặp trên phố nhưng vì giữ nguyên tắc, chúng tôi không dám nhận nhau, không trò chuyện gì…”.

Rồi:Ông Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương đã tự hào về người anh trai của mình: “Gia đình tôi tự hào là có hai người con (ông Trần Sĩ Hùng và ông Trần Quốc Hương – PV) … Có lần đang đi ở ngã 6 Sài Gòn, tôi nhìn thấy anh Tư Hùng, lúc này anh em rất muốn gặp nhau, nhưng chúng tôi lại rất giữ nguyên tắc hoạt động nên chỉ liếc mắt rồi mỗi người mỗi hướng. …”

Thế nhỡ 2 anh em không kìm được tình cảm thì chết à?

1.2 Biệt động thành nhờ “nhà thầu khoán yêu nước ” đi đặt bom ở Tòa Đại sứ Mỹ!

– 16 anh em hy sinh, chỉ còn mình tôi thôi. Tôi nhớ, trưa 30 Tết, Hai Chí (cán bộ đội biệt động Thành) gặp tôi nói rõ kế hoạch đánh Sứ quán Mỹ. Tôi biết ngay đây là nhiệm vụ bổ sung, vội vã, chưa được chuẩn bị chu đáo cả về người và phương tiện. Vì ngày tết có tiền cũng chẳng mua nổi xe nên Hai Chí đánh bạo cầu cứu mượn xe tôi và nhờ tôi lái.

Đến lúc ấy, Hai Chí vẫn nghĩ tôi là nhà thầu khoán yêu nước chứ không biết tôi là tình báo chiến lược. Nếu đánh mục tiêu khác thì tôi từ chối ngay, vì cương vị tôi không thể làm công việc bạo động. Nhưng đây là mục tiêu cực kỳ quan trọng, đánh vào không chỉ rung chuyển Sài Gòn mà còn khiến kẻ thù bên kia bán cầu khiếp sợ. ”

Lời Bàn: 1. Ông là “Ta” hay địch? Để mà: “– 16 anh em hy sinh, chỉ còn mình tôi thôi. …”? Sao lại gặp may thế nhỉ? – Gặp may – yếu tố ta sẽ thường thấy trong những câu chuyện “Siêu Tình Báo” của CS Việt Nam.

  1. Ông này là ai? “Hai Chí (cán bộ đội biệt động Thành)

Có phải chính là ông: “Nguyễn Văn Trí (1912 – 1965) (Hai Trí) nguyên là Đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, Chính Ủy quân khu 7, quân khu 9, Phó Chính Ủy quân khu 8, Xứ Ủy Viên Xứ ủy Nam Bộ, Phó Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nông trường VIệt Nam.”

Nếu đúng ông này thì ở đây chính là một nghịch lý: Cán bộ Cs có tên tuổi, có chức vụ cao thì chết, còn những người không tên tuổi thì sống và thành Anh Hùng! (ta sẽ trở lại Nghịch lý này sau).

Ở đây ta thấy ông ta đang kể về người đã chết!

Phải chăng kể về người đã chết thì dễ? Vì có còn sống để mà phản đối ông đâu!

  1. Một kế hoạch KHỦNG như thế này: “đánh Sứ quán Mỹ” mà Hai Chí lại nói với người ngoài tổ chức, người chỉ là: “nhà thầu khoán yêu nước”?

Không thể!

Việc này chết người đấy!

Không thể hồ đồ!

Sao 2 anh em ruột thì: “chúng tôi không dám nhận nhau, không trò chuyện gì” Mà Hai Chí lại nói chuyện “Chết người” với: “nhà thầu khoán yêu nước”?

Không thể!

  1. Ông hoạt động theo cảm tính chứ không được chỉ đạo của THƯỢNG CẤP? “Nếu đánh mục tiêu khác thì tôi từ chối ngay, vì cương vị tôi không thể làm công việc bạo động. Nhưng …”

Không thể!

vì cương vị” đó mà ông đã tự do hành động?

Không thể!

vì cương vị” mà tổ chức DỌC của ông không có chỉ đạo gì sao?

Như chính ông đã nói: “vì cương vị tôi không thể làm công việc bạo động.

Vậy mà ông lại tự ý làm giúp?

Không thể!

Hãy xem Phạm Xuân Ẩn kể đây: “Một trong những chiến thuật được xây dựng rất thận trọng của Ẩn đó là không bao giờ chơi thân với những người mà ông biết hoặc cho là cảm tình viên của Cộng sản; thay vào đó, ông tìm kiếm và kết bạn với những nhân vật được coi là chống Cộng hăng hái và nổi tiếng nhất nhằm bảo vệ vỏ bọc của ông cũng như hiểu sâu hơn về tư duy của người Mỹ.” (Điệp viên hoàn hảo kỳ 16: Những mối quan hệ sơ khởi)

Điệp viên ít ra cũng phải thế chứ sao màtôi là tình báo chiến lượclại tự động đi lái xe giúp: biệt động Thành”?

Lộ chết!

1.3 Đánh Đại Sứ quán Hoa kỳ.

“Chiều tối, tôi lái chiếc xe Dauphine, loại 4 chỗ, màu trắng đến quán phở Bình (số 7 Yên Đổ, nay là đường Lý Chính Thắng). Đây là sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch Mậu Thân. Khoảng nửa đêm, tôi chở Ba Đen (Đội trưởng đội Biệt động) cùng 3 người nữa đi nhận bộc phá tại nhà chị Phê (59 đường Điện Biên Phủ), rồi vòng ra khu vực nhà thờ Đức Bà. Đi sau xe tôi là một xe tải hạng nhẹ, chở quân. Khi tôi cho xe dừng sát lề đường, trước cổng Sứ quán Mỹ, các chiến sĩ nhanh chóng nhảy xuống áp bộc phá vào tường, gây nổ rồi lao vào trong, vừa bắn B40, vừa nổ bộc phá…”

Lời Bàn: Ông kể đơn giản quá không thể đánh vào Đại sứ quán Mỹ thế này được: “Khi tôi cho xe dừng sát lề đường, trước cổng Sứ quán Mỹ, các chiến sĩ nhanh chóng nhảy xuống áp bộc phá vào tường, gây nổ rồi lao vào trong, vừa bắn B40, vừa nổ bộc phá…”!

Không thể!

Như bài “Chuyện hai anh em trai người tình báo chiến lược” báo Công an nhân dân dưới đây nói đó là “Đội cảm tử” cơ mà!

Phải là “Cảm tử” như đánh bom ở Trung Đông ấy ông ạ!

Mà cảm tử thì xe và ông có thoát được không?

1.4 Không thể: “Khi anh em ra khỏi xe, tôi phóng xe vào con hẻm gần đó rồi đi bộ ra một căn nhà bỏ trống đối diện sứ quán để quan sát. Nếu lúc ấy phóng xe ra về hoặc đi bộ trên đường sẽ bị chúng bắt ngay nên tôi chọn vị trí ngồi lại. Nghe tiếng nổ, hàng chục xe Zeep của cảnh sát và quân cảnh ập đến, rải quân dọc bờ tường, nhăm nhăm họng súng chĩa ra. Một lát sau mấy chiếc trực thăng quần đảo, bắn như vãi đạn xuống tòa đại sứ. Tôi đau xót, biết chắc là anh em hy sinh…”!

Có lẽ Mỹ là mấy chị em “Nữ sinh” thì ông mới thoát được!

“Đồng đội ông” họ chết tất sao? Có còn ai thoát để kể chuyện cùng ông không nhỉ?

1.5 Người bạn Đời.

“Người bạn đời của ông là cựu tù chính trị Côn Đảo, đã từng là cán bộ Ban Bạn đọc Báo Sài Gòn Giải Phóng những năm sau ngày Tổ quốc thống nhất. ”

Lời Bàn: Vợ ông sinh năm bao nhiêu?

Sao ông không giống “em trai” là Mười Hương đã “Thất lạc” vợ ngoài Bắc” để khi 60 tuổi mới lấy vợ mới?

Mười Hương sinh 1924, vậy ông chắc chắn đến 1954 phải hơn 30 tuổi,khi đó hẳn đã có vợ rồi!

Sao ông không phải để vợ con lại ngoài bắc để rồi: “Thất lạc” như Mười Hương?

  1. Những nội dung kể láo ở bài “Chuyện hai anh em trai người tình báo chiến lược” (Báo Công an nhân dân, ngày 18/04/2010) (Văn bản 2)

2.1 Kỳ Cựu tình báo Cộng sản mà lại hoạt động theo cảm tính?

“Tháng 8/1945 đến năm 1946, ông là Trưởng ban Trinh sát Ty Liêm phóng Hà Nam, và sau là Trưởng ban Đặc vụ tỉnh ủy Hà Nam. …tháng 5/1955…Tổ trưởng tổ công tác đặc biệt, hoạt động trong vùng địch hậu thuộc Cục Tình báo, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam

Lời bàn: Kỳ cựu như vậy mà 1968 ông lại tự động đi tham gia “ĐÁNH BOM” đại sứ quán Hoa Kỳ do một người “Nhờ giúp” à?

“…Đến lúc ấy, Hai Chí vẫn nghĩ tôi là nhà thầu khoán yêu nước… ”

2.2 Cùng bị bắt, cùng giam chung nhà giam, cùng được thả một thời gian giống với “Em trai”?

“Do một số tên chiêu hồi khai báo, nên tháng 12/1959, ông bị địch bắt tại Sài Gòn. Trong suốt 5 năm giam giữ, chúng đưa ông qua nhiều trại giam như Lê Văn Duyệt, Biệt phòng khét tiếng P42, Trại giam Tân Hiệp (Biên Hoà), Tổng Nha cảnh sát Sài Gòn, nhà tù Phú Lợi… Chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ không được đã tra tấn dã man, bỏ đói, làm nhục… nhưng ông vẫn không hé răng khai nửa lời. Vì thế mà trong cùng thời gian bị giam ở biệt phòng số 2, em trai ông là Trần Quốc Hương, nhà tình báo chiến lược, chỉ huy một mạng lưới tình báo ở miền Nam, bị giam giữ chung một nhà giam, nhưng kẻ địch vẫn không hề biết.

Tháng 9/1964, do không khai thác được gì, bọn địch buộc phải trả tự do cho cả 3 đồng chí cùng một số tù chính trị. Ra tù, ông Trần Sĩ Hùng lại tiếp tục móc nối với tổ chức và cơ sở cách mạng để tiếp tục hoạt động.”

Lời bàn: Nhiều cái cùng quá: Cùng là 2 anh em trai, cùng được cử vào nam 1954, cùng làm “Tình báo chiến lược”, cùng bị bắt do “tên chiêu hồi khai báo”, cùng được thả vào một thời gian giống nhau!

Phải chăng ông đã kể chuyện theo một mô tuýp đã được “Người em” dựng sẵn?

Rất nhiều cái cùng – duy chỉ 2 cái mặt thì lại không giống nhau!

2.3 “Hai Trí đề nghị ông tham gia đội cảm tử quân.”

“Trưa 30 Tết Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20 – Thường trực Sở chỉ huy tiền phương Biệt động thuộc Bộ chỉ huy phân khu 6 (đóng tại tiệm phở Bình đường Yên Đổ, nay là đường Võ Thị Sáu, quận 3, TP Hồ Chí Minh), đến gặp ông Tư Hùng trao đổi kế hoạch đánh Đại sứ quán Mỹ. Lúc đó, thời gian rất gấp, xe chở người và chất nổ còn thiếu, người thông thạo địa hình để dẫn đường cũng chưa có. Biết ông Tư Hùng là người có thể đáp ứng được hai điều kiện trên, đồng chí Hai Trí đề nghị ông tham gia đội cảm tử quân. Với suy nghĩ Đại sứ quán Mỹ là mục tiêu quan trọng, tấn công vào đây sẽ gây được tiếng vang lớn về mặt quân sự và chính trị của quân ta nên ông Tư Hùng nhận lời ngay.”

Lời Bình: Sao ông là “ tình báo chiến lược” và “cương vị tôi không thể làm công việc bạo động.” Sao lại nhận lời tham gia: “đồng chí Hai Trí đề nghị ông tham gia đội cảm tử quân. …ông Tư Hùng nhận lời ngay”?

Lạ!

Ông không cần báo cáo cấp trên sao?

Lạ!

2.4 Lợi dụng lúc nhốn nháo, đồng chí Tư Hùng trốn thoát.

“Đúng 3h sáng mùng 2, cả hai xe lao thẳng về hướng Thảo Cầm Viên rồi đỗ xịch ngay trước cổng Đại sứ quán Mỹ. Các chiến sĩ đặc công nhảy xuống ôm bộc phá áp vào tường gây nổ. …. Theo kế hoạch, ông Tư Hùng lái xe lao vào một đường nhỏ đối diện toà đại sứ rồi rời xe biến vào một căn nhà bỏ trống để nắm tình hình. Lúc này, tiếng nổ trong toà Đại sứ Mỹ vang lên giòn giã, chỉ 5 phút, đội biệt động đã chiếm toàn bộ 3 tầng trong toà nhà lớn, tiêu diệt gần 200 tên địch.

Sau đó, địch tập trung hoả lực phản công. Trên trời máy bay trực thăng của chúng bắn như vãi đạn và ném lựu đạn cay xuống toà nhà. Xung quanh toà nhà, xe tăng, xe bọc thép cùng lính Mỹ, lính Sài Gòn dày đặc. Vì thế, 16 chiến sĩ đặc công hy sinh. Lợi dụng lúc nhốn nháo, đồng chí Tư Hùng trốn thoát khỏi sự tầm nã của địch.”

Lời Bàn: Trốn thoát?

“Xung quanh toà nhà, xe tăng, xe bọc thép cùng lính Mỹ, lính Sài Gòn dày đặc.” thì làm sao mà: “Lợi dụng lúc nhốn nháo, đồng chí Tư Hùng trốn thoát khỏi sự tầm nã của địch.”?

Giỏi thế sao?

  1. Những nội dung cần lưu ý ở bài: “Nguyễn Văn Trí ” trên (vi.wikipedia.org) (Văn bản 3)

Lưu ý: Người rủ ông “tình báo chiến lược.” vào “cảm tử quân” đánh “Đại sứ Mỹ” năm 1968 thì… đã chết từ 1965 ở Hà Nội!

Lời bàn: Ở bài 1 nói Hai Chí thì tôi cứ ngỡ là anh Chí Phèo nào đó sống lại! Nhưng bài 2 báo Công An Nhân Dân là nói rõ là “Nguyễn Văn Trí (Hai Trí)” thì: Ô hô, ông này chết từ 1965 mà 1968 vẫn chỉ đạo Đánh Đại Sứ Quán Mỹ được à?

Lạ!

““Trưa 30 Tết Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20 …đến gặp ông Tư Hùng trao đổi kế hoạch đánh Đại sứ quán Mỹ. … đồng chí Hai Trí đề nghị ông tham gia đội cảm tử quân.

Bài trước: “Tôi nhớ, trưa 30 Tết, Hai Chí (cán bộ đội biệt động Thành) gặp tôi nói rõ kế hoạch đánh Sứ quán Mỹ. … nên Hai Chí đánh bạo cầu cứu mượn xe tôi và nhờ tôi lái.

Đến lúc ấy, Hai Chí vẫn nghĩ tôi là nhà thầu khoán yêu nước chứ không biết tôi là tình báo chiến lược.”

Hay có một: “Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20” khác?

4. Đồng chí Tư Thuận là ai? “đi sau là chiếc xe tải nhẹ do đồng chí Tư Thuận lái chở các đồng chí khác trong đội cảm tử.” (Văn bản 2)

Tìm trên Google tôi chỉ thấy: “Tư Thuận – Đại Ca Của Tướng Cướp Điềm Khắc Kim” “Ông Tư Thuận – tay giang hồ một thời lẫy lừng danh tiếng ở khu vực Ngã ba Cây Thị TP.HCM tâm sự vào lúc bạo bệnh:” (Văn bản 4)

  1. Các bài viết về “đánh chiếm Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân 1968” đều không có tên ông và Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20!

Xem “Biệt động thành và 6 giờ đánh chiếm Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân 1968” báo Công An Nhân Dân ngày 02/09/2006 (Văn bản 5), và bài: “Biệt động Sài Gòn-Gia Định xuân Mậu Thân 1968” báo Quân đội nhân dân ngày 23-01-2008 (Văn bản 6) đều không có …tên ông và Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20!

  1. Cũng “mất một thời gian để chứng minh”!

“Ông Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương đã tự hào về người anh trai của mình:…Anh Tư Hùng là người gan dạ, trung thực, tôi tự hào về anh tôi. Tuy nhiên, âm mưu của kẻ địch rất thâm độc, hòng ly gián giữa anh Tư Hùng với tổ chức, chúng tung hoả mù là Tư Hùng có đi lại với CIA, nên mất một thời gian để chứng minh, cộng với việc có thời gian anh Tư Hùng ở Quân đội, thời gian ở Công an nên thành tích của anh chưa được đánh giá hết. Giờ đây, Đảng và Nhà nước ta đã thấy hết công lao của anh Tư Hùng và truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là niềm tự hào của gia đình chúng tôi…”. ” (Văn bản 2)

Lời Bình: Giống các “Siêu” khác: Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Ba Quốc – “Siêu” Trần Sĩ Hùng cũng bị Nghi Ngờ!

Đây là một chuyện lạ có hệ thống! Tất cả các “Siêu” đều bị nghi ngờ!

Chắc chắn cũng như các “Siêu” khác, Trần Sĩ Hùng được Mười Hương mớm cho kể chuyện “Tình báo” cho oai mà thôi!

  1. Nhìn ảnh 2 “anh em” không giống nhau!

Có đúng tuổi thật không khi mà: “3 năm nữa ông tròn tuổi 90. Gặp ông, nhiều người tưởng ông khoảng 70 tuổi.”?

 Có đúng anh em không khi mà hai khuôn mặt không hề giống nhau: “Ông Tư Hùng (bên trái) và em trai – ông Mười Hương. (Văn bản 1)

Ông Trần Sĩ Hùng.” Và “Ông Trần Quốc Hương.(Văn bản 2)

Như vậy chắc chắn Trần Sĩ Hùng không phải là anh trai của Mười Hương! (Nếu ai còn chưa tin có thể giám nghiệm ADN của con Mười Hương với con Trần Sĩ Hùng.)

Như vậy chắc chắn Trần Sĩ Hùng chẳng phải Trần Ngọc Bái!

Đây là một cuộc xảo trá lớn: “Ông Trần Sĩ Hùng (Trần Ngọc Bái) sinh ra và lớn lên ở quê hương có truyền thống cách mạng, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” (Văn bản 2)

Thế mới thật là:

“Em trai” kể chuyện láo liên

                   “Anh trai” cũng thế – chúng phường Mafi!

                         Kìa ảnh có giống nhau đâu

                   Chúng mày tưởng chúng Dân tao bị mù?

                   “Anh em” Đức Thọ đấy thôi

                   Mỗi người một mặt, họ thì chẳng chung! (1)

(1) Giống như Lê Đức Thọ, Đinh Đức Thiện, Mai Chí Thọ cả ba đều nhận là “Anh em” nhà họ Phan Đình. (Xem thêm quyển 9 – Việt Nam nhận quỷ làm Cha.)

Thắc Mắc: 2 anh em “Kiến trúc sư trưởng” thì như thế! Không biết “gia đình” của “Kiến trúc sư trưởng” thì như thế nào nhỉ?

Xin xem bài 4 sẽ rõ!

  1. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

  1. Xa rồi, người giúp sức làm rung chuyển Sài Gòn xuân 1968!Thứ tư, 22/10/2008, 03:47 (GMT+7)

http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2008/10/169226/

Đột ngột đến bàng hoàng khi tôi được tin ông Trần Sĩ Hùng (thường gọi bác Tư Hùng) mất, mặc dù chỉ 3 năm nữa ông tròn tuổi 90. Gặp ông, nhiều người tưởng ông khoảng 70 tuổi. Bởi vì ông trẻ trung cả về dáng vóc, tác phong và cả trong tư duy, giọng nói, tầm nhìn…

Ông Tư Hùng (bên trái) và em trai – ông Mười Hương. (Ảnh)

Ông Tư Hùng đã phải trải nghiệm gần 60 năm bươn chải, lăn lộn giữa thương trường. Sinh ra, lớn lên trong gia đình khá giả, giàu truyền thống cách mạng ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, 16 tuổi (tháng 8-1937) ông đã đi hoạt động cách mạng.

Qua nhiều vị trí công tác khác nhau, đến năm 1954, ông được Đảng, quân đội giao nhiệm vụ đặc biệt – tình báo chiến lược, hoạt động tại Sài Gòn. Với cái vỏ nhà buôn, nhà thầu khoán lớn, ông vừa tạo nguồn kinh tế hoạt động cách mạng vừa có cơ hội thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình.

Đầu năm nay, nhân kỷ niệm 40 năm đánh vào Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ông kể với tôi mà nước mắt cứ ứa ra:

– 16 anh em hy sinh, chỉ còn mình tôi thôi. Tôi nhớ, trưa 30 Tết, Hai Chí (cán bộ đội biệt động Thành) gặp tôi nói rõ kế hoạch đánh Sứ quán Mỹ. Tôi biết ngay đây là nhiệm vụ bổ sung, vội vã, chưa được chuẩn bị chu đáo cả về người và phương tiện. Vì ngày tết có tiền cũng chẳng mua nổi xe nên Hai Chí đánh bạo cầu cứu mượn xe tôi và nhờ tôi lái.

Đến lúc ấy, Hai Chí vẫn nghĩ tôi là nhà thầu khoán yêu nước chứ không biết tôi là tình báo chiến lược. Nếu đánh mục tiêu khác thì tôi từ chối ngay, vì cương vị tôi không thể làm công việc bạo động. Nhưng đây là mục tiêu cực kỳ quan trọng, đánh vào không chỉ rung chuyển Sài Gòn mà còn khiến kẻ thù bên kia bán cầu khiếp sợ.

Chiều tối, tôi lái chiếc xe Dauphine, loại 4 chỗ, màu trắng đến quán phở Bình (số 7 Yên Đổ, nay là đường Lý Chính Thắng). Đây là sở chỉ huy tiền phương của chiến dịch Mậu Thân. Khoảng nửa đêm, tôi chở Ba Đen (Đội trưởng đội Biệt động) cùng 3 người nữa đi nhận bộc phá tại nhà chị Phê (59 đường Điện Biên Phủ), rồi vòng ra khu vực nhà thờ Đức Bà. Đi sau xe tôi là một xe tải hạng nhẹ, chở quân. Khi tôi cho xe dừng sát lề đường, trước cổng Sứ quán Mỹ, các chiến sĩ nhanh chóng nhảy xuống áp bộc phá vào tường, gây nổ rồi lao vào trong, vừa bắn B40, vừa nổ bộc phá.

Khi anh em ra khỏi xe, tôi phóng xe vào con hẻm gần đó rồi đi bộ ra một căn nhà bỏ trống đối diện sứ quán để quan sát. Nếu lúc ấy phóng xe ra về hoặc đi bộ trên đường sẽ bị chúng bắt ngay nên tôi chọn vị trí ngồi lại. Nghe tiếng nổ, hàng chục xe Zeep của cảnh sát và quân cảnh ập đến, rải quân dọc bờ tường, nhăm nhăm họng súng chĩa ra. Một lát sau mấy chiếc trực thăng quần đảo, bắn như vãi đạn xuống tòa đại sứ. Tôi đau xót, biết chắc là anh em hy sinh…

Lúc đó ông chợt nghĩ đến người em trai của mình, không hiểu đang ở hướng nào, sống chết ra sao? Người ấy chính là Trần Quốc Hương (thường gọi Mười Hương), ngày ấy chỉ huy nhóm tình báo chiến lược nội thành Sài Gòn, sau này là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương. Ông tâm sự: “Anh em tôi gặp nhau trong nhà tù Diệm – Nhu, những năm 1959 – 1964. Sau này vài lần gặp trên phố nhưng vì giữ nguyên tắc, chúng tôi không dám nhận nhau, không trò chuyện gì…”.

Gần gũi ông, tôi luôn nhận ra đức tính ấy: Nguyên tắc trong công việc; tình cảm, hòa đồng trong đời thường. Ông luôn mãn nguyện về tổ ấm yên vui, hạnh phúc của mình. Người bạn đời của ông là cựu tù chính trị Côn Đảo, đã từng là cán bộ Ban Bạn đọc Báo Sài Gòn Giải Phóng những năm sau ngày Tổ quốc thống nhất. Các con ông đều là cử nhân thành đạt.

Ngày 23-10 này, mọi người tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng. Hình bóng ông xa rồi nhưng trong lòng những chiến sĩ cách mạng cùng bà con TP Hồ Chí Minh vẫn còn mãi bác Tư Hùng thân thương, quý trọng – người từng giúp sức làm rung chuyển Sài Gòn xuân 1968.

ĐÀO VĂN SỬ

(Văn bản 2)

Chuyện hai anh em trai người tình báo chiến lược

Chủ Nhật, 18/04/2010

http://www.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=129332

http://nguyentandung.org/chuyen-hai-anh-em-trai-nguoi-tinh-bao-chien-luoc.html

Do tính chất công việc nên ông rất kín đáo, đã thế, ông lại khiêm tốn, rất ít nói về mình nên nhiều người chỉ biết ông Tư Hùng (Trần Sĩ Hùng) là một cán bộ Công an nghỉ hưu và là anh trai ông Mười Hương – Trần Quốc Hương, một nhà tình báo chiến lược, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương.

Chuyện ông Tư Hùng tham gia cướp chính quyền năm 1945, chuyện ông là một trong số 17 cảm tử quân tham gia trận đánh Đại sứ quán Mỹ Tết Mậu Thân 1968, làm chấn động nước Mỹ và nhiều chiến công khác của ông rất ít người biết đến.

Tham gia kháng chiến chống Pháp

Ông Trần Sĩ Hùng (Trần Ngọc Bái) sinh ra và lớn lên ở quê hương có truyền thống cách mạng, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, vì thế ông sớm được giác ngộ cách mạng. 16 tuổi (1937) ông đã tham gia phong trào Bình dân và Việt Minh. Năm 1942, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Việt Minh thị xã Phủ Lý.

Tháng 8/1945 đến năm 1946, ông là Trưởng ban Trinh sát Ty Liêm phóng Hà Nam, và sau là Trưởng ban Đặc vụ tỉnh ủy Hà Nam. Bằng sự thông minh, sắc sảo về nghiệp vụ, ông đã phát hiện ra âm mưu của bọn Đại Việt giả danh Mặt trận Việt Minh khởi nghĩa để tước vũ khí của lính Khố Xanh. Tương kế, tựu kế, ông khôn khéo dàn xếp và được bọn lính khố xanh đóng tại thị xã Phủ Lý hưởng ứng. Kết quả là ngày nổ ra cướp chính quyền ở thị xã Phủ Lý, toàn bộ lính Khố Xanh đồng loạt hưởng ứng theo lệnh của Việt Minh và giao nộp 200 khẩu súng cho lực lượng ta, vì thế cuộc chiến đấu đã không phải đổ một giọt máu.

Sau đó, ông chỉ huy đơn vị quét sạch hai khu trù mật của bọn Đại Việt ở Nga My (giáp Ninh Bình) và Sác Đanh. Từ đó, ông được mệnh danh là “Hổ xám” ở thị xã Phú Lý. Lúc bấy giờ, bọn địch đã treo giải thưởng một vạn đồng Đông Dương cho cái đầu của ông. Nhưng sau hai lần bị phục kích, ông đều mưu trí thoát khỏi nanh vuốt kẻ địch. Ngày 2/2/1946, ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1947, ông được Đảng tin tưởng điều động lên chiến khu Việt Bắc phụ trách công tác dân vận an toàn khu của Chính phủ. Tại đây, ông được tiếp cận và gần gũi với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng như đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt… nhưng hạnh phúc nhất vẫn là thời gian ông được phục vụ bên cạnh Bác Hồ. Những khoảnh khắc được sống bên cạnh Bác đã được ông Trần Sĩ Hùng khắc cốt, ghi tâm…

Dũng cảm, kiên định trong lao tù

Với nhận xét ngắn gọn: bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Đảng, không sợ hy sinh gian khổ, tháng 5/1955, ông được Trung ương điều động từ Nha liên lạc Cục Tình báo miền Bắc để vào miền Nam công tác với chức danh mới: Tổ trưởng tổ công tác đặc biệt, hoạt động trong vùng địch hậu thuộc Cục Tình báo, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau khi xoá hết “dấu tích” thành “dân thường”, ông trà trộn vào đoàn người xuống tàu di cư từ Bắc vào Nam.

Thời điểm những năm 1958-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn, đã thực hiện luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam để xử tử những cán bộ cách mạng. Do một số tên chiêu hồi khai báo, nên tháng 12/1959, ông bị địch bắt tại Sài Gòn. Trong suốt 5 năm giam giữ, chúng đưa ông qua nhiều trại giam như Lê Văn Duyệt, Biệt phòng khét tiếng P42, Trại giam Tân Hiệp (Biên Hoà), Tổng Nha cảnh sát Sài Gòn, nhà tù Phú Lợi… Chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ không được đã tra tấn dã man, bỏ đói, làm nhục… nhưng ông vẫn không hé răng khai nửa lời. Vì thế mà trong cùng thời gian bị giam ở biệt phòng số 2, em trai ông là Trần Quốc Hương, nhà tình báo chiến lược, chỉ huy một mạng lưới tình báo ở miền Nam, bị giam giữ chung một nhà giam, nhưng kẻ địch vẫn không hề biết.

Cũng tại biệt phòng số 2, ông và các đồng chí Hai Đông, Trưởng Ban An ninh tỉnh Cần Thơ thời kỳ chống Pháp, đồng chí Sáu Biên, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cần Thơ thành lập một chi bộ Đảng, đồng chí Hai Đông là Bí thư. Chi bộ đã nhiều lần đấu tranh chính trị với bọn ác ôn trong trại giam, đòi cải thiện chế độ lao tù. Tháng 9/1964, do không khai thác được gì, bọn địch buộc phải trả tự do cho cả 3 đồng chí cùng một số tù chính trị. Ra tù, ông Trần Sĩ Hùng lại tiếp tục móc nối với tổ chức và cơ sở cách mạng để tiếp tục hoạt động.

Cùng đồng đội đánh Đại sứ quán Mỹ năm 1968

Trưa 30 Tết Mậu Thân 1968, đồng chí Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy A.20 – Thường trực Sở chỉ huy tiền phương Biệt động thuộc Bộ chỉ huy phân khu 6 (đóng tại tiệm phở Bình đường Yên Đổ, nay là đường Võ Thị Sáu, quận 3, TP Hồ Chí Minh), đến gặp ông Tư Hùng trao đổi kế hoạch đánh Đại sứ quán Mỹ. Lúc đó, thời gian rất gấp, xe chở người và chất nổ còn thiếu, người thông thạo địa hình để dẫn đường cũng chưa có. Biết ông Tư Hùng là người có thể đáp ứng được hai điều kiện trên, đồng chí Hai Trí đề nghị ông tham gia đội cảm tử quân. Với suy nghĩ Đại sứ quán Mỹ là mục tiêu quan trọng, tấn công vào đây sẽ gây được tiếng vang lớn về mặt quân sự và chính trị của quân ta nên ông Tư Hùng nhận lời ngay.

Chiều tối mùng 1 Tết, ông Tư Hùng lái chiếc xe du lịch Douaphine màu trắng đến thẳng quán phở Bình để nắm kế hoạch tấn công. Đúng nửa đêm, sau khi lái xe chở đồng chí Ba Đen, Đội trưởng đội biệt động cùng 3 đồng chí khác đến nhà vợ chồng chị Phê trên đường Điện Biên Phủ để nhận bộc phá, rồi chạy thẳng về hướng Đại sứ quán Mỹ ở quận 1. Lúc này xe của ông dẫn đầu, đi sau là chiếc xe tải nhẹ do đồng chí Tư Thuận lái chở các đồng chí khác trong đội cảm tử. Hai chiếc xe chạy vòng quanh nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố chờ tới giờ G.

Đúng 3h sáng mùng 2, cả hai xe lao thẳng về hướng Thảo Cầm Viên rồi đỗ xịch ngay trước cổng Đại sứ quán Mỹ. Các chiến sĩ đặc công nhảy xuống ôm bộc phá áp vào tường gây nổ. Một tiếng nổ vang xé toang mảng tường bê tông, lập tức các chiến sĩ biệt động xông vào vừa đánh bộc phá vừa nã B40 vào trong toà đại sứ. Theo kế hoạch, ông Tư Hùng lái xe lao vào một đường nhỏ đối diện toà đại sứ rồi rời xe biến vào một căn nhà bỏ trống để nắm tình hình. Lúc này, tiếng nổ trong toà Đại sứ Mỹ vang lên giòn giã, chỉ 5 phút, đội biệt động đã chiếm toàn bộ 3 tầng trong toà nhà lớn, tiêu diệt gần 200 tên địch.

Sau đó, địch tập trung hoả lực phản công. Trên trời máy bay trực thăng của chúng bắn như vãi đạn và ném lựu đạn cay xuống toà nhà. Xung quanh toà nhà, xe tăng, xe bọc thép cùng lính Mỹ, lính Sài Gòn dày đặc. Vì thế, 16 chiến sĩ đặc công hy sinh. Lợi dụng lúc nhốn nháo, đồng chí Tư Hùng trốn thoát khỏi sự tầm nã của địch.

Năm 1969, do ảnh hưởng của những đòn tra tấn dã man của địch, ông Tư Hùng bị bệnh nặng, tổ chức đã đưa ông trở ra Bắc rồi đưa qua Trung Quốc, Hungary để chữa bệnh. Sau đó ông tiếp tục về nhận công tác ở Cục Bảo vệ chính trị 1-Bộ Công an cho đến khi nghỉ hưu. …

Ông Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương đã tự hào về người anh trai của mình: “Gia đình tôi tự hào là có hai người con (ông Trần Sĩ Hùng và ông Trần Quốc Hương – PV) đã cống hiến một phần công sức cho Đảng, cho đất nước. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, cả hai anh em tôi đều ở “GLA”- tên gọi tắt của Giao thông Liên lạc An toàn khu, ở Việt Bắc, chúng tôi được phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng và gần Bác Hồ. Những năm ác liệt nhất, anh em tôi vào Sài Gòn nhưng mỗi đứa mỗi nơi, mỗi người một nhiệm vụ. Có lần đang đi ở ngã 6 Sài Gòn, tôi nhìn thấy anh Tư Hùng, lúc này anh em rất muốn gặp nhau, nhưng chúng tôi lại rất giữ nguyên tắc hoạt động nên chỉ liếc mắt rồi mỗi người mỗi hướng. Đến khi cả tôi và anh Tư Hùng bị bắt tôi cũng biết, tôi biết cả tên chỉ điểm bắt anh Tư Hùng cũng tên Hùng và là một nhân viên tình báo của ta chiêu hồi. Khi anh Tư Hùng bị bắt, tôi biết mục đích của địch là dụ dỗ, tra tấn Tư Hùng để anh Tư Hùng khai ra tôi (người chỉ huy một mạng lưới tình báo chiến lược tại Sài Gòn – PV), nhưng anh Tư Hùng không khai báo. Chúng tra tấn tôi cũng hòng để khai thác về anh Tư Hùng, nhưng tôi cũng không khai báo nên chúng không biết gì về hai anh em tôi.

Anh Tư Hùng là người gan dạ, trung thực, tôi tự hào về anh tôi. Tuy nhiên, âm mưu của kẻ địch rất thâm độc, hòng ly gián giữa anh Tư Hùng với tổ chức, chúng tung hoả mù là Tư Hùng có đi lại với CIA, nên mất một thời gian để chứng minh, cộng với việc có thời gian anh Tư Hùng ở Quân đội, thời gian ở Công an nên thành tích của anh chưa được đánh giá hết. Giờ đây, Đảng và Nhà nước ta đã thấy hết công lao của anh Tư Hùng và truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là niềm tự hào của gia đình chúng tôi…”.

Ông Trần Sĩ Hùng đã về cõi vĩnh hằng. Cuộc đời 88 năm của ông, ông đã hiến trọn cho sự nghiệp Cánh mạng, mà không hề đòi hỏi gì cho cá nhân mình. Ngày 1/3 vừa qua, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định truy tặng ông Trần Sĩ Hùng, nguyên cán bộ Cục Bảo vệ chính trị I – Bộ Công an danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân để ghi nhận công lao và những thành tích xuất sắc của ông.

Nguyễn Thanh Hải

(Văn bản 3)

Nguyễn Văn Trí (1912 – 1965) (Hai Trí) http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Tr%C3%AD

Nguyễn Văn Trí (191228 tháng 09, 1965) (bí danh: Hai Trí) là Đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương, Chính Ủy Quân khu 7, Quân khu 9, Phó Chính Ủy Quân khu 8, Xứ Ủy Viên Xứ ủy Nam Bộ, Phó Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Thứ trưởng Bộ Nông trường Việt Nam.

– Tên thật: Nguyễn Văn Trí.

– Bí danh: Hai Trí

– Năm sinh: 1912 (trên giấy tờ 1913)

– Quê quán: tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).

1954, ông được phân công làm Phó Chánh Văn phòng Ban thi hành Hiệp định đình chiến Trung Ương, sau Ban đổi tên là Ban thi hành Hiệp định Giơnevơ.

– 1957, Ông Nguyễn Văn Trí được phân công làm Phó trưởng ban Thống nhất TW, ông Phạm Hùng làm trưởng Ban.[8]

… Trước tình hình đó, năm 1960, … Chính phủ chấp thuận và phân công làm Thứ trưởng Bộ Nông trường nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. …

Ông từ trần ngày 28 tháng 9 năm 1965 tại Hà Nội.

Nguyễn Văn Trí (Hai Trí)

http://dongthap.gov.vn/wps/wcm/connect/Web%20Content/dongthap/timhieudongthap/nhanvatlichsu/sitanhanvatlichsu_t/20100110+nguyen+van+tri

Tóm tắt:
Ông Nguyễn Văn Trí
Quê quán:
Năm sinh: ?
Năm mất: 1965

(Văn bản 4)

Đại Ca Của Tướng Cướp Điềm Khắc Kim

http://www.daicathay.com/gh/tu-thuan-dai-ca-diem-khac-kim.html

Ông Tư Thuận – tay giang hồ một thời lẫy lừng danh tiếng ở khu vực Ngã ba Cây Thị TP.HCM tâm sự vào lúc bạo bệnh:

…Những người lính cùng đi bảo cùng nhau bỏ trốn, Tư Thuận liền quạt: “Tao là quân tử, không phải kẻ tiểu nhơn, dám làm mà không dám chịu”. Thế là anh ung dung về trại chờ quân cảnh đến còng tay. Sau đó Tư Thuận bị xử 16 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo vào tháng 3-1974. Tháng 5-1977, Tư Thuận được chính quyền cách mạng phóng thích.

Giang hồ hoàn lương và những giọt nước mắt cuối đời

Được phóng thích trở về địa phương, Tư Thuận quyết tâm làm lại cuộc đời. Nhưng con đường hoàn lương của anh cũng lắm chông gai. Thời bấy giờ không dễ tin ngay một con người đã từng làm giang hồ chọc trời khuấy nước, dám xả súng giết người nên Tư Thuận đã gặp không ít khó khăn trên con đường tìm về nẻo thiện.

Nhà Tư Thuận gần đường ray xe lửa. Thời điểm năm 1978, 1979, việc cướp bóc trên tàu ở khu vực này thường xuyên xảy ra, Tư Thuận bị “chấm” và anh có lệnh tập trung theo chủ trương những người tù tha về phải được tiếp tục cải huấn. Ngày 17-6-1979, Tư Thuận tập trung lên Trại Tống Lê Chân.

…Giờ đây dù tuổi cao sức cùng lực kiệt, ông Tư Thuận, mà người dân địa phương thường gọi là ông Tư Búa vẫn quyết sống trọn những ngày còn lại của đời người cho thật ý nghĩa. Bởi ông đã nếm trải bao cay đắng của cuộc sống giang hồ, phung phí một đời trai trẻ mà đến bây giờ thật sự là thấy hối tiếc, thấy quý trọng từng ngày, từng giờ. Dù nay sức đã tàn, lực đã kiệt.

Theo Hoàng Thanh (Phunutoday)

(Văn bản 5)

Biệt động thành và 6 giờ đánh chiếm Đại sứ quán Mỹ tết Mậu Thân 1968

02/09/2006

http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=51225

Âm vang của trận đánh ấy đã lan toả đến hầu hết các nước trên thế giới hồi bấy giờ. Người chỉ huy trận chiến đấu ngoan cường và quả cảm ấy là anh Ngô Văn Vân, sinh năm 1925, tại thôn Hà Lương, xã Hạ Hồ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). 

 Thời chiến tranh chống Mỹ, ở Sài Gòn-Gia Định có một lực lượng mà chiến công của họ đã khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Họ là những chiến sỹ biệt động quả cảm và những chiến công của họ mãi mãi được lịch sử ghi nhận. Một trong những chiến công vang dội của lực lượng biệt động Thành Sài Gòn – Gia Định trong những năm đánh Mỹ là trận đánh vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vào mùa xuân năm 1968.

Theo anh kể thì vào những ngày giáp Tết Mậu Thân, anh đang công tác ở nội thành thì được cấp trên gọi ra ngoài căn cứ để nhận nhiệm vụ mới. Khi về tới xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng là đúng 11 giờ đêm 28/01/1968. Tại đây anh được cấp trên giao cho nhiệm vụ đặc biệt : Tổ chức một lực lượng đặc công biệt động đánh vào toà Đại sứ Mỹ.

Nhận nhiệm vụ, trở về đơn vị, anh triệu tập họp chi uỷ quán triệt và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong tổ. Theo đó anh Hai Chí – Chính trị viên, phụ trách đường dây liên lạc với các cơ sở trong nội thành, phụ trách công tác chính trị tư tưởng, phục vụ cho trận đánh. Anh Ba Dung – Chỉ huy phó, chịu trách nhiệm liên lạc với các tổ võ trang vùng nội thành và ven đô. Còn anh là chỉ huy trưởng, tiếp nhận quân số bổ sung cho đơn vị, súng đạn, thuốc nổ để kịp thời chuyển vào nội thành.

Cũng ngay tối hôm đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch tăng cường cho phân đội hai cán bộ có kinh nghiệm đánh trong thành phố (đồng chí Bảy Tiến và đồng chí út Nhỏ) cùng một số chiến sĩ ở các đơn vị được tuyển chọn tham gia trận đánh. Hoàn tất công việc chuẩn bị thì cũng là lúc cấp trên ra lệnh: “Đúng 12 giờ trưa ngày 30/01/1968, toàn phân đội phải tập trung tại điểm hẹn trong nội thành”.

Theo kế hoạch sáng 30-01, cán bộ chiến sĩ dậy sớm, tắm giặt, sửa sang đầu tóc, liên hoan mừng xuân mới. Mọi người mặc sắc phục, đeo phù hiệu của một binh chủng quân đội Nguỵ. Mọi công việc chuẩn bị đã xong, tất cả phân đội lên chiếc xe nhà binh do đồng chí Ba Bảo lái vào thành phố đi trên Quốc lộ1. Đến 11 giờ 30 phút tới trạm gác Củ Chi, đồng chí Ba Bảo cho xe tăng tốc vượt qua. Cùng lúc đó, đồng chí Huệ phát hiện có một tên phóng Honda đuổi theo xe của ta.

Đồng chí Huệ cũng nhận ra mặt hắn, là một tên chiêu hồi. Hắn cũng nhận ra mặt đồng chí Huệ trên xe, liền vượt lên trước để đón lõng ở trạm gác Cầu Bông. Thấy vậy, Anh Vân lệnh quay xe lại tạm ém quân vào Bào Mây, và liên lạc với đồng chí Bảy Hoàng, đang lái chiếc xe Jép, từ Sài Gòn ra. Để lừa địch, toàn phân đội lần nữa phải thay sắc phục binh chủng khác rồi tiến thẳng vào Sài Gòn, anh Vân ra lệnh: Trên đường đi gặp địch cản trở, sẽ nổ súng tiêu diệt để vượt qua!

2 giờ chiều thì tới thành phố, toàn phân đội phân tán từng nhóm về nhà các cơ sở. Ngay tối hôm đó, các mũi tập kết tại nhà bà Huệ, chủ ga-ra sửa chữa xe hơi ở đường Phan Thanh Giản. Anh Vân cùng đồng chí hai Chí, lái chiếc xe Pơ-dô 208 màu trắng đến Đại lộ Thống Nhất để tiếp cận mục tiêu, quan sát địa hình. Sơ đồ phía trong toà Đại sứ đã có anh em tình báo quân sự cung cấp.

Toàn bộ vũ khí, đạn dược được tập kết về ga ra ôtô nhà bà Huệ. Lúc 12 giờ rưỡi đêm tại trụ sở chỉ huy chiến dịch ở quán phở Bình số 7 đường Yên Đỗ, anh Vân được báo cáo với đồng chí Ba Thăng – Chính uỷ (tức đ/c Võ Văn Thạch) và đ/c Tư Chu – Chỉ huy trưởng (tức đ/c Đại tá Nguyễn Đức Hùng), các đ/c động viên căn dặn phân đội quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

3 giờ sáng, toàn phân đội xuất phát theo kế hoạch. Xe ôtô chở đội biệt động  tới cổng toà Đại sứ, hai chiến sĩ cầm AK nhanh chóng lao xuống quét nhiều loạt đạn tiêu diệt gọn mấy tên lính Mỹ gác ở cổng chính, đồng thời kìm chế những tên còn lại. Hai đồng chí khác ôm bộc phá xông lên, đánh sập tường rào vọng gác. Toàn phân đội tràn vào đồng loạt nổ súng để áp đảo. Sau đó, họ chia làm ba mũi, mũi một chiếm giữ cổng trước, mũi hai đánh giữ cổng sau (phía đường Mạc Đĩnh Chi), còn mũi thứ ba đánh thẳng vào dãy nhà nhân viên hành chính.

Anh Vân trực tiếp chỉ huy số anh em còn lại, đánh thẳng vào khu nhà chính. Hoàn tất các việc trên, đồng chí út Nhỏ và hai đồng chí án ngữ tầng một và giữ số tù binh ta vừa bắt được. Anh Vân cùng mấy đồng chí khác đánh chiếm tầng hai, bắt thêm được một số tù binh Mỹ, rồi thừa thắng xông lên đánh chiếm tầng ba. Chỉ trong khoảng năm phút, quân ta đã làm chủ tầng ba một cách dễ dàng, mau lẹ, thu rất nhiều súng đạn và bắt gửi thêm một số tù binh. Kẻ địch ở thế bị động hoang mang bối rối. Vợ con lính Mỹ và số nhân viên hành chính gào khóc thảm thiết.

Khoảng nửa giờ sau, địch bắt đầu có chi viện từ bên ngoài, phản kích lại. Ngoài đường tiếng xe bọc thép chạy gầm rú và bắn như đổ đạn về phía quân ta. Chiến sĩ ta vừa chiến đấu vừa khiêng tủ, bàn ghế chất lên tạo thành chướng ngại vật phòng ngự. Trong khoảnh khắc, từ các nhà tầng bên cạnh, lính Mỹ đã kéo đến. Máy bay lên thẳng đỗ trên các nóc nhà để chở vợ con lính Mỹ chạy trốn. Còn xe bọc thép thì vây kín toà Đại sứ, tạo thành thế bao vây dưới đánh lên, trên tầng đánh xuống.

Cũng trong thời điểm này, tại phía cổng phụ (đường Mạc Đĩnh Chi) và khu nhà nhân viên toà Đại sứ, có hàng trăm lính Mỹ, đầu đội mũ sắt, mình mặc áo giáp, tay cầm tiểu liên R15 dàn đội hình chiến đấu. Theo sau là mấy chục phóng viên báo chí cũng đội mũ sắt, cầm máy ảnh, máy quay phim chạy đi chạy lại. Một số tù binh vừa bắt được đã chạy ùa lên cả tầng ba. Anh Vân chỉ cho chúng vào một phòng rồi khóa lại. Tình thế càng trở nên rất khẩn trương, anh Vân vẫn chỉ huy mũi chính tấn công truy kích địch. Hai đồng chí Vinh và Mang đem theo hai súng B40.

Còn anh cầm AK đi đầu lùng sục khắp các phòng nhà trên tầng ba tìm bắt đại sứ Mỹ, nhưng hắn đã nhanh chân chạy ra đường hầm tẩu thoát. Tới một phòng cửa đóng chặt, anh Vân bắn tiểu liên vào ổ khoá mà cửa vẫn không mở. Thấy vậy, đồng chí Vinh buộc phải dùng B40 để phá cửa. Tiếng nổ vang dội, cả một mảnh tường sập đổ. Đồng chí Vinh anh dũng hy sinh. Anh em khiêng đồng chí đặt nằm ngay ngắn bên cạnh khẩu B40 không còn đạn. Anh Vân cởi chiếc áo sơ mi đang mặc đắp lên người đồng đội thân thiết.

Xong việc anh và đồng chí Mang tiếp tục đi truy tìm tên Đại sứ. Lúc này trời bắt đầu sáng rõ, đồng hồ chỉ 7 giờ 15 phút sáng ngày 31/01/1968, Phân đội đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ, đánh chiếm giữ nhiều giờ toà Đại sứ. Để tái chiếm lại tòa đại sứ, địch đã phản kích lại điên cuồng, kể cả việc thả chất độc hoá học gây ngạt thở. Hai tốp lính xông tới định bắt sống các anh nhưng đ/c Mang đã kịp thời bắn quả B40 tiêu diệt chúng. Song đáng tiếc, chỉ mấy phút sau, đ/c Mang cũng hy sinh.

Nhìn đồng hồ, lúc này là 9 giờ sáng, anh nhẩm tính đã cùng đồng đội chiếm giữ toà Đại sứ Mỹ được gần 6 tiếng đồng hồ. Thấy xung quanh không còn tiếng súng của quân ta, thoáng một ý nghĩ rất táo bạo; anh ôm gói bộc phá bò áp sát chân tường cầu thang, chờ đám lính Mỹ từ tầng trên kéo xuống, rồi lao ra giật nụ xoè. Một chớp lửa xanh loé lên, tiếng nổ vang dội. Những tên lính Mỹ tung lên rơi xuống, anh Vân cũng văng ra xa và ngất lịm.

Hai ngày sau anh mới tỉnh dậy, toàn thân băng bó, nằm trong nhà thương Chợ Quán. Tiếp sau là những ngày anh phải trải qua tra tấn, đánh đập dã man. Bọn địch đã dùng nhiều thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ chiêu hồi cũng không làm anh nao núng. Từ tháng 7 năm 1969 chúng giam anh ở Biên Hoà rồi đầy anh ra giam giữ ở nhà tù đảo Phú Quốc. Tháng 10 năm 1973 được phía Mỹ trao trả tù binh, anh về nhận công tác ở Bộ Tư lệnh Đặc công cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Ngọc Minh

Biệt động Sài Gòn-Gia Định xuân Mậu Thân 1968

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/qphong-aninh/…/25527.html

23-01-2008 – Biệt động Sài Gòn-Gia Định là lực lượng đặc biệt tinh nhuệ ra đời trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, lực lượng đã bám trụ…

(Văn bản 6)

Biệt động Sài Gòn-Gia Định xuân Mậu Thân 1968

0More Sharing Services

05:55 | 22/08/2013

http://vndefence.info/tin/ho-so/657/biet-dong-sai-gon-gia-dinh-xuan-mau-than-1968/

Biệt động Sài Gòn-Gia Định là lực lượng đặc biệt tinh nhuệ ra đời trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, lực lượng đã bám trụ, chiến đấu trong lòng đô thị Sài Gòn, đã làm nên những trận tấn công vang dội như trận Thị Nghè, Phú Thọ Hòa, Majestic, Metropol, Caraven, Brink, tòa Đại sứ Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất…
Đặc biệt trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, Biệt động Sài Gòn-Gia Định đã lập nên chiến công thần kỳ, làm chấn động trong nước và thế giới, gây kinh hoàng cho quân xâm lược và bè lũ tay sai. Nhân kỷ niệm 40 năm Xuân Mậu Thân 1968, chúng tôi đã tìm gặp những chiến sĩ biệt động năm xưa.

Biệt động Sài Gòn-Gia Định 40 năm trước

Hạ tuần tháng 12-1967, công tác chuẩn bị bí mật, khẩn trương trên các mũi đã hoàn tất. Thời điểm này lực lượng địch ở miền Nam có 468 nghìn quân Mỹ, 57 nghìn quân chư hầu, 650 nghìn quân ngụy. Tổng cộng trên một triệu quân. Riêng nội đô Sài Gòn, tổng quân số phòng thủ trước Tết Mậu Thân tương đương 4 sư đoàn Mỹ; 4 sư đoàn ngụy; 8 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ; 1 tiểu đoàn an ninh Biệt khu; 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát và cảnh sát dã chiến; hàng vạn khóa sinh quân sự; hàng nghìn thanh niên chiến đấu và nhiều đơn vị cơ giới của các binh chủng ngụy.

Đúng 23 giờ 30 phút ngày 30-1-1968, tức đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân, tại sở chỉ huy tiền phương số 7 đường Yên Đổ (đường Lý Chính Thắng ngày nay), đồng chí Võ Văn Thạnh, Chính ủy phân khu trịnh trọng đọc lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu), chỉ huy lực lượng Biệt động phổ biến giờ G, giao nhiệm vụ cho các đơn vị xung kích tấn công các mục tiêu đầu não của Mỹ, ngụy.

Tại dinh Độc Lập, 1 giờ 30 phút, đội 5 gồm 15 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Tô Hoài Thanh chỉ huy, xuất phát từ số nhà 280/70 Phan Đình Phùng, đi trên 3 xe hơi loại nhỏ và một xe hon-đa, nổ súng tấn công dinh Độc Lập. Một số chiến sĩ thọc sâu vào trong khuôn viên, hai đồng chí hy sinh, một đồng chí quay ra bị địch bắn bị thương, buộc phải triển khai chiến đấu trên đường Nguyễn Du. Trận chiến đấu càng ác liệt, đến gần sáng, toàn đội hy sinh 7 đồng chí, trong đó có đội trưởng Tô Hoài Thanh, 8 đồng chí còn lại thì phân nửa bị thương đành rút vào nhà dân, cố thủ trên lầu 3 chiến đấu. Tuy đói và mệt nhưng các chiến sĩ ngoan cường chiến đấu suốt ngày 31-1, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt hàng chục tên. Đồng chí Lê Tấn Quốc làm nhiệm vụ chốt chặn địch từ trên nóc đánh xuống, trúng đạn hy sinh. Đến 3 giờ sáng ngày 1-2-1968, 7 đồng chí còn lại do đói khát và kiệt sức, tất cả rơi vào tay giặc.

1 giờ 45 phút, đội biệt động 11 gồm 17 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Ngô Thành Vân (Ba Đen) chỉ huy, xuất phát từ nhà số 59 Phan Thanh Giản trên 2 xe du lịch, dùng bộc phá đánh thủng mảng tường sát gần lô cốt góc đường Thống Nhất-Mạc Đĩnh Chi đột nhập vào khuôn viên Đại sứ quán Mỹ, đánh chiếm từ tầng 1 đến tầng 3. Từ 3 đến 4 giờ sáng, lực lượng hỗn hợp Mỹ, ngụy phản kích, dùng hỏa lực mạnh từ cao ốc bắn sang. Lúc 5 giờ sáng, sư đoàn dù 101 đổ quân bằng trực thăng xuống sân thượng tòa nhà. Bị ta bắn dữ dội, chúng không thực hiện được. 7 giờ sáng, quân cảnh Mỹ mang mặt nạ phòng độc xông vào cổng chính. Gần 8 giờ, trực thăng mới đổ quân được và đánh từ sân thượng xuống bằng hỏa lực và cả hóa học. Từ trên lầu, địch quăng xuống từng chùm lựu đạn, ta bị thương và hy sinh gần hết. Đến 9 giờ, địch tràn ngập Đại sứ quán Mỹ, chỉ còn một mình đồng chí Ba Đen, bị thương. Bọn lính Mỹ xuống cầu thang, đồng chí Ba Đen lấy hết sức lực cuối cùng giật nụ xòe trái thủ pháo cướp của địch, nhưng không đủ sức ném ra xa. Thủ pháo nổ, tất cả chìm trong khói lửa và đồng chí ngất đi. Ba Đen bị địch bắt, đồng chí là nhân chứng duy nhất còn lại của trận đánh Đại sứ quán Mỹ Tết Mậu Thân 1968.

Đội biệt động 4 gồm 12 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Năm Lộc chỉ huy, xuất phát từ tiệm may Quốc Anh, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm nổ súng tấn công đài phát thanh lúc 1 giờ 59 phút. Địch chống trả quyết liệt, đồng chí Năm Lộc bị trọng thương và hy sinh. Tốp chạy bộ chiếm lĩnh ngã ba Nguyễn Bỉnh Khiêm-Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu ngày nay), yểm trợ cho bộ phận xung kích đánh chiếm mục tiêu. Sau 3 phút, ta chiếm được đài phát thanh. Các chiến sĩ biệt động kiên cường chiến đấu, chống trả quyết liệt với bộ binh, thiết giáp và máy bay địch, giữ vững trận địa được 4 giờ 31 phút. Hơn 6 giờ sáng, thủy quân lục chiến và thiết giáp địch bao vây đài phát thanh dày đặc. Trước tình huống vô cùng khó khăn, hai đồng chí còn lại dùng khối thuốc nổ 20kg phá hủy đài và anh dũng hy sinh, kết thúc trận đánh.

Đội biệt động 3 gồm 16 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Văn Lém (Bảy Lớp) chỉ huy, hành quân bằng hai xe ô tô hiệu Simca và Peugeot nổ súng tấn công Bộ tư lệnh Hải quân ngụy lúc 1 giờ 50 phút. Chiếc Peugeot lao vào Bộ tư lệnh Hải quân khiến địch không kịp trở tay. Tổ bộc phá đánh sập lô cốt đầu cầu. Địch chống trả quyết liệt, kể cả bọn dưới sông dùng tiểu pháo 120 và 12,7mm bắn lên tới tấp. Các chiến sĩ biệt động cực kỳ dũng cảm, người trước ngã, người sau lao tới tiêu diệt địch. Đến 6 giờ sáng toàn đội hy sinh gần hết, chỉ còn lại hai đồng chí Mười Lời và Hai Liễn vượt sông Sài Gòn rút về căn cứ Thủ Đức.

Cụm biệt động 679 gồm 27 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Đỗ Tấn Phong chỉ huy, cơ động trên hai xe hơi, hình thành hai mũi tấn công vào cổng số 4 Bộ Tổng tham mưu ngụy. Địch chống trả điên cuồng, cả hai mũi đành phải trụ bên ngoài để chiến đấu. Trời sáng, địch huy động cả bộ binh lẫn thiết giáp, có máy bay yểm trợ, liên tục phản kích. Ta đánh lui nhiều đợt phản kích suốt ngày 31-1 (mồng 2 Tết), một số đồng chí còn lại chiến đấu đến viên đạn cuối cùng mới sa vào tay giặc lúc 9 giờ ngày mồng 3 Tết. Ở cổng số 5, tiểu đoàn 2 Gò Môn phối hợp với cụm 679 nổ súng đánh thẳng vào Bộ tổng tham mưu ngụy, trận đánh ác liệt đến 20 giờ, tiểu đoàn 2 phải rút ra ngã 5 Bình Hòa.

Các lực lượng khác trong Mậu Thân 1968

Phối hợp với các đội biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn của thành phố, các đơn vị chủ lực Miền và các phân khu phối thuộc trên các hướng dồn dập tấn công địch ở các phân khu.

Hướng Tây Bắc, tiểu đoàn 16 đánh thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất, căn cứ pháo binh Cổ Loa, thiết giáp Phù Đổng. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Cùng thời gian này, trên địa bàn phân khu 1, Sư đoàn 9 tấn công vào quân trường Quang Trung và đến Ngã tư Bảy Hiền.

Hướng Tây, Tây Nam, phân khu 2, các tiểu đoàn 268, tiểu đoàn 123 đặc công, tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, bám trụ tại hãng Vinatexco, cầu Tham Lương.

Hướng phân khu 3, các tiểu đoàn Long An tấn công quân địch tại quốc lộ 4-5, thọc sâu đến cầu Nhị Thiên Đường, phường Chánh Hưng, rượu Bình Tây, phát triển qua Minh Phụng, trường đua Phú Thọ.

Hướng phân khu 4, phân khu 5, các tiểu đoàn Dĩ An, Phú Lợi, tiểu đoàn 4 thành phố, đoàn 10 đặc công thọc sâu vượt sông đánh cầu Sài Gòn, Bình Lợi, Bình Quới, đánh vào ngã tư Hàng Xanh, khu Thị Nghè.

Tiểu đoàn 6 Bình Tân, từ Tây Nam thọc sâu vào thành phố đến tận khu vực vườn Lài, ngã Bảy, Lý Thái Tổ, quận 10, hỗ trợ quần chúng làm chủ khu vực này nhiều ngày. Phá hủy cơ sở thông tin, chiêu hồi ở đường Trần Nhân Tông, tấn công tiểu đoàn ngụy.

Lực lượng vũ trang Hoa vận đã vận động quần chúng làm chủ các khu vực chợ Thiếc, Lò Gạch, Lò Gốm, Lò Siêu, Minh Phụng, Bình Thới và một số khu vực ở đường Nguyễn Trãi, Nguyễn Huỳnh Đức, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa diệt nhiều ác ôn, cảnh cáo nhiều phần tử tay sai địch.

Những điều trăn trở

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thanh bình, chấp hành ý kiến chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Miền đã giải quyết chính sách và cho ra quân khá nhiều cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng quân sự khác nhau, trong đó lực lượng biệt động Sài Gòn-Gia Định được giải thể. Tháng 7-1976, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh Miền hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao cho. Việc giải thể này là một chủ trương đúng đắn nhằm thực hiện sự thống nhất chỉ đạo mang tính xuyên suốt từ Trung ương xuống các lực lượng vũ trang và các địa phương. Tuy nhiên, việc giải thể này đã dẫn đến nhiều cán bộ, chiến sĩ được ra quân, chuyển ngành rơi vào lúng túng, lo lắng, bối rối… Nhiều đồng chí bị hụt hẫng vì chưa chuẩn bị kịp về mặt tâm lý và bị động khi bước vào cuộc sống dân sự, chưa kịp chuẩn bị đủ điều kiện để hội nhập với đời sống mới, nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Các đơn vị tham gia trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đều bị thiệt hại nặng. Ngoài số hy sinh tại chỗ, số còn lại phần lớn bị địch bắt, tù đày. Lúc đó Bộ chỉ huy phân khu 6 (nội đô) thiếu điều kiện chính xác để khen thưởng. Vào năm 1982, các đồng chí lãnh đạo cũ của Quân khu Sài Gòn-Gia Định tập hợp anh em lại thành Câu lạc bộ Truyền thống Biệt động Thành để giúp đỡ nhau về vật chất lẫn tinh thần. Cũng thông qua đó phản ánh lên cấp trên giải quyết những tồn đọng về chính sách đối với những người đang sống và đã khuất. Đồng chí Nguyễn Văn Linh lúc ấy là Ủy viên Bộ Chính trị-Bí thư Thành ủy rất ủng hộ Câu lạc bộ, chính quyền thành phố ra quyết định công nhận. Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến TP Hồ Chí Minh, Khối vũ trang biệt động Quân khu Sài Gòn-Gia Định gồm 18 đầu mối gồm các cựu chiến binh thuộc các đơn vị biệt động, các tiểu đoàn độc lập, các đơn vị địa phương hoa vận, đơn vị bảo đảm chiến đấu, thành đoàn, ban công tác 18 và trường thiếu sinh quân, với 2.200 hội viên. Trong những năm qua CLB đã vận động xây dựng được 59 căn nhà tình nghĩa cho các hội viên khó khăn, tổ chức thăm nom các hội viên bị ốm đau, các mẹ Việt Nam anh hùng. Hằng năm CLB đều có cuộc họp mặt truyền thống, thăm hỏi động viên nhau giữ vững bản chất anh Bộ đội Cụ Hồ, giao lưu với các đơn vị bạn và nói chuyện truyền thống, giáo dục thế hệ trẻ tại cơ quan và trường học. Nhiều hội viên đã cung cấp tài liệu, viết hồi ký, góp phần biên soạn sử Biệt động thành phố. Tuy nhiên, điều trăn trở nhất với Ban chủ nhiệm CLB cũng như Đại tá Tư Chu, chỉ huy trưởng lực lượng biệt động xưa là việc khen thưởng bổ sung các đơn vị biệt động trong đợt tấn công Tết Mậu Thân. Năm 2004, CLB đã cùng chính quyền địa phương các cấp đề nghị lên trên và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã có công văn số 471/UB-VX đề nghị Bộ Quốc phòng truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 5 tập thể và 7 cá nhân thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Song đề nghị đó đến nay chưa được thực hiện. Nên chăng trong dịp kỷ niệm 40 năm Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, các cơ quan chức năng xét khen thưởng bổ sung cho lực lượng biệt động Sài Gòn?

Đánh giá về lực lượng biệt động, cố Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã nhận định: “Đây là một sáng tạo về hình thức tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng, gọn nhẹ, bí mật, linh hoạt, nằm trong dân, hòa vào dân, thường xuyên hoạt động trong lòng địch. Khác với lực lượng tình báo trinh sát, biệt động là lực lượng chiến đấu, thường đánh đòn hiểm, táo bạo, bất ngờ vào cơ quan đầu não và các mục tiêu quan trọng ở các đô thị. Lực lượng biệt động ra đời từ kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là ở Sài Gòn-Gia Định. Sự ra đời và phương thức hoạt động của lực lượng biệt động đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân là nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 bằng tinh thần dũng cảm vô song “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, lực lượng biệt động đã mở đầu xuất sắc cuộc tiến công ở Sài Gòn và các đô thị, gây chấn động lớn, có thể nói đã lập công đầu”.

40 năm đã trôi qua, kể từ Mậu Thân 1968, nhìn lại chặng đường lịch sử chúng ta càng tự hào về lực lượng Biệt động Sài Gòn, mà máu của họ đã thấm sâu trên từng viên đá, trên từng đường phố thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, sự hy sinh dũng cảm của họ đã dựng lên tượng đài bất tử Mậu Thân.

ĐOÀN HOÀI TRUNG

2 thoughts on “Bài 3. “Anh trai” Mười Hương – cũng là một “Siêu tình báo” – cũng kể chuyện … Láo! Và khuôn mặt “anh em ruột” không giống nhau”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s