Phụ bài 4.2. Những “chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương” đều có số phận bí hiểm – như là bị diệt vậy.

Nhận xét: Những số phận dưới đây k điển hình lắm, nhưng nó cũng cho ta thấy hình như Hồ không thể trọng dụng một “luật sư Phạm Thành Vinh” nguyên là “nguyên Chủ tịch Hội Sinh viên Đông Dương” làm “Chánh văn phòng Bộ quốc phòng”.

Rất có thể “luật sư Phạm Thành Vinh” nguyên là “nguyên Chủ tịch Hội Sinh viên Đông Dương” đã bị giết, và người thay thế là “Phạm Thanh Vinh” (Vì không phải nên đã nhầm tên)…

I. Bằng chứng và phân tích – Tài liệu nghiên cứu.

  1. Dương Đức Hiền.

Hồi ký Trần Văn Giàu: 1940-1945 – Kết quả Tìm kiếm Sách của Google

https://books.google.com.vn/books?id=Nw-iBQAAQBAJ

Trần Văn Giàu

Xu hướng trì trệ bị đẩy lùi, xu hương tiến bộ thắng thế với việc bầu sinh viên Luật khoa Dương Đức Hiền lên làm chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương. Ngay …

Dương Đức Hiền (19161963[1]), http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB%A9c_Hi%E1%BB%81n

Dương Đức Hiền (19161963[1]), là một nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Ông là người sáng lập và là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam.

Tiểu sử

Ông quê ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội). Thuở nhỏ, ông là học sinh trường Bưởi và sinh viên khoa Luật Đại học Đông Dương. Khi còn là sinh viên luật, ông phụ trách Tổng hội sinh viên, lãnh đạo nhóm sinh viên yêu nước của Đại học Đông Dương.

Năm 1940, ông tốt nghiệp cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương, rồi làm nghề dạy học và hoạt động xã hội. Ông là cộng tác viên của báo Thanh Nghị trong những năm 19391945.

Ngày 30 tháng 6 năm 1944, ông là một trong những người sáng lập và là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam. Cuối năm 1944, để thực hiện chủ trương mở rộng quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các lực lượng đồng minh, đồng thời để ngăn chặn các lực lượng Việt Nam ở nước ngoài chống Việt Minh, tuyên truyền, vận động, phân hóa và lôi kéo họ vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh cử đoàn đại biểu Việt Minh do ông Hoàng Quốc Việt làm Trưởng đoàn, ông Dương Đức Hiền – Tổng Thư ký Đảng Dân chủ làm Phó trưởng đoàn sang Quảng Tây (Trung Quốc) bàn việc hợp tác chống phát xít Nhật, theo lời mời của chính quyền Tưởng Giới Thạch.

Đại hội quốc dân Tân Trào họp ngày 7-8-1945 bầu ông làm Ủy viên Ủy ban dân tộc giải phóng.

Trong Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào, ông là Ủy viên Ủy ban Dân tộc giải phóng (7/8/1945).

Từ năm 1945 cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp ông đại diện Đảng Dân chủ trong Chính phủ lâm thời. Đại biểu Quốc hội khóa I (1946) các khóa II, III đơn vị tỉnh Bắc Ninh, ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội và ông cũng là đồng tác giả soạn thảo Hiến pháp năm 1946. Ông là Ủy viên chính thức của Ủy ban Thường trực Quốc hội khóa I và khóa II.

Ông đã từng giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ cách mạng lâm thời, và Chính phủ liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ông còn là uỷ viên Tổng bộ Việt Minh; Tổng Thư kí, Phó chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt; và Ủy viên Ban Thư kí Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ông là một trong những trí thức có công lớn trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất.

Vinh danh

Tên ông được đặt cho một con đường tại Phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo

  1. ^ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [1], ông sinh năm 1916 và mất năm 1963. Còn theo quận Tân Phú, TP.HCM, ông sinh năm Đinh Tỵ 1917 và mất năm Tân Hợi 1971

Nhận xét: Ông mất 1963 hay 1971?

Có thực là ông?

  1. Dương Minh Châu

Anh hùng liệt sĩ Dương Minh Châu

http://trianlietsi.vn/new-vn/Trang-vang-liet-si/1668/anh-hung-liet-si-duong-minh-chau.vhtm

Ông Dương Minh Châu sinh ngày 09/3/1912 tại làng Ninh Thạnh – Tổng Hoà Ninh – Huyện Châu Thành – Tỉnh Tây Ninh (nay là Phường 1- Thị xã Tây Ninh).

Thuở nhỏ, Ông đã là một học sinh xuất sắc, khi học tại Lyce’e  Petrus Trương Vĩnh  Ký (nay là trường THPT Lê Hồng Phong – Tp. HCM), niên khoá 1930-193, Ông học Ban A đạt Hạng Nhất vaø được ghi tên vào Bảng Danh dự của trường. Thời sinh viên học ở trường Cao đẳng Đông Dương (Hà Nội), Ông không những nổi tiếng học giỏi mà còn hăng hái tham gia các hoạt động xã hội; được giới sinh viên tín nhiệm bầu làm Hội trưởng Tổng hội sinh viên Đông Dương.

Năm 1938, Ông tốt nghiệp Cử nhân Luật loại xuất sắc; nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách để Ông chịu thành “dânTây” (nhập quốc tịch Pháp) với nhiều viễn cảnh tươi sáng, được nhiều bổng lộc nhưng tất cả đều bị Ông từ chối.

Cách mạng Tháng 8 thành công (năm 1945), Ông tham gia Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ; Ông là cầu nối quan trọng trong việc tạo nên mối liên kết trong các lực lượng kháng chiến, các tầng lớp nhân dân nhằm động viên mọi người đoàn kết chung lo việc cứu nước.

Với uy tín của mình, Ông cũng đã tuyên truyền, vận động kêu gọi được rất nhiều viên chức, trí thức của tỉnh nhà hướng về kháng chiến.

Tháng 01 năm 1946, Ông trở thành Đại biểu Quốc hội Khoá I của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Sau đó, Ông được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.

Ngày 07/02/1947, thực dân Pháp bất ngờ mở trận càn lớn vào Căn cứ kháng chiến; Ông đã sát cánh cùng các lực lượng vũ trang tổ chức nhiều cuộc đánh trả quyết liệt để bảo vệ căn cứ. Ông đã anh dũng hy sinh sau khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.

Để tưởng nhớ đến Ông, đầu năm 1951, Tỉnh uỷ và Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh quyết định lấy tên Ông đặt tên cho huyện Căn cứ kháng chiến (Huyện Dương Minh Châu).

Từ đấy, tên tuổi của Ông đã đi vào lịch sử; tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng sáng ngời của Ông mãi mãi được khắc ghi và trở thành niềm tự hào của thế hệ trẻ mai sau.

Nhận xét: Mất sớm.

  1. Nhóm Huỳnh– Mai– Lưu

Mai Văn Bộ

http://vi.wikipedia.org/wiki/Mai_V%C4%83n_B%E1%BB%99

Mai Văn Bộ (19182002 [cần dẫn nguồn]) một trí thức Nam bộ, là một trong ba người của bộ ba Huỳnh – Mai – Lưu nổi tiếng, nguyên Đại sứ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ, Cộng hòa Italia, Hà LanLucxambua.

…Ông sinh ngày 9 tháng 7 năm 1918 tại quận Thốt Nốttỉnh Long Xuyên (ngày nay thuộc thành phố Cần Thơ) trong một gia đình trung lưu;

Năm 1940, sau khi đỗ tú tài, Mai Văn Bộ được gia đình tiếp tục ra Hà Nội học bậc đại học.Trong thời gian này, Mai Văn Bộ viết bài Bạch Đằng Giang và Ải Chi Lăng rồi được Lưu Hữu Phước phổ nhạc và trở thành những bài hát hùng tráng ca ngợi truyền thống đánh giặc của tổ tiên. Nhạc phẩm Bạch Đằng Giang và Ải Chi Lăng trở thành những bài hát truyền thống được thanh niên, sinh viên Hà nội ưa thích và hát vang trong thời kỳ tiền khởi nghĩa.

Năm 1941, Mai Văn Bộ viết tiếp lời tiếng Pháp La Marche des étudiants dựa trên nền nhạc Tiếng gọi thanh niên củaLưu Hữu Phước và được Tổng hội sinh viên Đông Dương chọn làm bài hát nghi lễ. Năm 1942, Mai Văn Bộ được bầu vào Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Đông Dương, với chức vụ Trưởng ban Biên tập tờ báo Manôme – cơ quan ngôn luận của Tổng hội.

Hoạt động tuyên truyền báo chí cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1944, Mai Văn Bộ tham gia “Đoàn quân” xếp bút nghiên về Nam kháng chiến. Tại Sài Gòn, Mai Văn Bộ được giao nhiệm vụ phụ trách biên tập tuần báo Thanh niên – chuyên san Văn hóa – cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ Việt Nam – Kỳ bộ Nam Bộ do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát phụ trách. Tuần báo Thanh niên phát hành ngay giữa thành phố Sài Gòn, với nội dung kêu gọi giới trẻ và quần chúng lao động yêu nước chuẩn bị lực lượng, tích cực tham gia vào các cao trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Tháng 9 năm 1944, tuần báo Thanh niên bị đình bản, đến đầu năm 1945, Mai Văn Bộ tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong và được giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách tờ báo Tiến – cơ quan ngôn luận của Tổ chức Thanh niên Tiền phong.

Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Mai Văn Bộ tích cực tham gia vào việc tổ chức lực lượng cướp chính quyền và sau đó, ông được chính phủ cách mạng bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Báo chí Nam Bộ.

Ngày 23-9-1945, cuộc kháng chiến Nam Bộ bùng nổ, Mai Văn Bộ ra chiến khu miền Đông phụ trách tờ báo Quyết Chiến. Tiếp đó, ông tham gia lực lượng vũ trang và trở thành cán bộ chính trị đại đội.

Năm 1947, Mai Văn Bộ về nội thành Sài Gòn – Chợ Lớn hoạt động bí mật, xây dựng cơ sở với chức vụ Ủy viên Tuyên truyền, phụ trách biên tập tờ báo bí mật Liên Việt – cơ quan của Thành hội Liên Việt.

Năm 1948, Mai Văn Bộ cùng Năm Châu, Trần Hữu Trang, Ba Vân và nhiều nghệ sĩ yêu nước khác xây dựng gánh hát Năm Châu thành cơ sở kháng chiến bí mật ở nội thành. Gánh hát Năm Châu cũng chính là cơ sở của Việt Minh đầu tiên trong giới nghệ sĩ sân khấu thành phố, là địa điểm tập hợp, liên lạc an toàn cho anh chị em trí thức kháng chiến nội và ngoại thành.

Năm 1949, Xứ ủy Nam bộ điều động Mai Văn Bộ ra chiến khu phụ trách Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ.

Năm 1954, Mai Văn Bộ được cử làm thành viên của phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với Ủy ban Quốc tế giám sát đình chiến ở Sài Gòn theo tinh thần Hiệp định Genève.

Hoạt động trong ngành ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó ông được cử sang Pháp với vai trò đại diện thương mại và Tổng Đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1973, Mai Văn Bộ tham gia trong phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký hiệp định Paris 1973 giữa 4 bên tham chiến: Hoa KỳViệt Nam Dân chủ Cộng hòaCộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Sau năm 1975 ông được bổ nhiệm là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Italia (năm 1975) tại Pháp, BỉHà lan vàLúc xăm bua (năm 1980 – 1984).

…Mai Văn Bộ có vợ là Bà Phan Thị Kỷ (hoa khôi trường nữ Gia Long -Sài Gòn) con gái Đốc học Phan Văn Nga tỉnh Biên Hòa. Ông có các người con sau: Mai Quỳnh Lâm (sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa), Mai Tuyết Mai, Mai Phương Mai (PGS.TS Dược – Đại học Y Dược Sài Gòn), Mai Hội Vũ (Bác sỹ y khoa), Mai Xuân Lộc (Kỹ sư xây dựng).

Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên CS ?

http://tuxtini.com/2014/01/26/tai-sao-quoc-ca-vnch-lai-la-mot-bai-hat-cua-mot-dang-vien-cong-san/

Đọc báo mạng, chúng ta thường bắt gặp một số phản hồi từ các độc giả trẻ trong nước thắc mắc tại sao Việt Nam Cộng Hòa và các cộng đồng người Việt Quốc gia hải ngoại lại lấy một bài hát của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, một Đảng viên Cộng Sản, để làm bài Quốc ca ?

Để góp phần giải tỏa phần nào thắc mắc của các bạn trẻ trong nước, trước hết, nên tìm về lai lịch khá đặc biệt của bài hát danh tiếng này.

Tháng 11. 2013

Bạch Diện Thư Sinh

Nhận xét: Lạ!

(Xem thêm về nhóm Huỳnh – Mai – Lưu  tại quyển nói về Chính phủ lâm thời giải phóng miền Nam Việt Nam.)

Luật sư Phan Anh” – dấu hiệu của quỷ.

I. Bằng chứng và phân tích.

  1. Xuất thân: “Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là Chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương ” (Văn bản 1)

Sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945Bảo Đại mời ông và một số trí thức trẻ vào Huếtham khảo ý kiến về việc Nhật “trao trả độc lập” cho Việt Nam và để thành lập nội các mới. Sau đó ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim. Thời gian này, ông có sáng kiến thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến (còn gọi là Thanh niên Phan AnhThanh niên Xã hội).” (Văn bản 2)

  1. Người thân: Bố và vợ đầu mất sớm vào thời kỳ nhạy cảm.

Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1912 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cha của ông là nhà nho Phan Điện. Ông còn có một người em ruột là Phan Mỹ cũng là một luật sư (về sau là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng).” (Văn bản 2)

…Luật sư Phan Anh có 2 đời vợ. Vợ cả của ông là bà Đỗ Thị Thao, Tiến sĩ Dược khoa, Dược sĩ hạng nhất ở Paris (Pháp). Bà sinh cho ông 3 con trai là Phan Trúc Long[9], Phan Trí Vân và Phan Tân Hội. Bà Thao mất năm 1952. Vợ sau của ông là bà Đỗ Thị Hồng Chỉnh (gọi bà Đỗ Thị Thao là cô ruột) Cử nhân Sư phạm. Bà cũng sinh cho ông 3 con trai, đặt tên là Phan Tú Tùng, Phan Triều Dương, Phan Thiên Thạch.” (Văn bản 2)

Phan Điện (1875-1945), thường gọi là Cố Điện hay Đầu xứ Điện, là một danh sĩ và chí sĩ Việt Nam đầu thế kỷ 20.” (Văn bản 3)

  1. Bạn bè – vào nam sống.

Năm 1937, ông tốt nghiệp Cử nhân Luật ở vị trí thứ 2. Năm 1938, ông sang Pháp để trình luận án Tiến sĩ Luật, nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không kịp bảo vệ luận án và phải về nước năm 1940, hành nghề luật sư tại văn phòng của luật sư Bùi Tường Chiểu.

Năm 1940, ông cùng Vũ Đình HòeVũ Văn Hiền, thành lập báo Thanh Nghị (1941-1945) ” (Văn bản 2)

Luật sư Bùi Tường Chiểu…Trước năm 1954, ông sống ở Hà Nội.

Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, từng tham gia trong phong trào đấu tranh chống đàn áp Phật giáo tại Sài Gòn những năm 1963.” (Văn bản 5)

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội một thời gian. Năm 1954, ông và gia đình di cư vào Nam, ở Sài Gòn. Từ đó ông ngừng mọi hoạt động chính trị. ” (Văn bản 6)

  1. Dấu hiệu quỷ của người em thứ hai.

Ông Phan Mỹ là em ruột ông Phan Anh – Bộ trưởng Bộ Ngoại thương nhiều năm. Vợ ông Phan Mỹ và vợ ông Đỗ Mười là hai chị em ruột. Ông Phan Mỹ từng là Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. ” (Văn bản 4)

  1. Tài liệu và nghiên cứu.

(Văn bản 1)

BẢN CHỈ DẪN TÊN NGƯỜI

http://www.na.gov.vn/Sach_QH/VKQHtoantapVI2/Chuthich/Chuthich_3.htm

Ngày 04-7-1981, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VII đã bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ giữ chức Chủ tịch Quốc hội và 9 Phó Chủ tịch Quốc hội là các ông, bà: Xuân Thủy, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Y Một (tức Pah), Huỳnh Cương, Phan Anh, Cầm Ngoan, Hòa thượng Thích Thế Long, Linh mục Võ Thành Trinh.

Quốc hội đã bầu ông Trường Chinh giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và bốn Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước là các ông: Nguyễn Hữu Thọ, Lê Thanh Nghị, Chu Huy Mân, Xuân Thủy.

Trong các Tập 2, 5, Văn kiện Quốc hội toàn tập, chúng tôi đã giới thiệu vắn tắt tiểu sử của các ông: Trường Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Xiển. Vì vậy,  trong Tập 6 này xin không giới thiệu lại các vị đó, chỉ giới thiệu các ông, bà (xếp thứ tự theo vần A, B, C): Phan Anh, Huỳnh Cương, Thích Thế Long, Chu Huy Mân, Y Một, Lê Thanh Nghị, Cầm Ngoan, Võ Thành Trinh, Nghiêm Xuân Yêm (BT).

PHAN ANH (1912-1990)

Luật sư Phan Anh sinh trưởng trong một gia đình nhà nho ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông là Chủ tịch Tổng hội sinh viên Đông Dương và Giáo sư trường Thăng Long (Hà Nội). Sau khi tốt nghiệp khoa Luật, Đại học Đông Dương, ông làm luật sư. Ông đã tham gia phong trào Dân chủ Đông Dương trong những năm 1936 – 1937 và phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ, với mục đích đấu tranh cho độc lập dân tộc.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt), 29-5-1945, làm thành viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết quốc gia rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến và Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ đi dự Hội nghị Phôngtennơblô (Pháp) từ ngày 06-7 đến ngày 10-9-1945.

Từ năm 1947 đến năm 1976, ông liên tục giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương. …

Do có nhiều cống hiến cho Tổ quốc và nhân dân, luật sư Phan Anh đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất và nhiều huân chương, huy chương, kỷ niệm chương cao quý khác của nước ta, của Liên hợp quốc, Hội đồng Hòa bình thế giới và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết.

(Văn bản 2)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Anh

Phan Anh (1 tháng 3 năm 1912 – 28 tháng 6 năm 1990) là Luật sư nổi tiếng, nhà chính trị,bộ trưởng bộ Thanh niên của đế quốc Việt Nam và là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thiếu thời với nghiệp học[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1912 tại làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cha của ông là nhà nho Phan Điện. Ông còn có một người em ruột là Phan Mỹ cũng là một luật sư (về sau là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng).

Mồ côi mẹ từ năm 10 tuổi, ông cùng với người em theo cha lưu lạc khắp nơi. Tuy sống cực khổ, nhưng được sự giáo dục của cha, cả 2 anh em ông đều học giỏi. Năm 1926, ông giành được suất học bổng nội trú của Trường BưởiHà Nội.

Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông theo học ngành Luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà Nội. Trong thời gian theo học ở đây, ông tham gia hoạt động xã hội, là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên và vào Đảng Xã hội Pháp. Vừa học, ông vừa tham gia dạy học ở trường Gia Long và trường Thăng Long.

Năm 1937, ông tốt nghiệp Cử nhân Luật ở vị trí thứ 2. Năm 1938, ông sang Pháp để trình luận án Tiến sĩ Luật, nhưng Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không kịp bảo vệ luận án và phải về nước năm 1940, hành nghề luật sư tại văn phòng của luật sư Bùi Tường Chiểu.

Hoạt động báo chí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1940, ông cùng Vũ Đình HòeVũ Văn Hiền, thành lập báo Thanh Nghị (1941-1945) mong muốn đóng góp ý kiến của nhóm ông trước quốc dân. Ông là một trong 5 cây bút trụ cột của báo này, phụ trách nhiều chuyên mục của báo. Tuy là một luật sư nhưng nhờ biết chữ Hán, thông hiểu triết, văn, sử Trung Hoa (cả cổ học và tân học) nên các bài viết của ông rất có giá trị về cả phổ thông và chuyên môn.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3 năm 1945Bảo Đại mời ông và một số trí thức trẻ vào Huế tham khảo ý kiến về việc Nhật “trao trả độc lập” cho Việt Nam và để thành lập nội các mới. Sau đó ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim. Thời gian này, ông có sáng kiến thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến (còn gọi là Thanh niên Phan AnhThanh niên Xã hội).

Trong cuộc mít-tinh lớn do Tổng hội sinh viên và Đoàn hướng đạo tổ chức tại Quảng trường Nhà hát Thành phố Hà Nội, vào đầu tháng 6-1945, Bộ trưởng Thanh niên Phan Anh đặt tay lên ngực, và kết thúc bài diễn thuyết của mình:

“Các bạn hãy hiểu cho lòng người bạn cùng lứa tuổi. Tôi tuyên truyền cho “Thanh niên Tiền tuyến”, các bạn hoan hô. Tôi rất cảm động. Nhưng các bạn biết không? Có một số anh em không hiểu tôi, và tôi bị mắc tiếng oan! Đó là một hy sinh. Một hy sinh khá đau đớn, vì là hy sinh danh dự… Âu cũng là vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc”[1]

Cùng thời điểm, ông là thành viên của Hội đồng soạn thảo Hiến pháp kiêm thuyết trình viên (theo Dụ số 6 ngày 30 tháng 6 năm 1945) để soạn thảo một Hiến pháp cho nước Việt Nam mới (Đế quốc Việt Nam).

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông từ chức cùng với nội các Trần Trọng Kim về sống tại Hà Nội.

Trả lời của Phan Anh tại cuộc phỏng vấn của nhà sử học Na-Uy Stein Tonnesson năm 1989:

“… Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình… Chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, công chức làm việc đó, đòi Nhật làm việc đó.

Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không phải là “đồng tác giả”, không phải là “kẻ hợp tác” với họ; phải giữ thế trung lập”.

“… Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự… Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi kéo chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy chúng tôi lập Bộ Thanh niên. Phong trào Việt Minh đã nổi tiếng và gây được hiệu quả là vì được thanh niên ủng hộ. Chúng tôi vận động một phong trào thanh niên là nhằm mục đích quốc gia và mục đích xã hội. Phong trào thanh niên của chúng tôi không hề xung đột gì với Việt Minh. Cùng theo đuổi một mục tiêu như nhau mà!”…

Sau khi Quốc hội khóa 1 được bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 và thành lập Chính phủ Liên hiệp Quốc gia, ông được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.[2]

Đến tháng 7 năm 1946, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (Trưởng đoàn là Phạm Văn Đồng) đi dự hội nghị Fontainebleau đàm phán với chính phủ Pháp.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, 19 tháng 12 năm 1946, ông tham gia kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946-1954).

Năm 1947, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế [3], thành viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao (năm 1949),[4].

Tháng 7 năm 1954, ông là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève.

…Luật sư Phan Anh có 2 đời vợ. Vợ cả của ông là bà Đỗ Thị Thao, Tiến sĩ Dược khoa, Dược sĩ hạng nhất ở Paris (Pháp). Bà sinh cho ông 3 con trai là Phan Trúc Long[9], Phan Trí Vân và Phan Tân Hội. Bà Thao mất năm 1952. Vợ sau của ông là bà Đỗ Thị Hồng Chỉnh (gọi bà Đỗ Thị Thao là cô ruột) Cử nhân Sư phạm. Bà cũng sinh cho ông 3 con trai, đặt tên là Phan Tú Tùng, Phan Triều Dương, Phan Thiên Thạch.

(Văn bản 3)

Phan Điện (1875-1945)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_%C4%90i%E1%BB%87n

Phan Điện (1875-1945), thường gọi là Cố Điện hay Đầu xứ Điện, là một danh sĩ và chí sĩ Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Cuộc sời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm Ất Hợi 1875, quê làng Tùng Ảnh, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnhHà Tĩnh), cư ngụ và sinh sống tại tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông thuộc đời thứ 21 họ Phan – Tùng Mai.

Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời tại đất Nghệ Tĩnh, hậu duệ của Tiến sĩ Phan Dư Khánh (đỗ Tiến sĩ 1481) một danh thần triều Lê, đồng tộc với Tiến sĩ Phan Bá Đạt, Thượng thư triều Nguyễn, là những bậc đại khoa đương thời.

Các bậc thân phụ của ông đều tham gia phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp. Ông thuộc hàng nhà nho Nghệ Tĩnh vừa duy tân vừa thủ cựu, chống đối chế độ bảo hộ Pháp, căm ghét triều Nguyễn bất lực để mất nước.

Sau cuộc khủng bố nghĩa quân Phan Đình Phùng do Nguyễn Thân cầm đầu, Phan Điện ra Bắc (Hà Đông) mưu sinh bằng nghề dạy học cho đến khi qua đời đầu năm Ất Dậu 1945.

Ông thường tỏ nỗi bất bình của mình trước bọn xu phụ thực dân, bọn tay sai bán nước nên cuộc đời cũng như thơ văn ông đều tượng trưng cho tinh thần của giới trí thức chống đối cường quyền đang lộng hành trong xã hội. Ông để lại nhiều vần thơ tự sự và trào phúng tỏ rõ khí tiết của mình, nay đã biên soạn thành tập thơ Phan Điện.

Hai con trai ông là Phan Anh và Phan Mỹ, đều là những trí thức danh tiếng tại Việt Nam giữa thế kỷ 20, từng giữ chức Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(Văn bản 4)

Những ông quan tốt

http://pcthang.vnweblogs.com/print/2432/19888

Tuesday, 26th June 2007
Trong quá trình học tập và công tác tôi có dịp quen biết hoặc tiếp xúc với một số vị quan to, trong đó có nhiều vị rất tốt. Tôi xin kể về một vài vị trong số đó. Những vị quan khác nếu có vào đây đọc thì đừng giận là tôi đánh giá họ không tốt, chẳng qua là do khuôn khổ bài viết có hạn nên tôi chưa nhắc đến tên họ.

Ông Phan Mỹ

Ông Phan Mỹ là em ruột ông Phan Anh – Bộ trưởng Bộ Ngoại thương nhiều năm. Vợ ông Phan Mỹ và vợ ông Đỗ Mười là hai chị em ruột. Ông Phan Mỹ từng là Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Ông lại là bạn thân của bố vợ tôi.

Làm to nhưng ông Phan Mỹ rất bình dân và giản dị. Dịp Tết năm 1974 ông Phan Mỹ (ngoài đời có tên gọi là chú Bảy) hẹn tôi mồng hai Tết đến để cùng ông đi thăm một số bạn bè cũ của bố vợ tôi mà tôi chưa được biết. Bố vợ tôi đã mất trước đó lâu rồi…

(Văn bản 5)

Bùi Tường Chiểu

http://mobile.coviet.vn/detail.aspx?key=B%C3%B9i+T%C6%B0%E1%BB%9Dng+Chi%E1%BB%83u&type=A0

Luật sư Bùi Tường Chiểu, sinh năm 1904 tại thành phố Hà Nội, không rõ năm mất, quê gốc Thái Bình. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại; là con của Tổng đốc Bùi Thiện Căn, cháu nội của Bùi Khánh Diễn và là cháu gọi Bùi Thiện Cơ bằng chú. Ông là một luật sư nổi tiếng ở Hà Nội và Sài Gòn trước năm 1975 và cũng là người đỡ đầu cho nhiều luật sư nổi tiếng sau này, trong đó có Phan Anh. Ông là tác giả của tác phẩm La Polygamie dans le Droit Annamite (Chế độ đa thê trong pháp chế Việt Nam).

Theo Bùi tộc chi phổ tục biên do cụ Bùi Thiện Căn viết ngày 25-12-1918 bằng chữ Quốc ngữ thì dòng họ Bùi Tường dời lên Thăng Long từ đời vua Lê Anh Tông (1556 – 1573) ở tại đầu ngõ Phất Lộc. Dòng họ Bùi Tường từ khi lên Thăng Long đã đóng góp cho nhiều triều vua các công thần và trí thức có tiếng, trong đó có Bùi Tường Chiểu.

Thuở nhỏ, Bùi Tường Chiểu học ở trường Albert Sarraut, rồi học luật ở trường Cao Đẳng Đông Dương. Sau đó, ông sang Pháp du học và tốt nghiệp tiến sĩ luật. Sau khi tốt nghiệp, ông làm luật sư ở trường Đại học Luật khoa Paris. Năm 1934, ông về Hà Nội, làm luật sư Tòa Thượng thẩm Hà Nội.

Năm 1941, ông gia nhập Luật sư đoàn, là thành viên của Hội đồng Thành phố Hà Nội trong niên khóa 1936 – 1940. Trước năm 1954, ông sống ở Hà Nội.

Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, từng tham gia trong phong trào đấu tranh chống đàn áp Phật giáo tại Sài Gòn những năm 1963.

Thời gian 1971 – 1973, ông là giảng viên môn Luật Dân sự tố tụng tại trường Đại học Luật khoa Sài Gòn.

Trước 1975, ông cũng có mở văn phòng Luật sư tại số 148 Pasteur, Sàigòn và tham gia bào chữa cho nhiều vụ án, gây được tiếng vang lớn. Sau 30-04-1975, ông theo gia đình sang Pháp định cư. Khoảng 3 năm sau, ông mất tại Pháp. Ông có 3 người con là Bùi Tường Minh, Bùi Nam Hoa và Bùi Ánh Hồng. Hiện nay vợ con ông đang sống tại Paris, Pháp. (Tin do độc giả – người từng làm thư ký tại văn phòng Luật sư Bùi Tường Chiểu ở Sài Gòn trước năm 1975 – cung cấp cho Vietgle).

(Văn bản 6)

Vũ Văn Hiền (19111963) http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_V%C4%83n_Hi%E1%BB%81n

Vũ Văn Hiền (19111963) là một nhà báo, chính khách, chuyên gia về Luật và Tài chính Việt Nam. Ông đồng sáng lập báo Thanh Nghị dưới thời Pháp thuộc, và là Bộ trưởng Bộ Tài chính trong chính phủ Trần Trọng Kim[1].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1911 tại thôn Thổ Cầu, xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nhà Nho nghèo. Mồ côi cha từ nhỏ, ông đã được họ hàng nuôi ăn học cho tới bằng Tú tài bản xứ. Từ đó, ông tự mưu sinh học tập, đỗ thủ khoa Cử nhân Luật tại Hà Nội năm 1937 và nhận được học bổng du học tại Pháp. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa Đại học Paris năm 1939, với luận án “La propriété communale au Tonkin”.

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, ông từ Pháp trở về quê hương. Từ 1939 đến 1941, ông làm trợ tá cho giám đốc Nha Tài chánh Đông Dương tại Hà Nội, trước khi mở văn phòng luật sư riêng của mình. Năm 1941, ông cùng Vũ Đình Hòe và Phan Anh chủ trương ra báo Thanh Nghị, cơ quan ngôn luận tập hợp những trí thức trẻ yêu nước. Ông là cây bút cột trụ của tờ báo, với bút hiệu Tân Phong. Tờ báo được phát hành cho tới năm 1945.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Vua Bảo Đại mờiTrần Trọng Kim làm thủ tướng chính phủ, và nội các được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945. Ông được mời tham gia chính phủ này ở chức Bộ trưởng Bộ Tài chính. Với tư cách đó, ông tích cực trong Hội đồng Cải cách Tư pháp và Tài chínhgồm 16 thành viên với nhiệm vụ soạn thảo cơ cấu mới cho chính phủ Đế quốc Việt Nam.

Sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố thành lập, Ông được mời tham gia phái đoàn Việt Nam, do Nguyễn Tường Tam dẫn đầu, đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt để chuẩn bị cho một hội nghị ở Pháp, với vai trò Tổng thư ký. Ông tiếp tục được chọn vào phái đoàn Việt Nam đi Hội nghị Fontainebleau diễn ra sau đó, nhưng cuối cùng ông bị bệnh nên đã không đi.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội một thời gian. Năm 1954, ông và gia đình di cư vào Nam, ở Sài Gòn. Từ đó ông ngừng mọi hoạt động chính trị. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục sự nghiệp luật sư, nổi bật tại các phiên tòa xử những vụ án lớn về chính trị và tài chánh. Đồng thời, ông giảng dạy ở khoa LuậtĐại học Sài Gòn.

Ông còn là tác giả của một số sách chuyên môn về kinh tế và tài chính, xuất bản ở Hà Nội và Sài Gòn.

Ông mất năm 1963 tại Sài Gòn.

(Văn bản 1)

Bộ trưởng “Tư pháp kháng chiến” Vũ Đình Hòe

http://www.moj.gov.vn/70namnganhtuphapvietnam/News/Lists/TuLieu/View_Detail.aspx?ItemID=33

  1. Từ Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên

Bộ trưởng Vũ Đình Hòe sinh ngày 1-6-1912 tại làng Do Lộ, Thanh Oai, Hà Đông trong một gia đình có truyền thống giáo dục. Ông là cháu 5 đời Cụ nghè Vũ Tông Phan, người đã được đặt tên cho một tuyến phố tại Hà Nội.[1]

Bố ông là thầy đồ nho mở lớp dạy học tại làng Mậu Hòa, Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay là một thôn của xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội), đó là một lớp học dạy “đủ loại từ vỡ lòng đến lớp ba, đủ thứ chữ: chữ Hán tam tự kinh, chữ quốc ngữ, đến chữ Tây bập bẹ vài tiếng…” (Vũ Đình Hòe: Thuở lập thân).

Từ năm 7 tuổi Vũ Đình Hòe được ra học ở thành phố Hà Nội, theo học trường tiểu học Pháp Việt Yên Phụ bên bờ hồ Trúc Bạch, sau đó lên học trường Bảo hộ (trường Bưởi) cạnh Hồ Tây.

Năm 1930, ông đỗ Cao đẳng Tiểu học rồi ở nhà tự học thi Tú tài Tây phần thứ nhất, đồng thời dạy học tại nhà. Sau đó, ông vào lớp nhất trường Trung học Pháp Albert Sarraut học thi tú tài Tây phần thứ hai.

Ông tốt nghiệp Cử nhân luật tại Đại học Luật khoa Hà Nội khóa 2. Sau đó ông chọn nghề dạy học tại các trường tư thục nổi tiếng là Thăng Long và Gia Long. Ông tích cực tham gia các hoạt động xã hội như tham gia Hội Ánh sáng chống nạn nhà ổ chuột, tối tăm, thiếu vệ sinh, thiết kế mẫu nhà Ánh sáng từ tranh tre, nứa lá (sau này ứng dụng rất hiệu quả trên chiến khu Việt Bắc), tham gia phong trào truyền bá học quốc ngữ, diễn thuyết cổ động phong trào chống nạn mù chữ…

Năm 1937 ông lấy vợ, vợ ông là con cụ Nguyễn Văn Khuê, Tổng đốc Thái Nguyên.

Năm 1938, hai bạn thân của ông là Phan Anh và Vũ Văn Hiền nhận được học bổng đi học tiến sỹ luật tại Pháp, ông không tham gia được “vì nặng gánh gia đình, một mình đi làm nuôi 14 miệng ăn”. Ông viết: Mặc dù, bố vợ, bố đẻ, anh ruột tha thiết khuyên tôi “xuất chính”. Tôi “tha thiết” nghề tự do. Không len được vào hàng ngũ luật sư, vì phải làm tập sự 5 năm không lương, tại một văn phòng luật sư đương chức (đại đa số là người Pháp). Tôi chọn nghề dạy học tư vì đã quen nghề…”. (Vũ Đình Hòe: Hồi ký Vũ Đình Hòe).

Từ tháng 5-1941 đến tháng 8-1945, ông tham gia nhóm trí thức cấp tiến ra báo Thanh Nghị, phát hành được 120 số. Tôn chỉ mục đích hoạt động của báo được giải thích qua tên báo “Thanh Nghị” như sau: “Thanh nghị trong lịch sử có đặc điểm là tiêu biểu cho tư tưởng của dân. Bởi thanh nghị trước hết là nghị luận của những người xử sĩ, nghĩa là những người không trực tiếp gánh vác việc công, khi những kẻ sĩ ấy sống gần dân chúng, cùng một phe với dân chúng, kẻ xử sĩ cảm thấy những cảm giác và thấu hết tri giác của dân chúng, tinh thần của công chúng. Thanh nghị theo nghĩa đó nay gọi là “dư luận” hay “công luận””. (Vũ Đình Hòe: Hồi ký Vũ Đình Hòe)

Tháng 2-1943, thực hiện chính sách rộng rãi, mềm dẻo trong vận động trí thức, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản ra Nghị quyết nhằm “giúp giai cấp tư sản dân tộc và những người trí thức thành lập một đảng cách mạng, mở rộng thêm Mặt trận tổ quốc dân tộc thống nhất chống phát xít Nhật Pháp”. Vì vậy Đảng đã giúp cho nhóm sinh viên Dương Đức Hiền và nhóm Thanh Nghị lập ra Đảng Dân chủ Việt Nam và đảng này đã gia nhập Mặt trận Việt Minh. Vũ Đình Hòe là một trong các thành viên sáng lập của Đảng Dân chủ Việt Nam (30 tháng 6 năm 1944) và giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng. Trong Quốc hội khóa I năm 1946 đảng này giành 46 ghế. Trong Hồi ký, Bộ trưởng Vũ Đình Hòe dành một chương để nói về Tôi tham gia thành lập Đảng dân chủ như thế nào?

Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) thì nhóm Thanh Nghị phân hóa: một bộ phận tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, một bộ phận trong đó có Vũ Đình Hòe đẩy mạnh việc tiếp xúc với Việt Minh. Vào một ngày cuối tháng 7 năm 1945, Vũ Đình Hòe khởi hành lên Chiến khu, đó là một quyết định mà ông gọi là “Mộng đẹp của mọi thanh niên lập chí ngày đó”.  Tuy nhiên, do tình hình khẩn trương, Đại hội Quốc dân đã quyết định Tổng khởi nghĩa, mọi người đã quay về xuôi. Hồi ký của ông ghi lại lời của đồng chí Tô với ông: “Đại hội Quốc dân đã bầu Ủy ban giải phóng dân tộc, tức chính phủ lâm thời: Đồng chí Dương Đức Hiền, đồng chí Cù Huy Cận có chân trong đó. Đáng lẽ có cả đồng chí Vũ Đình Hòe đây. Thôi để rồi đây bổ sung cùng với vài vị nữa; khi khởi nghĩa thành công…”. Ở trung tâm chiến khu chưa đầy một ngày, ông quay về Hà Nội khi cuộc khởi nghĩa cách mạng đang nổ ra và giành thắng lợi.

Sau tổng khởi nghĩa thành công, ngày 28-8-1945 tại Hà Nội, Ủy ban dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới. Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, nhiều ủy viên của Việt Minh đã rút lui để các nhân sĩ, trí thức ngoài Đảng, ngoài Việt Minh tham gia Chính phủ lâm thời. Thành phần Chính phủ lâm thời có Bộ Quốc gia giáo dục, ông Vũ Đình Hòe giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục. Về việc này, Hồi ký của ông ghi: “Hôm sau tôi ăn mặc chỉnh tề, đi bộ từ ô Sơn Tây lên Bộ Nội vụ – Bắc Bộ phủ. Đưa giấy giới thiệu của Đc Tô, tôi được ông Bộ trưởng (Võ Nguyên Giáp) cho “yết kiến”. Tay bắt mặt mừng. Anh Võ báo tin ngay Chính phủ lâm thời đã quyết định mở rộng và cử tôi làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội. Tôi tần ngần một giây. Anh Võ hiểu ý “Có lẽ công tác cứu tế không hợp với anh?”-Vâng, tôi chỉ quen dạy học. Anh Võ hứa sẽ bàn lại. Mấy ngày sau công bố danh sách Chính phủ, tôi được chuyển sang Bộ Quốc gia Giáo dục, và cụ Nguyễn Văn Tố sang Bộ Cứu tế Xã hội. Đúng nguyện vọng của đương sự!”Trên cương vị Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, ông có nhiều công lao trong việc cải cách giáo dục, đẩy mạnh bình dân học vụ, ông đã tiếp ký Sắc lệnh số 45 ngày 10 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Ban Đại học Văn khoa – tiền thân trực tiếp của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày nay. Tiếp đó, ông đã ký Nghị định ngày 03/11/1945 (quy định các môn học được giảng dạy tại Ban Đại học Văn khoa) và Nghị định ngày 07/11/1945 về việc tổ chức giảng dạy và nhân sự của Ban Đại học Văn khoa.

Ngày 6-1-1946 cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công trên cả nước. Tính chung trên cả nước có 89% số cử tri đi bỏ phiếu và đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội. Hồi ký của ông ghi lại đó là “một ngày hội tưng bừng”, ngày “mở ra kỷ nguyên Dân chủ của lịch sử dân tộc Việt Nam”. Toàn thành phố Hà Nội có 187 000 cử tri thì có 172 765 cử tri đi bỏ phiếu, ông được 124 898 phiếu và trở thành một trong những đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên.

Do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh không trúng cử đại biểu Quốc hội[2] nên Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe được điều động sang giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến từ ngày 2-3-1946. Hồi ký của ông ghi lại tâm trạng của ông trước quyết định khá “đột ngột” này của Chính phủ:

“Chuyện đời thật éo le. Tôi chỉ được ở Bộ Quốc gia Giáo dục có 5 tháng. Đang hăng say với công việc và vui với anh em, tôi nguyên là giáo viên (trường tư), tuy học luật, nhưng chưa bao giờ hành nghề luật, thì đùng một cái, ngay sau ngày mit tinh mừng đại biểu Quốc hội của Thủ đô, cụ Hồ cho gọi lên bảo:

– Chính phủ có ý chuyển chú sang Bộ Tư pháp. Chú nghĩ thế nào?

Tôi không dấu được sự choáng váng. Vì biết rõ ở Bộ Tư pháp lúc ấy đang có một số nhân viên, đảng viên Quốc dân, cứ tìm mọi cách vận động lật đổ ông Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh để giành lấy cơ quan chuyên chính này vào tay đảng của họ. Ta nhớ lại lúc đó, Tổng bộ Việt Minh chủ trương nhân nhượng, chia ghế trong Chính phủ lâm thời cho hai đảng Việt Quốc, Việt Cách từ hải ngoại mới về nước…

Tôi nghĩ bụng sang Bộ Tư pháp bây giờ thì khác nào lao đầu vào tổ kiến lửa. Như đoán được ý thầm vụng ấy (có lẽ tôi đã lẩm bẩm trong họng!), cụ mỉm cười:

– Đúng là tổ kiến lửa, phải không? Nhưng chính vì thế mà chú nên nhận.

Tôi hiểu ý cụ.

– Vâng, thưa Cụ. Tôi xin nhận.

– Vui vẻ chứ?

– Dạ vui vẻ. Vì tin sẽ được sự chỉ bảo, khi cần, của Cụ Chủ tịch…”

Ông đã giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Tư pháp suốt 15 năm sau đó, từ ngày 2-3-1946 đến ngày 15-7-1960.…

(Văn bản 2)

Chuyện chưa kể về chú tôi, cụ Vũ Đình Hòe

09/02/2011

http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/8464/chuyen-chua-ke-ve-chu-toi–cu-vu-dinh-hoe.html

– “Sẩy cha còn chú”, dân ta nói vậy. Cha tôi bị bệnh mất sớm, mẹ kẹt lại trong Huế khi cuộc Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Tôi cùng em Vân tôi được chú Hòe nuôi, chăm lo cho chúng tôi như con đẻ. Lúc ấy tôi đã 15 tuổi nên hiểu biết khá nhiều về chú.

Vị bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước ta

Vị Bộ trưởng khuyến khích sinh viên cãi thầy

Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên từ trần

Dương Trung Quốc: Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn

15 năm bị đối xử bất công

Tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa Đại học Đông Dương thời Pháp thuộc, con đường làm quan rộng mở thênh thang, nhưng chú tôi không ra làm quan với chính quyền của “mẫu quốc”. Ông chọn con đường dạy học tư tại các trường Thăng Long và Gia Long ở Hà Nội.

Nhờ truyền thống sư phạm của Tổ tiên, ông dạy giỏi nên có cuộc sống dư dật, đủ nuôi cha mẹ già và vợ con. Ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để thể hiện cái chí nam nhi: tích cực tham gia những hoạt động xã hội tự do như làm Chủ nhiệm các báo Thanh Nghị và Thanh Nghị Trẻ em, làm Phó chủ tịch Hội truyền bá Quốc ngữ, làm Đồng chủ tịch hội “Ánh sáng” với ông Nguyễn Tường Tam, chuyên vận động dựng nhà tranh tre sáng sủa, hợp vệ sinh cho dân nghèo, tham gia Tổng hội sinh viên, cùng họ đi về các vùng quê tuyên truyền vệ sinh, phổ biến kiến thức kỹ thuật nông nghiệp thường thức…

Chắc hẳn những hoạt động yêu nước tiến bộ của chú đã được Bác Hồ biết đến nên mới tin tưởng trao cho chú những trọng trách trong Chính phủ cách mạng tháng 8 – 1945. Về quãng đời tham chính này của ông, từ sau đại hội Đổi mới 1986 của Đảng CSVN, báo đài đã viết nhiều, nói nhiều nên tôi không kể nữa.

Chỉ xin nói thêm rằng, là đứa con gái lớn đã biết nghĩ và phải quán xuyến việc nhà, chứ không còn vô tư hồn nhiên như bầy em, tôi đã để ý thấy không ít buổi từ cơ quan Bộ Tư pháp trở về, chú tôi ngồi tư lự, ăn không ngon miệng, đêm trằn trọc trở mình.

Và về sau còn chịu nhiều đối xử bất công nữa: suốt mười lăm năm từ 1960 đến 1975 “đứng” ở bậc lương chuyên viên 5, nhưng ông vẫn âm thầm làm việc với tinh thần cống hiến, tích cực nghiên cứu và biên soạn nhiều công trình có giá trị về luật kinh tế và luật dân sự, được giải thưởng của ngành, được bầu là Chiến sĩ thi đua của Viện Khoa học xã hội.

Năm 1975 chú về hưu không một huân huy chương, mặc dù tham gia trọn vẹn hai cuộc Kháng chiến. …

Trong 4 người nối nghiệp sư phạm của chú có 2 được phong là Nhà giáo ưu tú. Em thứ ba GS.TS Tấn Khiêm được báo chí gọi là “Vua cần trục”, em út Băng Tâm có 2 bằng thạc sĩ biểu diễn và sư phạm piano, 1 bằng tiến sĩ kinh tế lượng, hiện đang giảng dạy tại Đại học Hawai (Hoa Kỳ).

Nếp sống giản dị

…Năm 2008, từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội có việc, cụ đến gia đình thắp hương cho cha chúng tôi. Ban thờ tôi để tận trên gác 4, cầu thang nhỏ và dốc, chân Cụ thì đã yếu rồi, đi lại chậm chạp, khó khăn, tôi thương quá nên cố sức can rằng: thôi, chú cứ để cháu với em Khôi lên thắp hương thay mặt chú là được rồi.

Cụ đáp: “Không, 4 chứ 5 – 7 tầng tôi cũng phải trèo lên tận nơi. Ông ấy không chỉ là anh tôi, ông ấy còn như bố tôi nữa: mới 17 tuổi, học rất giỏi ở trường Bưởi mà rẽ ngang đi học nghề để nuôi tôi ăn học”. Tất cả chúng tôi đều rưng rưng…

Cuộc sống vợ chồng của chú thím tôi luôn là tấm gương sáng cho chúng tôi và cho cả con cháu chúng tôi nữa noi theo. Chú thím đính hôn ba năm mới cưới. Thím tôi là một tiểu thư khuê các, con gái út cưng chiều của một ông quan Tuần phủ, vậy mà trong Kháng chiến chống Pháp gian khổ, đặc biệt 3 năm đầu chú tôi làm việc Chính phủ không lương, một mình thím đảm đang giang sơn nhà chồng, cũng lội ruộng cấy lúa, đứng lò sao chè, nuôi dê vắt sữa, cuốc vườn tăng gia rau đậu… không từ việc gì để nuôi gia đình 14 miệng ăn, kể cả 3 cha con chúng tôi, cho chồng yên tâm lo việc nước…

Vũ Thị Tuyết (Cựu học sinh trường Đồng Khánh – Huế)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s