Phụ bài 3. Diệt khẩu 2 cha con người em trai ruột Lâm Đức Thụ, cùng các cháu cũng là kỳ cựu Cộng sản thời Nguyễn Ái Quốc – Đào phá mộ phần

  1. Cả mấy chú cháu đều là kỳ cựu Cộng sản thời Nguyễn Ái Quốc.

“…Nguyễn Công Thu vẫn được anh em, đồng chí gọi bằng tên thân mật Ba Thu. Ông sinh năm 1894, kém Bác Hồ 4 tuổi. Là cháu nội của danh nhân Nguyễn Mậu Kiến …

Ngay từ hồi còn nhỏ, Bác Hồ cũng đã có dịp được cha cho tới thăm gia đình họ Nguyễn này. Thuở nhỏ, Ba Thu được cha cho học cả chữ Nho và chữ Pháp. 19 tuổi (1913) Ba Thu đã lập gia đình, nhưng không vì thế mà nguội đi ý chí yêu nước và lòng quyết tâm đi tìm cách mạng trong anh. Năm 1925, Ba Thu cùng hai người cháu là Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Thọ lấy trộm tiền của anh ruột được 32 đồng rồi tìm đường sang Quảng Châu, Trung Quốc. Chính ba Thu, cùng với Trần Phú dự lớp huấn luyện đầu tiên ở Quảng Châu do giảng viên Nguyễn Ái Quốc giảng dạy. Sau khi lớp học mãn hạn, Ba Thu cùng người cháu là Nguyễn Danh Thọ được Bác Hồ cử về nước tuyển chọn các thanh niên yêu nước, tuyên truyền cách mạng và đưa sang Trung Quốc…” (Văn bản 1)

  1. Văn bản Đảng CS VN hiện nay xác nhận Nguyễn Công Thu đã tuyển dụng Phạm Văn Đồng

“…Khoảng nửa sau năm 1926, Phạm Văn Đồng được gặp Nguyễn Công Thu, một thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đang nhận nhiệm vụ về Bắc Kỳ tìm chọn người gia nhập Hội và sang dự lớp học lý luận chính trị ở Quảng Châu. Với sự giới thiệu của Nguyễn Công Thu, Phạm Văn Đồng đã quyết định gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sang Quảng Châu tham dự lớp huấn luyện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Theo tuyến Hà Nội – Lạng Sơn – qua Long Châu, Nam Ninh (Quảng Tây) – Quảng Châu, với sự dẫn đường của Nguyễn Công Thu, Phạm Văn Đồng cùng một số thanh niên khác đã đến được Quảng Châu. ” (Văn bản 3)

Trong 5 chuyến đi về Quảng Châu – Hà Nội – Quảng Châu, Ba Thu đã tuyển chọn và dẫn đường cho 200 thanh niên trẻ, có trình độ sang cho Tổng bộ và Bác Hồ ở Quảng Châu, trong số này có rất nhiều người trở thành lãnh tụ cao cấp của Đảng như Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Trịnh Đình Cửu, Lý Hồng Nhật, Đỗ Ngọc Du… Ba Thu cũng là người đầu tiên đưa cuốn “Đường Cách Mệnh” của Bác Hồ về nước” (Văn bản 1)

  1. Hai người cháu như là mất tích – Chỉ một người cháu được sử nhắc tên.

“Nguyễn Danh Ðới (1905 – 1943) người xã Vũ Trung (cháu 4 đời danh nhân Nguyễn Mậu Kiến), bí thư kỳ bộ thanh niên đầu tiên ở Bắc Kỳ, tham gia sáng lập Ðảng cộng sản Ðông Dương… ” (Văn bản 2)

Hai người cháu mất tích: “hai người cháu là Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Thọ ” (Văn bản 1)

  1. Người con gái của Nguyễn Công Thu – bị giết như là bị diệt khẩu vậy.

“…Khi giặc Pháp tái chiếm Thái Bình, lại thêm một cái tang nữa đến với ông, người con gái út mà ông rất cưng chiều, làm du kích xã đã trở thành liệt sĩ trong một trận chống càn. Bọn Pháp đã bắn chết con ông ngay trước ngõ đầu nhà ông. ” (Văn bản 1)

Nhận xét: Có thật người con gái này bị “Bọn Pháp đã bắn chết ”?

Ở Việt Nam thời này, có nhiều tình huống giống như vậy, như vợ cụ Bùi Bằng Đoàn – mẹ Bùi Tín cũng bị “Bọn Pháp đã bắn chết ”… rồi chuyện Pháp – Mỹ thảm sát Mỹ Lai… Phải chăng là đúng Pháp – Mỹ?

Sự thật là gì?

Ta cần biết: Những cái chết đó có lợi cho bên nào?

Ta cần biết: Hồ đã dùng rất nhiều quân bí ẩn Da Trắng giống Pháp – Mỹ, da vàng giống Nhật (Vài ngàn quân) – và những người đó phần nhiều đã chết một cách bí ẩn! Chính là họ đã đóng giả Pháp – Mỹ để hành sự!

Đó chính là: Hồ đã thuê bọn du thủ du thực da trắng mà đóng giả Pháp vậy!

(Xem thêm tại Quyển 20. Thuê người da trắng đóng giả Pháp – Mỹ thảm sát Đồng Bào rồi đổ cho Pháp Mỹ sau đó thì giết họ.)

Ta cần bết: Bí ẩn về Nguyễn Công Thu như sau:

  1. Mộ nhà Lâm Đức Thụ bị đào phá: “án Kiến và dòng họ là đại địa chủ nhiều đời.

“……Vừa qua, để viết bài này, tôi có về lại Động Trung, đến từ đường họ Nguyễn Mậu Kiến. Thợ đang xây mới bia tưởng niệm cụ Kiến. Họ khắc lại văn bia Mão Sơn của Phan Bội Châu. Năm 1971, mộ, bia Mão Sơn bị đào phá vì lý do án Kiến và dòng họ là đại địa chủ nhiều đời! ….” (Văn bản 4)

(Xem Mộ nhà Phan Bội Châu – Quyển 5, Phan Đăng Lưu – quyển 4…)

  1. Người dưới đây có phải nhân vật nguyên là sếp của Phạm Văn Đồng?

– Là Hồng Xuân.

“Vào dạo miền Nam chưa giải phóng, một hôm, Hồ Chủ tịch tới thăm luật sư Trịnh Đình Thảo ở số 9 Nguyễn Đình Chiểu (nguyên là nhà khách của Bộ Ngoại giao). Người ra mở cổng là một ông già đã gần 70. Ngắm nhìn ông già một lát, bỗng Bác Hồ kêu lên: Ô kìa, Hồng Xuân, sao anh làm gì ở đây thế này?” (Văn bản 1)

– Hiển hách:

“Năm 1925, Ba Thu cùng hai người cháu là Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Thọ lấy trộm tiền của anh ruột được 32 đồng rồi tìm đường sang Quảng Châu, Trung Quốc. Chính ba Thu, cùng với Trần Phú dự lớp huấn luyện đầu tiên ở Quảng Châu do giảng viên Nguyễn Ái Quốc giảng dạy. ” (Văn bản 1)

– Bị nghi “là Quốc Dân Đảng, là mật thám của Pháp.”

“Cuộc đời đúng là chả ai thuộc được chữ ngờ. Vào đúng lúc đó, bi kịch xảy ra, ông bị người ta vu cho là Quốc Dân Đảng, là mật thám của Pháp trà trộn vào hàng ngũ Đảng để phá hoại Đảng, bị cùm chân và chuẩn bị phải ra Tòa án lưu động để lĩnh án tử hình… ” (Văn bản 1)

– Là người “trông nom, quét dọn nhà cửa.”

“Tại Thủ đô, có nhiều lý do mà người viết chưa tiện nêu ra, ông được bố trí làm người trông coi các nhà khách của Bộ Ngoại giao. Nhiệm vụ của ông là đến ở các khách sạn khi chưa có khách, trông nom, quét dọn nhà cửa với mức lương 44 đồng/tháng. ” (Văn bản 1)

– Và “Đám tang ông sơ sài hơn cả một người bình dân.”

“Thế rồi ông ra đi thật, vào năm 1976, khi tròn 82 tuổi. Đám tang ông sơ sài hơn cả một người bình dân. Hai con ông chỉ làm công nhân bình thường, còn hai người khác thì một là liệt sĩ, một ” (Văn bản 1)

  • Và …

“Cho tới khi bài viết này ra đời, là khi vị tiền bối tròn 106 tuổi, thì trong “Phiếu cán bộ” của ông Nguyễn Công Thu đề “Hoạt động cách mạng trước tháng 8/45”, các phần: chức vụ, lương chính, khen thưởng… đều bỏ trống. Ông vẫn chưa được nhận một danh vị nào kể cả một tấm huân chương hay bằng Tổ quốc ghi công.” (Văn bản 1)

Nhận xét: Người cuối đời như trên thì có thể nào là xếp của Phạm Văn Đồng? Bạn chiến đấu của “Bác Hồ”?

Xin thưa, theo một logic bình thường thì bạn chiến đấu của sếp cộng sản thì chỉ có 2 loại: Loại 1: Hiển hách và loại 2: Phản động, khi đã bị quy là Phản Động thì không thể trở về thành dân thường như trên được nữa!

Ở đâu Ba Thu lại còn là bạn chiến đấu của “Bác Hồ”, em ruột kẻ “Phản bội” Nguyễn Công Viễn thì sẽ càng không thể là người có phần cuối đời như trên!

Tới tận năm 1971 thì dòng họ này vẫn còn bị án: “án Kiến và dòng họ là đại địa chủ nhiều đời.”! Thì Nguyễn Công Thu sẽ càng không thể là người có phần cuối đời như trên!

Ấy vậy mà người ta vẫn có “Nguyễn Công Thu: Đi tìm lý tưởng. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Thái Bình xuất bản năm 1969” thì quả thật là quá tài. (Xem thêm Bài 5. Sự Thật tài liệu: “Nguyễn Công Thu: Đi tìm lý tưởng.”. – Quyển: Sự thật về Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam – Lịch sử đảng… lừa.)

Vậy người trên là ai?

Ông ta là Xuân Hồng!

Sự thật là: Bọn quỷ muốn viết lại Lịch Sử Đảng CS VN, nên bọn quỷ đã “Nhờ” các vị tiền bối đứng tên viết Hồi ký – vậy là 1969 Hồi ký: “Nguyễn Công Thu: Đi tìm lý tưởng” đã ra đời, không lẽ lại công khai là tác giả của nó đã bị giết từ năm 194..? Nên sau 1976 người ta đã gán cho ông Xuân Hồng – Một người “trông nom, quét dọn nhà cửa ” – đã chết năm 1976 cái tên hiển hách như trên!

Sau khi ông ta chết người ta đã gán cho ông Xuân Hồng là Nguyễn Công Thu hiển hách (Như một hóa đơn thanh toán công việc – ở đây là việc trả lời Nguyễn Công Thu đâu rồi?)

Còn cả gia đình Nguyễn Công Thu hiển hách thì đã chết cùng với người anh “Phản bội” của mình rồi! “Năm 1971, mộ, bia Mão Sơn bị đào phá vì lý do án Kiến và dòng họ là đại địa chủ nhiều đời!” (Văn bản 4)

Thế mới thật là:

Số 2 hiển hách ông ơi

                        Một dòng họ lớn bây giờ tan hoang

Em ruột số phận thảm thương

                        Giết rồi bảo đó là ông Xuân Hồng

                        Kỳ cựu cộng sản 30

                        “trông nom, quét dọn” – đau lòng không dân?

                        Con cháu số phận thảm thương

                        Kỳ cựu mất tích – đau lòng không dân?

  1. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

http://vietbao.vn/Phong-su/Nguoi-tu-tu-dac-biet/20171266/263/

Người “tử tù” đặc biệt

(29/6/2004)

http://www.ndcsa.com/oopnuke.asp?module=news&do=t&id=3075&fid=83

“Vị lão thành Cách mạng không huân chương”

Tags: Ba Thu, Bác Hồ, Thái Bình, Nguyễn Công Thu, Quảng Châu, Hải Dương, Phạm Văn Đồng, án tử hình, bộ ngoại giao, cách mạng, Của ông, cuộc đời, đồng chí, người ta, Hà Nội, tiền

Đồng chí Phó bí thư tỉnh ủy Thái Bình trong lễ tưởng niệm danh nhân Nguyễn Mậu Kiến (ông nội của Nguyễn Công Thu) tại Quốc Tử Giám đã khẳng định rằng “Những đóng góp của đồng chí (tức Nguyễn Công Thu PV) cho cách mạng Việt Nam là rất quý giá và to lớn”. Vâng, công lao của vị tiền bối cách mạng này, gần đây mới được nhìn nhận và biết đến, song, còn cuộc đời của ông thì hầu như chưa mấy ai tỏ tường. Thật may, tôi được một nhà sử học bật mí và lao vào tìm hiểu, càng tìm càng thấy ngỡ ngàng tới mức khó mà tin được lại có một sự thật như thế.

* * *

Vào dạo miền Nam chưa giải phóng, một hôm, Hồ Chủ tịch tới thăm luật sư Trịnh Đình Thảo ở số 9 Nguyễn Đình Chiểu (nguyên là nhà khách của Bộ Ngoại giao). Người ra mở cổng là một ông già đã gần 70. Ngắm nhìn ông già một lát, bỗng Bác Hồ kêu lên: Ô kìa, Hồng Xuân, sao anh làm gì ở đây thế này?

Ông già chớp mắt tỏ vẻ cảm động bởi có lẽ đã gần bốn chục năm trôi qua mà Người vẫn nhận ra mình, rồi ông nói chậm rãi: – Thưa anh Vương, anh đi tiếp khách đi, kẻo người ta chờ. Chuyện của tôi dài lắm…

Ông già nói vậy thôi, chứ sau này, ông không hề hé răng nói một lời nào về cuộc đời mình, kể cả cho tới khi lìa đời. Hồng Xuân là tên Bác Hồ đặt cho Nguyễn Công Thu từ năm 1925, khi đó, anh em vẫn gọi Bác là “đồng chí Vương”.

* * *

Nguyễn Công Thu vẫn được anh em, đồng chí gọi bằng tên thân mật Ba Thu. Ông sinh năm 1894, kém Bác Hồ 4 tuổi. Là cháu nội của danh nhân Nguyễn Mậu Kiến nổi tiếng. Quê của Ba Thu ở Vũ Trung, huyện Vũ Tiên (nay thuộc Kiến Xương). Người ta bảo “Ăn – Tiền Hải, Cãi – Kiến Xương…” – Tiền Hải là vùng biển, có lẽ người dân ở đây ăn khỏe nên mới có câu nói đó chăng. Còn Kiến Xương là đất làm quan, nhiều người tài giỏi nổi tiếng khắp cả nước.

Ngay từ hồi còn nhỏ, Bác Hồ cũng đã có dịp được cha cho tới thăm gia đình họ Nguyễn này. Thuở nhỏ, Ba Thu được cha cho học cả chữ Nho và chữ Pháp. 19 tuổi (1913) Ba Thu đã lập gia đình, nhưng không vì thế mà nguội đi ý chí yêu nước và lòng quyết tâm đi tìm cách mạng trong anh. Năm 1925, Ba Thu cùng hai người cháu là Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Thọ lấy trộm tiền của anh ruột được 32 đồng rồi tìm đường sang Quảng Châu, Trung Quốc. Chính ba Thu, cùng với Trần Phú dự lớp huấn luyện đầu tiên ở Quảng Châu do giảng viên Nguyễn Ái Quốc giảng dạy. Sau khi lớp học mãn hạn, Ba Thu cùng người cháu là Nguyễn Danh Thọ được Bác Hồ cử về nước tuyển chọn các thanh niên yêu nước, tuyên truyền cách mạng và đưa sang Trung Quốc.

Trong 5 chuyến đi về Quảng Châu – Hà Nội – Quảng Châu, Ba Thu đã tuyển chọn và dẫn đường cho 200 thanh niên trẻ, có trình độ sang cho Tổng bộ và Bác Hồ ở Quảng Châu, trong số này có rất nhiều người trở thành lãnh tụ cao cấp của Đảng như Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Trịnh Đình Cửu, Lý Hồng Nhật, Đỗ Ngọc Du… Ba Thu cũng là người đầu tiên đưa cuốn “Đường Cách Mệnh” của Bác Hồ về nước. Ba Thu đã xây dựng và làm Bí thư chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (VNTNCMĐCH) đầu tiên ở Hà Nội (Tiền thân của Đảng bộ Hà Nội). Cũng trong thời gian này, ông còn tuyên truyền cách mạng cho Nguyễn Văn Năng, người sau này là Bí thư đầu tiên của Tỉnh bộ VNTNCMĐCH Thái Bình, và giác ngộ cách mạng, kết nạp Ngô Gia Tự vào VNTNCMĐCH cùng nhiều vị cách mạng tiền bối khác. Đầu năm 1928, trong lúc phân phát truyền đơn, ông bị mật thám Pháp bắt và xử 9 tháng tù giam tại nhà tù Hải Dương, sau đó lại bị Sở Mật thám Thanh Hóa xử phạt 27 tháng nữa vì tội “Dụ người đi Tàu”. Cuối năm 1930, ra tù, ông về hoạt động cách mạng ngay trên mảnh đất đã sinh ra ông cho tới Cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Mặt trận liên Việt huyện rồi Trưởng ban Kinh doanh của Ủy ban di cư.

Đầu 1950, Pháp đánh chiếm Thái Bình, Tỉnh ủy có chủ trương đưa một số đồng chí tuổi cao ra vùng tự do Thanh Hóa. Lúc này, ông đã sắp bước vào tuổi lục tuần nên xin nghỉ, sống một cuộc đời bình dân. Cuộc đời ông có lẽ cứ vậy trôi đi bình thường và chẳng có gì đáng nói nếu như không xảy ra “sự cố 1955″…

Năm 1923, người vợ mà ông hằng yêu mến, quý thương qua đời. Ông nén đau thương và dồn hết tâm trí vào phục vụ cách mạng cho tới khi thành công. Khi giặc Pháp tái chiếm Thái Bình, lại thêm một cái tang nữa đến với ông, người con gái út mà ông rất cưng chiều, làm du kích xã đã trở thành liệt sĩ trong một trận chống càn. Bọn Pháp đã bắn chết con ông ngay trước ngõ đầu nhà ông. Cho tới năm 46, con cái thấy ông tuổi đã cao, sức đã yếu nên một mực ép ông tái giá để có người bầu bạn sớm khuya. Người đàn bà ấy xuất hiện và hai người nên vợ nên chồng. Bà là Nguyễn Thị Tuất, người ngoại ô Thủ đô, một cô gái thục hiền, cũng đã một lần qua đò.

Sau khi chuyển ra Thanh Hóa, ông bà mở một quán nước chè ở Đan Nê – Thọ Xuân đặng kiếm ăn qua ngày. Hòa bình lập lại, ông bà lại dắt díu nhau về quê. Hàng ngày bà đi mò cua, bắt ốc, tần tảo từ sớm tới khuya. Đôi vợ chồng già không con. Các con riêng của ông thì đã ra ở riêng cả. Vợ chồng tuy nghèo nhưng hòa thuận, ngày ngày vui cảnh điền viên. Thời gian này, em ruột ông là Nguyễn Công Truyền và cháu Nguyễn Danh Cao đang công tác ở Bộ Ngoại giao mà Bộ trưởng là Phạm Văn Đồng. Rất nhiều lần Bộ trưởng hỏi thăm Công Truyền và Danh Cao về tình hình của Ba Thu. Bộ trưởng Phạm Văn Đồng còn viết rất nhiều thư nhờ Danh Cao chuyển về cho chú. Bức thư nào cũng bày tỏ tình cảm chân thật và mời Ba Thu ra Hà Nội làm việc. Sau nhiều lần đắn đo suy tính, Ba Thu nhận lời và chỉ còn đợi giấy thông hành là lên đường.

Cuộc đời đúng là chả ai thuộc được chữ ngờ. Vào đúng lúc đó, bi kịch xảy ra, ông bị người ta vu cho là Quốc Dân Đảng, là mật thám của Pháp trà trộn vào hàng ngũ Đảng để phá hoại Đảng, bị cùm chân và chuẩn bị phải ra Tòa án lưu động để lĩnh án tử hình… Bình sinh ông là người to lớn, vạm vỡ tính tình lại nóng nảy khiến người ta lại càng ghét. Bà vợ và người cháu ngoại kể lại rằng, hôm người ta tuyên án tử hình, trước khi súng nổ, thật may không biết từ đâu có một chiếc xe con tới, bốc ông lên xe rồi chạy thẳng sang Hải Dương. Mấy tháng sau, ông được minh oan. Rời Hải Dương, ông lên thẳng Hà Nội và cho người đón vợ lên. Tại Thủ đô, có nhiều lý do mà người viết chưa tiện nêu ra, ông được bố trí làm người trông coi các nhà khách của Bộ Ngoại giao. Nhiệm vụ của ông là đến ở các khách sạn khi chưa có khách, trông nom, quét dọn nhà cửa với mức lương 44 đồng/tháng. Theo người cháu Nguyễn Danh Cao, kể từ khi bắt đầu đi làm cho đến lúc nghỉ hưu và qua đời, mức lương ấy không thay đổi. Với số lương ấy cùng tiền tuất của người con gái liệt sĩ, ông bà tằn tiện lắm cũng không đủ, thế là bà ngỏ lời xin được làm chân giữ trẻ để bớt đi gánh nặng cho ông và được người ta chấp thuận.

Tôi đã cố gắng gặng hỏi những người từng biết và có dịp sống cạnh ông bà, thì tất cả mọi người đều khẳng định chưa bao giờ ông ta thán, than phiền một lời nào về cuộc sống vật chất cũng như tinh thần. Ông sống hiền hậu, khép kín. Thi thoảng ngày rỗi rãi, ông thuê người đạp xe chở ông vào Hà Đông thăm mấy bạn già. Trong suốt hai chục năm cuối đời, ông liên tục chuyển chỗ ở vì lúc nào có khách là ông phải rời sang nhà khách khác, từ nhà Khúc Hạo (nay là Đại sứ quán Trung Quốc) đến Đại sứ quán Ai cập, nhà khách ở Cao Bá Quát, Lý Thường Kiệt. Tại Lý Thường Kiệt, nhà có cây trứng gà. Nghe ai đó nói Bác Hồ rất thích quả này, hàng năm cứ mỗi độ cây có quả, ông lựa nhưng trái ngon nhất rồi đem giấm và nhờ người gửi biếu Bác Hồ. Ông xin người đó đừng nói tên người biếu. Sau này, ông chuyển về nhà khách số 9 Nguyễn Đình Chiểu và được ở yên ổn ở đó cho tới lúc qua đời. Vì nhà này có hai tầng, vợ chồng ông trông nom và ở tầng dưới. Tầng trên dành cho luật sư Trịnh Đình Thảo cùng những người trợ lý, giúp việc. Có một người bạn vô cùng thủy chung son sắt với ông, kém ông hơn chục tuổi, cứ ngày lễ, ngày tết nào cũng đều có quà, thư gửi cho ông. Đó là Thủ tướng Phạm Văn Đồng…

Ông vẫn thường tâm sự với người cháu Nguyễn Danh Cao rằng, cả cuộc đời ông chả có gì phải ân hận xót xa cả. Giờ đây, ông chỉ đau đáu một nỗi buồn, nếu ông qua đời ông sẽ không biết bà sống ra sao vì bà kém ông hơn hai chục tuổi, chỉ là nhân viên hợp đồng giữ trẻ, chẳng có chế độ gì, cuộc sống phần nhiều trông vào 44 đồng tiền lương cùng chế độ tem phiếu của ông. Nên khi thấy mình đã xuống sức, ông cố gắng tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ nhoi để đề phòng lúc ông ra đi bà còn có chút tiền dưỡng già. Thế rồi ông ra đi thật, vào năm 1976, khi tròn 82 tuổi. Đám tang ông sơ sài hơn cả một người bình dân. Hai con ông chỉ làm công nhân bình thường, còn hai người khác thì một là liệt sĩ, một bị chết do sẩy thai. Họ hàng ở Hà Nội cũng chẳng mấy người. Có lẽ vong linh ông cũng mát dịu phần nào khi trên mồ ông có vòng hoa kính viếng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người bạn năm xưa… Ngôi mộ của ông khuất sâu trong khu dân nghèo ở nghĩa trang Văn Điển. Ba năm sau, bà sang cát cho ông và đưa ông lên Bất Bạt…

Kể từ ngày ông qua đời, bà hụt hẫng, đơn côi. Đêm đêm nhớ ông bà không ngủ được, nước mắt đầm đìa trên gương mặt nhăn nheo. Bà thương ông bao nhiêu, lại thầm xót xa cho mình bấy nhiêu. Có được chút tiền tiết kiệm, bà chi dùng hết vào đám tang, cố cho ông mồ yên mả đẹp. Ít lâu sau, bà cũng thôi hợp đồng trông trẻ. Giờ thì chỉ trông vào tiền tử tuất của đứa con riêng của chồng. Được Bộ Ngoại giao quan tâm cấp cho 2 gian nhà. Bà sống với đứa cháu ngoại. Dù nghèo khó, bà cũng không muốn ăn bám cháu mình vì bà nghĩ nó còn phải nuôi vợ, nuôi con. Nhưng đứa cháu hiếu thảo nào có đang tâm cầm đồng tiền của bà đưa. Thế là bà giận, người cháu đành phải thỉnh thoảng “cầm ví dụ” tiền của bà, rồi lẳng lặng cất đi cho bà. Tiền bà lấy ở đâu, xin thưa, bà tuy già nhưng được trời và ông phù hộ nên không mấy khi ốm đau. Ngày ngày, bà đi bộ từ khu Nam Thành Công lên đường Hoàng Diệu gần trước cửa CLB Quân đội, và ngồi đó bán thuốc lá cho người qua đường. Bà vốn hiền hậu, chịu thương chịu khó nên cũng đắt hàng. Những hôm mưa to gió lớn bà mới chịu ở nhà và rồi nhìn trời mưa, bà lại thương nhớ tới ông và thâm tâm bà luôn luôn gắng sao cho ông nơi suối vàng không hổ thẹn về bà, bởi vậy, dù khó khăn, nghèo khổ đến đâu, bà cũng không bao giờ kêu ca hay đòi hỏi bất kỳ một điều gì cho chồng. Có người biết quan hệ thân thiết giữa chồng bà với Thủ tướng, bảo bà chỉ cần nhờ một câu nói, chắc sẽ đổi đời, bà trừng mắt, gạt phăng…

Ở hiền bao giờ cũng gặp lành. Nhiều người biết được công lao, thành tích của ông đóng góp cho cách mạng ngay từ những ngày cách mạng còn đang trong trứng nước, đã lặn lội tìm tư liệu về cuộc đời ông rồi báo cáo với Đảng. Bao nhiêu năm đợi chờ rồi cũng đến cái ngày tên tuổi ông được trả lại đúng vị trí. Năm 1993, Ban Tổ chức Trung ương Đảng đã ra Quyết định đưa hài cốt của vị cách mạng lão thành Nguyễn Công Thu vào an táng tại nghĩa trang Mai Dịch và giao cho Tỉnh ủy Thái Bình thực hiện. Ngôi mộ của ông được xây trang trọng bên cạnh mộ đồng chí Ngô Duy Đông nguyên Bí thư tỉnh ủy tỉnh Thái Bình. Cố vấn Phạm Văn Đồng gửi biếu cụ bà 2 triệu đồng tiền hương khói… Đó là ngày vui sướng nhất đời của cụ bà Nguyễn Thị Tuất, vậy là Đảng đã không quên người con ưu tú của mình… Ít lâu sau, cụ bà cũng lên đường theo cụ ông. Người cháu và họ hàng đã làm theo nguyện vọng của cụ là được hỏa táng và đem thi hài của cụ về Từ đường họ Nguyễn ở Thái Bình thờ cúng.

Cho tới khi bài viết này ra đời, là khi vị tiền bối tròn 106 tuổi, thì trong “Phiếu cán bộ” của ông Nguyễn Công Thu đề “Hoạt động cách mạng trước tháng 8/45”, các phần: chức vụ, lương chính, khen thưởng… đều bỏ trống. Ông vẫn chưa được nhận một danh vị nào kể cả một tấm huân chương hay bằng Tổ quốc ghi công.

(Mạnh Việt – TP Xuân Canh Thân)

Việt Báo (Theo_VietNamNet)

(Văn bản 2)

http://www.thaibinh.gov.vn/ct/introduction/Lists/dn/View_Detail.aspx?ItemID=25

Danh nhân Thái Bình qua các thời kỳ

Thời kỳ thành lập Đảng cộng sản Việt Nam

Nguyễn Công Thu (1894 – 1976) quê xã Vũ Trung, Kiến Xương (cháu nội danh nhân Nguyễn Mậu Kiến), một trong những người đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện tại Quảng Châu (Trung Quốc) vào những năm 1925 – 1926, có nhiều đóng góp đưa đón thanh niên yêu nước sang Quảng Châu du học và hình thành tổ chức cộng sản ở Hà Nội.

Nguyễn Danh Ðới (1905 – 1943) người xã Vũ Trung (cháu 4 đời danh nhân Nguyễn Mậu Kiến), bí thư kỳ bộ thanh niên đầu tiên ở Bắc Kỳ, tham gia sáng lập Ðảng cộng sản Ðông Dương.

(Văn bản 3)

Đồng chí Phạm Văn Đồng thời dựng Đảng 

02/03/2011

http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30296&cn_id=448192

“…Khoảng nửa sau năm 1926, Phạm Văn Đồng được gặp Nguyễn Công Thu, một thành viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đang nhận nhiệm vụ về Bắc Kỳ tìm chọn người gia nhập Hội và sang dự lớp học lý luận chính trị ở Quảng Châu. Với sự giới thiệu của Nguyễn Công Thu, Phạm Văn Đồng đã quyết định gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sang Quảng Châu tham dự lớp huấn luyện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Theo tuyến Hà Nội – Lạng Sơn – qua Long Châu, Nam Ninh (Quảng Tây) – Quảng Châu, với sự dẫn đường của Nguyễn Công Thu, Phạm Văn Đồng cùng một số thanh niên khác đã đến được Quảng Châu. ”

  1. Lý Việt Quang (Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)

(Văn bản 4)

Làng Động Trung – Thái Bình

Đăng lúc: Thứ tư – 18/05/2005

http://www.mangnongnghiep.com/agrinet/index.php/news/Nong-thon-moi/Lang-Dong-Trung-Thai-Binh-566/

* Từng có Chiêm Bái Đường, nhà in đầu tiên ở Thái Bình. * Dòng họ Nguyễn Mậu Kiến gần 200 năm nổi tiếng yêu nước, cách mạng. * Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Sinh Huy, Lương Ngọc Quyến, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Anh Thơ… từng đến tâm giao với các tri thức yêu nước làng Động Trung.

…Nguyễn Đăng Thiện (1766-1853). Cụ Thiện làm quan chánh tổng và là địa chủ giàu có vào loại nhất đồng bằng Bắc Bộ. Cụ là người hiếu học, ham hiểu biết. Cụ từ quan về Động Trung mở trường dạy học và.xây văn chỉ thờ Khổng Tử. Năm 1820, cụ bỏ tiền của xây đựng nhà in sách đặt tên là Chiêm Bái Đường. Nhà in này cốt để lưu giữ, nhân bản và phổ biến sách học cần và quý. Cố nhiên công nghệ in của nó là thứ công nghệ in bằng bản khắc gỗ. Tôi không có khả năng lần mò để biết sâu lịch sử nhà in – một ẩn dụ phát triển văn hoá của tỉnh quê tôi – nhưng tôi biết chắc rằng: Nhà in này duy trì hoạt động đến vài ba chục năm sau ngày cụ Thiện.mất.

Từ đời cụ đến đời con, nhà in làm ra sách không cần thu lời thu lãi, chỉ cốt cónhiều sách cho học trò. Cụ Nguyễn Mậu Kiến, con trai cụ Thiện với Chiêm Bái Đường đã thực hiện đúng ý nguyện của mình: “Có sách không thể không đọc. Nhưng nếu chỉ chứa sách làm của báu cho một nhà sao bằng in ấn rộng rãi cho đời cùng đọc cùng nghiên cứu…”. Tôi nhớ trong cuộc hội thảo về lịch sử, ông Tạ Trọng Hiệp, giáo sư Đại học Pa ri VII (Sorbonne) cho biết: Chính ông đã được xem sách in của Chiêm Bái Đường còn được lưu giữa ở Bảo tàng Guinet. Số sách này xếp cao chừng 2 mét.

…Con trai cụ là Nguyên Mậu Kiến, người thừa kế nghĩa khí và trí lớn cùng gia sản của cha, sớm trở thành người có “học thuật phả quảng” (vua Tự Đức phê khen), trở thành quan án sát và thăng hàm Trung nghị đại phu, Quang lộc tự khanh. Phan Bội Châu từng thán phục cụ Kiến: “Cụ là người tư bẩm khác thường, khi còn là học trò đã có chí khí khảng khái, nhà tuy giàu nhưng cách ăn mặc rất giản dị, thường lấy việc cứu nạn nước làm chú ý, tính ham học, xem sách, sách chất đầy nhà” (P.B.C – Lời ghi trên văn bia Mão Sơn).

…Với chí khí yêu nước kiên cường, Nguyễn Mậu Kiến từng dâng sớ phản đối chủ trương chủ hoà với thực dân Pháp mà bị giáng chức từ án sát xuống lính thường. Từ quan, cụ về nhà cùng 5 con trai tổ chức khai hoang lập ấp ở vùng biển Tiền Hải và mộ quân kháng Pháp. Thực dân Pháp coi đây là nhân vật nguy hiểm nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ. Chúng treo giải thưởng lớn cho ai lấy được đầu ba cha con cụ Kiến. Cụ Kiến, quả thật xứng đáng là người đầu tiên dựng nghiệp chống thực dân Pháp cứu nước ở tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Mậu Kiến có năm người con trai: Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Phu, Nguyên Hữu Bản, Nguyễn Hữu Khái và Nguyễn Đình Đàn. Họ đều là những người nối chí người cha đi đầu và trọn đời trung thành với sự nghiệp yêu nước, chống Pháp.

…Sau khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, cụ Riệu trở thành một trong những người có công đầu trong việc tổ chức và tham gia lãnh đạo Quốc dân Đảng nhưng kiên trì lập trường ủng hộ mọi đảng phái yêu nước chống Pháp, đặc biệt với Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, cụ Riệu đã tổ chức đưa các em, con chú ruột mình là Nguyễn Công Thu,Nguyễn Công Việt, các cháu ruột Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Danh Tề, Nguyễn Danh Đới, Nguyên Công Việt sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp học về cách mạng vô sản do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chứcvà giảng dạy.

Tất cả số anh em cháu ruột của cụ Riệu đều trở thành đảng viên đầu tiên và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương bước đầu thành lập. Nguyễn Công Thu và Nguyễn Danh Thọ là hai người đầu tiên tổ chức gây dựng nên cơ sở Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Bắc Kỳ. Hai ông tham gia Xứ uỷ Bắc Kỳ do Nguyễn Danh đới làm Bí thý. Nguyễn Danh đới trở thành Bí thý đầu tiên của Kỳ uỷ Bắc Kỳ và Thành uỷ Hà Nội của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương.

…Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (ông nội cố Chủ tịch Trường Chinh) là bạn thân thiết của cụ Nguyễn Hữu Cương thường sang dạy học ở nhà và trường học của cụ Cương. Các con cụ Cương đều là học trò giỏi gần gũi thân thiết của cụ Bảng. Cụ Phan Bội Châu thân thiết với cụ Nguyễn Hữu Đàn và rất kính phục cha cụ Đàn là cụ Kiến. Tôi chỉ nghe nói rất đáng tin là cụ Phan có đến chơi và bàn chuyện tâm huyết ở nhà cụ Kiến. Bởi lẽ văn bia Mão Sơn khắclời tưởng niệm về cụ Kiến là do cụ Phan viết.

Cụ Nguyễn Sinh Huy thì tư liệu lịch sử cho biết rõ khoảng từ 1901 đến 1904, có về nhà bạn là cụ Đàn,.

…Vừa qua, để viết bài này, tôi có về lại Động Trung, đến từ đường họ Nguyễn Mậu Kiến. Thợ đang xây mới bia tưởng niệm cụ Kiến. Họ khắc lại văn bia Mão Sơn của Phan Bội Châu. Năm 1971, mộ, bia Mão Sơn bị đào phá vì lý do án Kiến và dòng họ là đại địa chủ nhiều đời! Nay tỉnh Thái Bình cho phục dựng bia Mão Sơn. May mà từ đường họ án Kiến mới bị đụng phá đến cổng ngăn phía trước nên còn nguyên nếp cổ. Từ đường này thật xứng đáng là di tích văn hoá cỡ quốc gia.

Tác giả bài viết: Trần Thảo
Nguồn tin: Báo Văn nghệ

(Văn bản 5)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Danh_%C4%90%E1%BB%9Bi

Nguyễn Danh Đới (1905-1943) là nhà cách mạng Việt nam, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt nam, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thái Bình.

Ông quê xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Từng học ở trường Thành chung Nam Định.

…Tháng 7-1940, Nguyễn Danh Đới lại bị bắt đưa đi căng Bắc Mê (Hà Giang), rồi các nhà lao Phú Thọ, Thái Nguyên. Kẻ thù hèn hạ đã tiêm thuốc độc làm cho ông trở thành phế nhân và chết dần trong lao tù[2].

Con trai thứ hai của ông là Ca sĩ, Nghệ sĩ nhân dân Trung Kiên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin.

Tại phường Trần Lãm, TP Thái Bình có tên đường Nguyễn Danh Đới.

(Văn bản 6)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Trung_Ki%C3%AAn_(ngh%E1%BB%87_s%C4%A9)

Nguyễn Trung Kiên, từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ văn hóa thông tin Việt Nam, ông là giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân, ca sĩ nổi tiếng.[1] Trung Kiên sinh năm 1939 tại Kiến XươngThái Bình, là con trai của nhà cách mạng Nguyễn Danh Đới.

…Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Trung Kiên là giọng ca nam cao nổi tiếng của dòng nhạc cách mạng …

Gia đình: Ông kết hôn với vợ là bà Trần Bạch Thu Hà, có cậu con trai là Nghệ sĩ Quốc Trung.

1 2 3 4

2 thoughts on “Phụ bài 3. Diệt khẩu 2 cha con người em trai ruột Lâm Đức Thụ, cùng các cháu cũng là kỳ cựu Cộng sản thời Nguyễn Ái Quốc – Đào phá mộ phần”

  1. Pingback: SỰ THẬT ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM: QUYỂN 9. PHỤ BÀI 3. DIỆT KHẨU 2 CHA CON NGƯỜI EM TRAI RUỘT LÂM ĐỨC THỤ, CÙNG CÁC CHÁU CŨNG LÀ KỲ CỰU CỘNG SẢN THỜI NGUYỄN ÁI QUỐC – ĐÀO PHÁ MỘ PHẦN | CHÂU XUÂN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s