Bài 7. Tham Khảo: Thử đi tìm sự thật vụ án Ôn Như Hầu

http://www.quochochue.net/forum/lofiversion/index.php?t18037.html

Thử đi tìm sự thật vụ án Ôn Như Hầu

Từ góc nhìn của phía Công an Nhân dân: Bài được đăng trong báo Công An nhân dân. Bài ghi lại theo lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa. Trần Quang ghi. Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa

Theo ông kể, cuối tháng 6/1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu thâm độc này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng ta lúc bấy giờ đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ.

Nha Công an Trung ương cử trinh sát điều tra và thu thập được nhiều chứng cứ chứng minh các hành vi tội ác của bọn phản động quốc dân Đảng. Cụ thể là chúng đang ráo riết in tài liệu, truyền đơn phản động, bắt giết cán bộ… để thực hiện âm mưu đảo chính. Một cuộc họp của Nha Công an kéo dài đến 12h đêm ngày 11/7/1947 đã đi đến quyết định phải bí mật, bất ngờ tập kích trụ sở của chúng ở 132 Đuy-vi-nhô (phố Nguyễn Gia Thiều ngày nay).

Báo Công an mới, phát hành tháng 11/1946 đăng về vụ án Ôn Như Hầu.

“Hôm đó là ngày 12/7/1946, vào khoảng bảy giờ sáng, Đội trinh sát đặc biệt chúng tôi ngồi trên chiếc ôtô hòm từ Sở Công an Bắc Bộ (Công an Hà Nội bây giờ) theo đường Trần Bình Trọng đến Ôn Như Hầu. Theo kế hoạch, tôi mang theo mệnh lệnh sự vụ để thực hiện nhiệm vụ bắt, khám xét những người có mặt tại trụ sở số 7 phố Ôn Như Hầu can tội tống tiền, bắt cóc người đưa về Sở Công an Bắc Bộ. Khi chúng tôi đến thì lực lượng Công an xung phong và tự vệ chiến đấu của ta đã bao vây trụ sở.

Tôi xuống xe và ra hiệu cho toàn đội trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Việc đầu tiên là cắt dây điện thoại để không cho chúng liên lạc với nhau. Với thái độ đĩnh đạc, tôi tiến sát đến cổng, nói với tên lính gác (lúc đó có khoảng một tiểu đội lính gác vũ khí đầy đủ và trên hành lang cũng có nhiều lính có vũ khí, sát khí đằng đằng, sẵn sàng bấm cò nhả đạn…) Tôi lớn tiếng gọi chúng mở cổng, đón tiếp người của Sở Công an Bắc Bộ đến nói chuyện với chỉ huy của chúng.

Lời qua tiếng lại, rồi sau khoảng năm phút chúng buộc phải mở cổng và chỉ cho một mình tôi vào trụ sở. Chúng đưa tôi đến sảnh đường và Phan Kích Nam đón tôi ở đây. Sảnh đường trang hoàng sang trọng, có ý khoe khoang các loại vũ khí và bọn vệ sĩ.

Tên Phan Kích Nam to cao, vừa đeo súng, vừa mang kiếm lê thê ăn mặc theo kiểu nhà binh Nhật, mắt đeo kính. Trước khi vào gặp Phan Kích Nam, chúng yêu cầu tôi giao súng ngắn cho chúng giữ, chỉ được đi người không. Tôi làm theo yêu cầu của chúng và thái độ ngoan ngoãn. Nhưng trong đầu đang nghĩ cách tấn công bất ngờ nếu có thời cơ.

Phan Kích Nam đón tôi và tự giới thiệu “Tôi Phan Kích Nam, Đại biểu Quốc hội, Trung ương uỷ viên Quốc dân Đảng, Tư lệnh đệ nhất chiến khu…” Sau ít phút, hắn ngạo mạn hỏi tôi: “Vậy tôi được vinh dự đang nói chuyện với ai đây?”. Tôi ôn tồn xưng tên, chức vụ, nói rõ đến bắt, khám xét đưa những người có mặt ở số 7 Ôn Như Hầu về Sở Công an Bắc bộ để xét hỏi, vì có nhiều đơn tố cáo hành động bắt cóc, tống tiền.

Nghe vậy, Phan Kích Nam cười ngạo nghễ, cầm tờ mệnh lệnh đọc qua và nói rành rọt: “Chú em ngây thơ ơi. Tại sao các người ký lệnh bắt, khám trụ sở của một đảng. Ta là Đại biểu Quốc hội, là bất khả xâm phạm mà người ký lệnh bắt ta lại là Phó chủ sự của Việt Minh, là cái thá gì mà có sự lạ đời như vậy. Phải có ý kiến Chính phủ của ông Hồ Chí Minh thì mới nói chuyện với Phan Kích Nam này được”.

Bực lắm nhưng tôi cũng tỏ ra nghe lời và hứa với nó sẽ về báo cáo, có gì sẽ quay lại. Nó cười thú vị, đắc chí và nói: “Có thế chứ, có thế mới đúng cách xử sự của người Nhà nước chứ”. Nó gọi vệ sĩ đưa súng trả lại cho tôi và tiễn tôi ra về.

Tôi ra đến ngoài trụ sở thì anh em xúm lại hỏi tình hình. Tôi chỉ trả lời: “Tất cả cứ sẵn sàng và chờ lệnh trên. Sau đó tôi lên ôtô về trụ sở Công an Bắc Bộ có lối đi sang Nha Công an trung ương. Tôi được mời sang gặp các đồng chí: Lê Giản, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Đức Minh, Lê Hữu Qua. Tôi báo cáo lại sự việc gặp Phan Kích Nam và nói thêm: “Nếu có lệnh nổ súng tấn công, e sẽ bị thương vong nhiều, bọn chúng phòng bị rất chu đáo”.

Tôi đề nghị mời tên Phan Kích Nam về gặp các chỉ huy của ta lúc này, rồi sau đó sẽ thuyết phục chúng cho ta khám xét. Ý kiến của trên đồng ý và bảo tôi là phải tiến hành buộc Phan Kích Nam phải cho ta khám xét và đưa tất cả những người ở đó về để xét hỏi. Sau khoảng mười lăm phút, tôi lại lên xe đến số 7 phố Ôn Như Hầu.

Lần thứ hai, lại vẫn như lần trước, tôi vào một mình, trao súng lại cho chúng và Phan Kích Nam vỗ về an ủi và khen tôi trẻ, khoẻ và nói giọng như là khuyên tôi về với chúng sẽ được trọng dụng. Tôi ầm ừ và trong đầu cố nghĩ kế hoạch bắt hắn mà không gây ồn ào, tránh thương vong cho anh em.

Hắn thấy tôi dễ bảo, tỏ vẻ ngoan ngoãn nên mang nước giải khát mời tôi uống và uống cùng. Khuyên tôi quay về báo cáo, hắn nói: “Không ổn đâu. Chú mày cứ nói lại với mấy ông như vậy. Rút lui thôi. Nếu manh động sẽ ăn đạn và sẽ lĩnh trách nhiệm với Quốc hội. Đừng có đến đây nữa”. Hắn nói giọng khu 5 nghe oang oang, the thé.

Một lần nữa, tôi suy nghĩ là phải quay lại báo cáo sự việc và xin trình bày kế hoạch bắt Phan Kích Nam. Khoảng 10h tôi gặp cấp trên báo cáo. Trên cho ý kiến là dùng mọi cách bắt cho được Phan Kích Nam đưa về là xong.

Lần thứ 3 tôi quay lại số 7 Ôn Như Hầu khoảng 10h30, tên vệ sĩ chờ sẵn để đưa tôi vào gặp Phan Kích Nam. Khi vào tôi chủ động tháo thắt lưng đeo súng đặt trên bàn. Phan Kích Nam rót nước mời tôi. Một lát, tôi tỏ ra buồn bực và đứng dậy cáo biệt, rút lui, vờ quên súng ở bàn. Phan Kích Nam vội vàng cầm súng của tôi đi theo và bảo: “Này chú em, chú quên súng này”.

Nhanh như cắt, tôi rút khẩu colt từ trong bụng (bên ngoài tôi mặc blouson), chĩa thẳng nòng súng vào đầu nó và dõng dạc quát: “Đứng im, động đậy tao bắn vỡ sọ”. Và bằng động tác nhanh gọn, lấy mu bàn tay trái chặt vào gáy hắn. Hắn lảo đảo rồi khuỵ xuống. Tôi bẻ quặt tay hắn ra đằng sau và ra lệnh tất cả phải bỏ súng, không được chống cự. Hắn ngoan ngoãn làm theo lệnh của tôi. Sau đó tôi lệnh cho anh em trinh sát và các lực lượng theo đúng kế hoạch xông vào bắt xích tay tất cả đưa chúng về Sở Công an Bắc Bộ”.

Khám phá vụ án này, ta đã thu được toàn bộ tài liệu phản động như truyền đơn, khẩu hiệu, áp phích, thông cáo của chúng, có loại đã buộc thành bó, có loại đang in dở. Đặc biệt là ta đã thu được một bản “Kế hoạch đảo chính chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Theo kế hoạch này thì khi quân Pháp diễu binh qua Bắc Bộ Phủ, bọn quốc dân Đảng sẽ cho ném lựu đạn vào lính da đen để chúng mượn cớ đánh chiếm các cơ quan đầu nào của ta rồi lập Chính phủ bù nhìn thân Pháp ở Việt Nam.

Từ góc nhìn của những người trong Quốc Dân Đảng: Bài viết của Nghiêm Văn Thạch từ Thông Luận

Đảng cộng sản khui lại vụ án Ôn Như Hầu

Đảng cộng sản khui lại vụ Ôn Như Hầu

Nghiêm Văn Thạch

Báo Nhân Dân, cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 19-8-2005 đã đăng bài “Vụ án phố Ôn Như Hầu” của thiếu tướng công an Lê Hữu Qua, nhắc lại vụ án Ôn Như Hầu.

Lê Hữu Qua tự giới thiệu như là người trực tiếp chỉ huy một tiểu đội tấn công cơ sở của đảng Đại Việt ngày 12-7-1946 ở phố Duvigneau và nhiều cơ sở khác của Đại Việt sau đó. Trong bài viết này Lê Hữu Qua chỉ nhắc tới vụ Ôn Như Hầu nhưng không nói ông ta có phải là người chỉ huy hay tham gia việc tấn công cơ sở Ôn Như Hầu của Việt Nam Quốc Dân Đảng hay không.

Cần nhắc lại là vào lúc đó hai đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng do ông Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã đi tới thống nhất dưới danh xưng chung là Việt Nam Quốc Dân Đảng, gọi tắt là Quốc Dân Đảng.

Bài báo cáo Lê Hữu Qua khoe khoang chiến tích của đơn vị ông, kể cả những miếng võ ngoạn mục của đội xung kích do ông chỉ huy, nhưng với người đọc có óc nhận xét nó là một tố giác đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam vì ông ta viết một cách khờ khạo.

Trước hết, Lê Hữu Qua nói rằng Đại Việt âm mưu bạo động, “đào công sự chiến đấu, canh gác ngày đêm, tăng cường lực lượng bảo vệ, nội bất xuất ngoại bất nhập”. Nhưng ông ta thuật lại rằng chỉ tấn công cơ sở này với một tiểu đội (khoảng 10 người) và thành công dễ dàng vì chỉ có một “tên lính canh ngủ gật” và khoảng 20 người đang ngủ say. Rõ ràng là một mâu thuẫn ngớ ngẩn chứng tỏ đây chỉ là một chỗ làm việc bình thường của Đại Việt bị tấn công trong lúc không nghĩ là mình sẽ bị tấn công. Lê Hữu Qua cũng không nói tới bất cứ một vũ khí nào, điều này chứng tỏ những đảng viên Đại Việt này hoàn toàn tay không. Như vậy không hề có cơ sở chiến đấu, không có việc chuẩn bị bạo động. Và đây là sự thực.

Mặt khác, Lê Hữu Qua cũng xác nhận là Đảng Cộng Sản Việt Nam vô cớ tấn công. Lê Hữu Qua viết “theo nhận xét của Nha, bọn chúng sẽ ra tay vào ngày 14-7”. Chỉ “nhận xét” thôi là ra đòn, và nhận xét theo bằng chứng nào thì Lê Hữu Qua hoàn toàn không nói, vì không có. “Nha” mà Lê Hữu Qua nói đến là Nha Công An, lúc đó do Lê Giản làm giám đốc, cơ quan này chỉ huy toàn bộ công an cộng sản lúc đó. Vẫn theo giọng điệu gian trá và khủng bố của cộng sản lúc đó, Lê Hữu Qua nói về “âm mưu” của Đại Việt như sau :

“Vậy là “kịch bản” của chúng đã rõ ràng : khi bọn Pháp diễu binh ngày 14 tháng 7, bọn Đại Việt sẽ ném lựu đạn vào đoàn duyệt binh, chúng còn ghi rõ, chỉ ném vào bọn lính da đen !!! Pháp sẽ vu khống Việt Minh đánh chúng và lập tức đánh úp các cơ quan đầu não và bắt các lãnh tụ của ta. Đại Việt sẽ đảo chính tại Hà Nội và các cơ sở của chúng ở địa phương sẽ nổi dậy hưởng ứng âm mưu của thực dân Pháp và tay sai quả là thâm độc và nguy hiểm nếu công an ta không đánh được một đòn quyết định và kịp thời này”.

Nhưng Lê Hữu Qua không thể đưa ra bằng cớ nào về “kịch bản” này, vì hoàn toàn không có.

Về vụ án Ôn Như Hầu, Lê Hữu Qua viết :

“Trong đợt tấn công Đại Việt lúc đó, sau được gọi là “Vụ án phố Ôn Như Hầu”. Đó là tại số nhà 7 phố Ôn Như Hầu (sau này là phố Nguyễn Gia Thiều), ta bắt được tên Phan Văn Kích, ủy viên trung ương của Quốc Dân Đảng, tại đây có một phòng giam, còn hai người bị trói đang nằm đó cùng với rất nhiều dụng cụ đánh đập tra tấn… những người bị chúng bắt cóc về để tống tiền, máu me còn be bét trên tường, không khí nồng nặc hôi thối. Ở sân, đào lên còn thấy ba hố chôn người. Có hố mới chôn, xác nạn nhân bị chặt ra nhiều đoạn !!! Bấy giờ mới vỡ lẽ ra là nhiều chị hàng rong, anh xích lô, cả thầy giáo, cả thầy thuốc… trước kia bị mất tích là do “các nhà ái quốc” này bắt cóc về để hãm hiếp, tống tiền, sau đó là thủ tiêu tại chỗ !!!”.

Cũng lại là một trò dựng đứng vô lý với lời lẽ thô bỉ của một kẻ hạ cấp đắc chí. Cái gì bảo đảm rằng những xác chết, những vết máu không phải là do chính công an mang tới ? Đây là một trò vu khống cố hữu của công an cộng sản. Năm 1984 họ đã đem vũ khí vào trong chùa lấy cớ bắt hai đại đức Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát về tội âm mưu bạo loạn để tuyên án tử hình. Bây giờ thì họ mặc nhiên nhìn nhận là không có gì và đã trả tự do cho hai vị này dưới áp lực của dư luận. Họ cũng đã ném truyền đơn do chính họ in ra vào các trụ sở Tin Lành để lấy cớ đóng cửa các nhà thờ và bắt giam các mục sư. Đó là hơn 40 năm sau, khi họ đã văn minh nhiều so với ngày trước.

Tôi là một đảng viên trẻ của Việt Nam Quốc Dân Đảng có mặt tại Hà Nội vào thời gian xảy ra vụ Ôn Như Hầu, cũng như những vụ tấn công trụ sở Đại Việt. Tôi cũng có tới lui trụ sở Ôn Như Hầu. Tôi được tiếp xúc khá thường xuyên với một số đàn anh lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng lúc đó trong vai trò của một liên lạc viên. Các vị này hoàn toàn không có một âm mưu nào cả. Tôi khẳng định là đây chỉ là một vụ khủng bố đơn phương của Đảng Cộng Sản Việt Nam để tiêu diệt những người quốc gia mà thôi.

Có cần nhắc lại đợt khủng bố kinh khủng trong giai đoạn này không ? Tất cả những người bị phát hiện, có khi chỉ bị nghi ngờ thôi, là đảng viên của Đại Việt hoặc Việt Nam Quốc Dân Đảng đều bị tàn sát thẳng tay. Cứ căn cứ vào tình trạng của mỗi gia đình đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng thì phải nói là khoảng 2/3 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã bị giết trong giai đoạn 1945-1950. Ít nhất cũng phải có 50.000 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã thiệt mạng. Chính thân phụ tôi, chỉ bị tình nghi là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, cũng đã bị thủ tiêu. Đây là một vụ án phải được làm sáng tỏ sau này khi các sử gia có điều kiện để nghiên cứu đích xác. Tất cả những người đã sống qua giai đoạn 1945-1954 đều có thể làm chứng về đợt khủng bố kinh hoàng này mà chính ông Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm. Đây là một vết nhơ và một tội ác mà Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phải trả lời trước lịch sử.

Trái với Đảng Cộng Sản Việt Nam, Việt Nam Quốc Dân Đảng chúng tôi không theo một chủ nghĩa quốc tế, không kêu gọi hận thù giai cấp giữa người Việt, không là phân bộ của một phong trào thế giới nào cả ; những người lãnh đạo và đại bộ phận đảng viên không phải là những người giàu có, khoa bảng. Chúng tôi là những người Việt Nam nền tảng, kết hợp với nhau chỉ vì lòng yêu nước thương dân. Chúng tôi không phải là những kẻ sát nhân khát máu như những người lãnh đạo cộng sản. Và chúng tôi cũng đã hy sinh xương máu cho tổ quốc rất lâu trước người cộng sản. Chỉ vì chúng tôi không có hậu thuẫn, và phần nào cũng do sự thiếu kinh nghiệm của cấp lãnh đạo mà anh em chúng tôi đã bị tàn sát. Chúng tôi đã thất bại vì cô thế, bị cả thực dân Pháp lẫn đảng cộng sản với hậu thuẫn của Liên Xô và Trung Quốc tàn sát. Tuy nhiên đất nước thế nào cũng có một tương lai dân chủ, mới là sự kiện sẽ được làm sáng tỏ. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng lịch sử sẽ ghi nhận lý tưởng trong sáng của chúng tôi.

Tôi phủ nhận hoàn toàn những xuyên tạc trắng trợn và những lời lẽ nhơ bẩn của Lê Hữu Qua. Tôi không căm thù gì ông ta vì nghĩ rằng ông ta chỉ là một thủ hạ cuồng tín vì thiếu văn hóa mà thôi.

Còn một điều cũng rất đáng lưu ý : ông Lê Giản lúc đó chỉ huy tất cả các vụ tàn sát này. Từ hơn 10 năm qua ông đã đứng vào hàng ngũ những người đòi dân chủ và công khai đả kích đảng cộng sản. Ông không nói gì về vụ này. Sự im lặng của ông cũng rất có ý nghĩa.

Sau cùng, lệnh đàn áp đã đến từ Huỳnh Thúc Kháng, một ông đồ nho lẩm cẩm hoàn toàn do đảng cộng sản khống chế. Tôi thành thực không hiểu vì sao người ta vẫn còn dành cho ông sự kính trọng nào đó. Thật ra ông chẳng có một kiến thức hay một lý luận nào đáng kể cả. Việc làm duy nhất của ông là đã đặt bút ký lệnh phát động một đợt đàn áp đẫm máu mà những người yêu nước chân chính đã là nạn nhân. Ông không biết gì và cũng không có ác ý, ông chỉ là một công cụ ngoan ngoãn và ngây ngô trong tay đảng cộng sản mà thôi.

Nghiêm Văn Thạch
(Paris)

Published 07/02/2008 | By Hải Vân

Ngày 12 Tháng 7 năm 1946, CSVN đã dùng những thủ đọan để tiêu diệt những đảng chính trị Quốc Gia như thế nào? Dưới đây là sự thật lịch sử trích từ cuốn Lịch Sử Việt Nam Cận Đại của cụ Hoàng Văn Đào. Chắc chắn rằng trong tài liệu của Cộng Sản hoàn toàn bưng bít sự thật, và Vụ Ôn Như Hầu được bóp méo một cách không còn liêm sĩ. Vụ Ôn Như Hầu là vụ tàn sát của Cộng Sản Việt Nam đối với VNQDĐ tại số 9 phố Ôn Như Hầu Hà Nội năm 1946.

VỤ ÔN NHƯ HẦU

http://vietquoc.org/?p=590

Võ Nguyên Giáp tuyên bố là có một tên công an đến mật báo với Giáp rằng: “Trong khi y bị đặc vụ VNQDĐ bắt giam tại số 9 phố Ôn Như Hầu (Bonifacy), y lắng tai nghe trộm được những người công tác trong cơ quan ấy bàn nhau dự định đến ngày 14 tháng 7 (14 Juillet) này, nhân dịp Pháp mời Chính phủ chúng ta đến dự lễ duyệt binh, VNQDĐ sẽ đặc phái đoàn quân cảm tử đến hành thích nhân viên Chính phủ chúng ta; và người chỉ huy trong cơ quan Ôn Như Hầu, y thường nghe thấy mọi người đều nhắc đến tên Trí.”
Thế là Võ Nguyên Giáp quyết định nhằm vào trụ sở số 9 phố Ôn Như Hầu, không cần biết có sự thực hay là không?
Căn nhà số 9 phố Ôn Như Hầu lúc ấy là Trụ sở của Ban Tuyên huấn Đệ Thất Khu Đảng bộ VNQDĐ từ Nam Ngãi mới thuyên ra đóng trên tầng lầu; lớp dưới là nơi đang mở một lớp chính trị huấn luyện cho các cán bộ từ các khu đưa về.
CỘNG SẢN DÀN CẢNH

Tối hôm ấy (12.7.46), sở Quân vụ Thành phố Hà Nội hợp với Tư lệnh bộ ra lệnh giới nghiêm toàn thành; rồi lợi dụng thời gian giới nghiêm vắng người qua lại, sai Sở Công An Bắc bộ xuống Nhà thương Bạch Mai và Phủ Doãn chở một số xác chết vô thừa nhận (1) đem vứt trong trụ sở Ôn Như Hầu của VNQDĐ, đồng thời cho mai phục súng ống đầy đủ xung quanh rồi bắt đầu mở cuộc đột kích vào.
Đầu tiên bên VNQDĐ chống trả mãnh liệt và không cho họ được tự tiện xâm nhập trụ sở. Cuối cùng binh sĩ CS phải dùng đến áp lực súng đạn mới ập vào được. Thế là đang đêm họ bắt tất cả những người có trách nhiệm tại đó bí mật mang đi, trong số có: Phan Kích Nam (2), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Chữ, Phan Quán, Phạm Văn Thắng, v.v… với một số giấy tờ, trong số có một tài liệu quan trọng là chương trình kế hoạch đảo chính Chính phủ Hồ Chí Minh.

Tại trụ sở Ôn Như Hầu bị CS khủng bố, Phan Xuân Thiện tức Phan Kích Nam bị bắt giam tại Nha Công An Bắc bộ. Sau một thời gian CS đưa sang giam tại ngục thất Hỏa Lò vào sà-lim án chém. Cho mãi tới gần ngày chiến tranh Việt-Pháp (12.1946), CS đưa Phan Kích Nam lên giam vào Hầm kín (Cachot), tại đề lao tỉnh Phú Thọ, CS liền đem Phan Kích Nam cùng 12 người khác, trong số có Lê Khang ra bãi cỏ gần đề lao Phú Thọ thủ tiêu.
Sáng hôm sau (13.7), CS cho khai quật các xác chết ngoài vườn lên, xác chôn lâu có, xác mới chôn cũng có (số xác mà Công An Bắc bộ mới mang tới tối hôm trước), lập thành biên bản; rồi mời báo chí, đồng bào cũng như một số người ngoại quốc đến xem để chụp hình quay phim; rồi cho trưng bày hình ảnh tại phòng Thông tin cho công chúng vào xem, tuyên truyền vu cáo trước dư luận rằng:

– VNQDĐ đã lập riêng nơi số 9 Ôn Như Hầu một “Hắc Điếm”, chuyên cướp của và bắt cóc giết người, thủ tiêu những thường dân vô tội, và sự thực đã chứng minh. (3)
Trong lúc bọn CS dựng đứng ngụy tạo vụ “Ôn Như Hầu” để vu khống VNQDĐ thì cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch Chính phủ; cụ Huỳnh hoàn toàn bị bịt mắt, nên không hay biết gì cả! Đến lúc họ dàn cảnh xong, và loan truyền ra, rồi mới trình lên cụ Huỳnh, thì cụ chỉ còn biết dậm chân la trời: “Không ngờ bên Việt Quốc lại có những hành động quá tàn ác như thế!” Thế là ngày hôm sau, họ đệ lên cụ ký một bản văn của văn phòng Bộ Nội vụ kết tội các “hành động khát máu” kể trên, và phủ Chủ tịch cũng ban hành một quyết định “cương quyết trị tội” những kẻ đã làm việc phi pháp.

Đồng bào ở Thủ đô lúc ấy có rất nhiều người biết rõ sự thật câu chuyện vu khống này, nhưng vì áp lực chính quyền CS có ai dám hở môi! Còn những người có tên tuổi, có uy tín của phe Quốc Gia ở trong Chính phủ Liên Hiệp thì đã xuất ngoại cùng một lúc hoặc trước khi quân đội Trung Hoa rút lui. Những kẻ chậm chân còn ở lại trong nước thì đang tìm cách lẩn tránh để khỏi bị sát hại; lấy ai đâu mà tẩy vết nhơ, để thanh minh sự vụ trước đồng bào, trước lịch sử!
Cũng ngày 13.7.1946, Võ Nguyên Giáp hạ lệnh cho bộ đội địa phương được phép tấn công vào hết thảy các chiến khu VNQDĐ trừ trụ sở Trung ương Hà Nội.
Rồi thời cuộc biến chuyển nhanh chóng, đến cuối tháng 12.1946, cuộc hôn phối bất đắc dĩ giữa Pháp và Cộng Sản Việt Nam tan rã rồi bùng nổ toàn quốc kháng chiến, thế là mỗi người đi mỗi ngã; vụ Ôn Như Hầu chìm trong một nghi án của lịch sử.
Mãi về sau này khi cụ Huỳnh Thúc Kháng về ở Quảng Ngãi lãnh đạo Liên Khu V chống Pháp (1947), thỉnh thoảng cũng có đôi người bí mật tỉ tê thuật lại sự thật về vụ “Ôn Như Hầu” với cụ. Cụ Huỳnh trố mắt kinh ngạc… nhưng rồi cũng chỉ còn biết chép miệng thở dài… không nói qua một lời. Cho đến nay, đối với cái chết của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Quảng Ngãi cũng thêm một nghi án trước lịch sử.

(1) Ông Nguyễn Văn Huyên khi ấy làm thư ký nhà thương Bạch Mai đã cho biết rằng đêm 12.7.1946, Công An CS đã xuống nhà thương Bạch Mai lấy đi 3 xác chết vô thừa nhận.
(2) Phan Kích Nam chính tên là Phan Xuân Thiện nguyên quán tại quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, theo đạo Tin Lành, đậu Tú Tài từ thời Pháp thuộc, không chịu ra làm công chức, sống bằng nghề dạy học tại các trường Tư thục, để có thì giờ hoạt động cách mạng.
Khi VM đoạt được chính quyền, Phan Xuân Thiện liền ra Hà Nội, được giới thiệu gia nhập VNQDĐ. Được Trung ương Đảng bộ ủy nhiệm làm Chủ nhiệm “Đệ Thất Khu Đảng bộ.”
(3) Tài liệu này đã tìm thấy trong tập hồ sơ của tên Lễ, là Đại Đội trưởng CS bị cơ quan an ninh của Hội Đồng An Dân thành phố Hà Nội bắt được hồi năm 1947.
Tên Lễ đã khai: “Chính y là người được Võ Nguyên Giáp cử ra đứng điều khiển việc vào chiếm và canh gác cơ quan Ôn Như Hầu, rồi đem xác chết từ các nhà thương đến chôn xuống, dàn cảnh để khám xét, khai quật những xác chết ấy lên, vu cáo cho VNQDĐ cướp của, bắt cóc, giết người để bôi nhọ.”

Một vài câu hỏi về Tướng Giáp

14 Tha 2010 12:09 GMT

Phạm Cao Dương

Gửi cho BBCVietnamese.com từ California

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/mobile/forum/2010/07/100714_vo_nguyen_giap_pcduong_forum.shtml

Tướng Giáp sinh năm 1911, năm nay 99 tuổi. Ông đã vượt xa tuổi cổ lai hy và sẽ đạt tuổi một trăm trong vòng một năm nữa, hay đã đạt rồi tùy theo cách tính tuổi ta hay tuổi tây, một tuổi rất hiếm người thường có thể đạt được.

Mục tiêu chính của tôi là nhân dịp này nhận định rõ hơn về vai trò và sự đóng góp vô cùng quan trọng của Võ Nguyên Giáp trong lịch sử Việt Nam thời giữa thế kỷ trước.

Đặc biệt là trong sự thiết lập và củng cố chính quyền Cộng Sản Việt Nam, trong những năm đầu của chính quyền này cũng như vai trò của ông trong việc diệt trừ các đảng phái đối lập và việc đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đến cuộc chiến tranh kéo dài cả ba chục năm trời với hàng triệu người thương vong.

Tôi không đề cập ở đây tới sự nghiệp quân sự của Võ Nguyên Giáp như một danh tướng của Cộng Sản Việt Nam, mà còn là của thế giới, một đề tài đã được quá nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc viết, đồng thời chính ông cũng đã viết dù là tự tay hay qua các thuộc cấp.

Sự nghiệp quân sự này đã che lấp những công lao khác mà ông đã đóng góp cho Đảng Cộng Sản Việt Nam trong những năm bốn mươi của lịch sử đảng này.

Do đó, tôi sẽ chú trọng vào những năm đầu của thời kỳ cầm quyền của ông với tư cách là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh.

Và sau đó là Chủ Tịch Quân Sự Ủy Viên Hội trong Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia với Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch và Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ Tịch sau đó là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Cải Tổ tháng 11 năm 1946.

Đây là khoảng thời gian ít được người ta chú ý nhưng vô cùng quan trọng vì nó tương xứng với thời kỳ đầu của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam trước và sau khi Việt Minh cướp được chính quyền.

Trong thời gian này Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò then chốt trong nhiều sinh hoạt khác nhau, từ chính trị, hành chánh đến an ninh, quân sự và luôn cả ngoại giao.

Không có ông, Việt Minh khó có thể giữ được chính quyền sau ngày 19 tháng 8 năm 1945 và không có ông chưa chắc cuộc chiến Đông Dương Lần Thứ Nhất đã xảy ra.

‘Những cuộn dây thừng’

Trước hết là thời gian trước khi Việt Minh cướp chính quyền, theo ngôn ngữ của người Việt Quốc Gia, hay trước ngày khởi nghĩa, theo ngôn ngữ của người Cộng Sản.

Võ Nguyên Giáp là người đã xây dựng nên những đội tự vệ ở các xã miền núi hay những đội võ trang tuyên truyền đầu tiên của Việt Minh sau đó.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao lại võ trang? Võ trang để chống Nhật hay chống Pháp hay võ trang để khủng bố tinh thần của những người Việt Nam, đối tượng chính của công tác tuyên truyền, để bắt buộc họ phải theo Việt Minh, nếu không thì sẽ bị bắt trói và “beng đầu”?

Mục tiêu thứ ba đã được nhiều người coi là chính vì chuyện dọa dẫm, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu… đã xảy ra rất nhiều và đã được Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người được coi là đã thay thế Khâm Sai Phan Kế Toại ngày Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, nói tới như là một trong những nguyên nhân của sự thành công của Việt Minh trong biến cố 19 tháng 8 năm 1945.

Nó cũng được Nguyễn Tường Bách kể lại trong hồi ký của ông này qua lời đe dọa mà Dương Đức Hiền thuộc Đảng Đân Chủ nói với ông Bách và nhà văn Khái Hưng.

Điều này phù hợp với những gì Tướng Giáp viết trong hồi ký của ông, trong đó ông nói tới “những cuộn dây thừng” mà mỗi đội viên tự vệ bắt buộc phải có để “bắt Việt gian”.

Phải chăng chính sách khủng bố ở Việt Nam bằng cách gán cho nạn nhân hai tiếng Việt gian và sau này là phản động, đã bắt đầu ngay từ những năm này và Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên thực hiện theo những kinh nghiệm của Nga hay của Tàu qua những cuốn sách nhỏ in li-tô mà tác giả hay dịch giả là Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và chính Võ Nguyên Giáp?

Điều nên nhớ là sau này, trong những năm đầu của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chủ trương thủ tiêu, ám sát lại được những người Cộng Sản tiếp tục thực hiện hướng vào những người đứng đầu các xã ấp với hơn 800 viên chức bị sát hại trong năm 1957.

Sau đó chỉ riêng trong năm 1961, con số này đã tăng lên tới trên 4.000. Sau nông thôn là các thành thị và ngay ở thủ đô Sai Gòn và Tết Mậu Thân ở Huế.

“Sát nhất nhân vạn nhân cụ” tới một mức nào đó đã được Việt Minh áp dụng để cướp chính quyền năm 1945 vì nó đã làm tê liệt rồi tan rã guồng máy hành chính và an ninh của chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim ở khắp nơi trong nước, đồng thời giúp cho Việt Minh dùng đám đông học hành kém cỏi và tính tình nông nổi để diệt trừ đối lập.

‘Thiếu minh bạch’

Cũng thuộc giai đoạn khởi đầu cho sự nghiệp của Tướng Giáp này, gia thế của ông cũng như những chi tiết liên hệ tới ông hồi ông còn đi học, kể cả việc ông học luật ở Hà Nội, đối với một người bình thường là những gì thân yêu luôn luôn được tưởng nhớ hay nhắc đến, đã bị ông ít khi hay hầu như tránh né không đề cập.

Một thí dụ điển hình là ông đã học tới đâu ở trường luật. Các tác giả viết về ông đã nói khác nhau. Người nói ông đã đậu tiến sĩ kinh tế, người nói ông đậu cử nhân luật năm 1937, rồi tiến sĩ năm 1938, người nói ông chưa học xong cử nhân, người nói ông mới học xong năm thứ hai, sau đó thi chứng chỉ luật hành chính để sửa soạn ra làm tri huyện nhưng bị rớt.

Và vì mộng làm quan của ông không thành nên ông đã dứt khoát, quyết định từ bỏ tất cả theo Cộng Sản qua đại diện của đảng này là Hoàng Văn Thụ để cùng với Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc vào năm 1940, mở đầu một giai đoạn mới trong đời mình.

Cũng nên để ý là trong thời gian ở Hà Nội này, Võ Nguyên Giáp chưa có một nghề chuyên môn và một việc làm nhất định. Việc dạy ở trường Thăng Long của ông chỉ là tạm thời và bán thời gian.

Ông đã phải nương nhờ rất nhiều vào Đặng Thai Mai, kể cả ở nhà ông này để sống qua ngày. Trong hoàn cảnh như vậy, chuyện ông học luật rồi lựa thi luật hành chính để ra làm tri huyện có lý do của nó và nếu ông đậu thì cuộc đời của ông đã đổi khác và lịch sử Việt Nam cũng đã có thể đổi khác.

Người ta sẽ có một ông Huyện Giáp vô danh của đầu thập niên 1940 thay vì một Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp trong Chính Phủ Lâm Thời Hồ Chí Minh hay một Đại Tướng Võ Nguyên Giáp về sau này, y hệt trường hợp của Hồ Chí Minh khi ông này làm đơn xin vô học trường Thuộc Địa của Pháp non ba chục năm trước, năm 1911.

Điều nên biết thêm là, theo một vài tác giả, sinh viên Võ Nguyên Giáp thích môn kinh tế học và không thích luật hành chính. Sau này các thầy dạy hay giám khảo về kinh tế học của ông như Grégoire Khérian, Gaeton Pirou… đều cho biết là ông rất xuất sắc về môn này.

Tuy nhiên, khác với nhiều người khác, đặc biệt là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, luôn luôn ăn mặc chỉnh tề, lúc nào cũng sơ-mi trắng, cổ thắt ca-vát, mình mặc veston và quần mầu nhạt, đầu đội mũ dạ, chân đi giầy… như một công chức cao cấp, kể cả khi ở chiến khu, lúc gặp các sĩ quan Mỹ của cơ quan OSS, bên cạnh Hồ Chí Minh mặc quần soọc, áo sơ-mi nhầu nát, chân đi dép có quai.

Lối ăn mặc này đã được những người ngoại quốc gặp ông chú ý và miêu tả và đã được ông giữ rất lâu về sau này, ít ra là cho đến khi ông được phong quân hàm đại tướng.

Sau bộ đồ Tây là bộ quân phục đại tướng, buổi đầu là kaki màu cứt ngựa của bộ đội và cuối cùng là lễ phục màu trắng, thật trắng là thẳng nếp với đầy đủ phù hiệu và huy chương mỗi khi xuất hiện hay in trên bìa sách, kể cả khi chỉ là để được phỏng vấn.

Phải chăng lối ăn mặc này, cộng thêm với những căn bản giáo dục đại học và cuộc sống trí thức, tiểu tư sản bên cạnh sự thành công quá lớn của ông đã khiến cho ông bị những thành phần lãnh đạo khác không ưa và đã cản bước tiến của ông trong vai trò lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù cho ông là người có khả năng nhất và ngay từ đầu đã đóng góp nhiều nhất cho đảng này.

Phải chăng cũng vì vậy mà ông đã ít khi, nếu không nói là không bao giờ đề cập tới thời còn đi học của ông, chưa kể tới mối liên hệ giữa ông và Louis Marty, trùm mật thám Pháp.

Người này đã đỡ đầu ông và giúp ông hoàn tất bằng tú tài I, rồi vô Trung Học Albert Sarraut để lấy nốt bằng tú tài Tây II, thay vì học trường bảo hộ và đỗ tú tài bản xứ, rồi vào trường Luật như đa số các thanh niên Việt Nam khác.

‘Diệt trừ đối lập’

Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Chính Phủ Lâm Thời do Việt Minh thành lập với Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng ngoại giao.

Ở địa vị này ông đã giúp chính quyền mới củng cố được vị thế của mình từ trung ương đế địa phương bằng cách qui tất cả về một mối, vào lúc từ Hồ Chí Minh đến các bộ trưởng và các nhà lãnh đạo Cộng Sản khác mới chân ướt chân ráo về Hà Nội, sau khi cướp được chính quyền trong tình trạng tất cả đều “chưa quen với kỹ thuật hành chính”, theo nhận định của chính Hồ Chí Minh.

Võ Nguyên Giáp, với kiến thức của một giáo sư sử – địa được học từ các cuộc cách mạng khác nhau trên thế giới trước đó, nhất là Cách mạng Pháp, về luật hành chính mà ông học được ở trường luật để ra làm tri huyện, với trí thông minh, lòng cương quyết và nhiệt thành đến độ tàn bạo của ông, đã hoàn thành được trách nhiệm của mình.

Một trách nhiệm không phải chỉ là của một bộ trưởng bộ nội vụ mà là của một phó thủ tướng đặc nhiệm nhiều bộ khác nhau, chưa kể vai trò ngoại giao với người Mỹ, nguời Pháp và luôn cả các tướng Tàu, một cách toàn hảo.

Dưới sự điều động của ông và của hai cộng sự viên thân cận nhất của ông là Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam, hệ thống hành chính thời quân chủ cũ với các tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, tri phủ, tri huyện, chánh phó tổng, lý trưởng, xã trưởng… đã chính thức bị bãi bỏ.

Chúng được thay thế bằng các ủy ban hành chính, ủy ban nhân dân, sau đó uỷ ban hành chính, kháng chiến với các chủ tịch, các tỉnh ủy, huyện ủy, xã ủy v.v…

Biến cố 19 tháng 8 hay Việt Minh Cướp Chính Quyền, mà nhiều người thận trọng không muốn gọi là Cách mạng sau ngày 2 tháng 9 đã chấm dứt và một cuộc cách mạng đã thực sự bắt đầu, qua sự bãi bỏ và thay thế trong tổ chức và trong mọi sinh hoạt thuộc phạm vi hành chính này.

Tất cả đã không còn đảo ngược được nữa, kể cả về sau trong các vùng Quốc Gia dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại hay ở miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa.

Hệ thống quan lại với guồng máy vận hành và lối sống của thời quân chủ của nó mà nhiều người đã sai lầm gọi là thời phong kiến cho phù hợp với luận thuyết về lịch sử của chủ nghĩa Mác-xít, đã hoàn toàn trở thành của quá khứ.

Tuy nhiên, sự thay thế hệ thống hành chính cũ bằng một hệ thống hành chính mới qua tổ chức kể trên chưa đủ. Nó cần phải có một nguồn nhân sự mới có đủ khả năng về kiến thức, về tư cách và đạo đức đi kèm.

Nguồn nhân sự này hoàn toàn không có hay không đủ nhất là ở cấp cơ bản để thay thế cho các tri phủ, tri huyện và các tổng lý thời xưa ở các địa phương.

‘Hỗn quân, hỗn quan

Lợi dụng lúc hỗn quân, hỗn quan người ta đã tìm cách để trả tư thù, sách nhiễu của cải, tiền bạc, cướp vợ, cướp con của nhau, vu nhau là Việt gian để giết hại bằng cách này hay cách khác v.v…

Điều này đã xảy ra rất nhiều đến độ Hồ Chí Minh, trong Thư gửi cho Ủy Ban Nhân Dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng đề ngày 17 tháng 10 năm 1945, phải nêu ra sáu điều sai phạm trầm trọng mà các cán bộ Việt Minh đã phạm phải nhằm sửa sai.

Đó là trái phépcậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ và kiêu ngạo trong đó trái phép được ghi lên đầu và được chỉ rõ là “vì tư thù, tư oán mà bắt bớ và tịch thu tài sản của dân làm cho dân oán than”.

Câu hỏi được đặt ra là có bao nhiêu người đã bị hàm oan và chết oan trong thời gian mấy tháng sau ngày 19 tháng 8 và trong thời gian chiến tranh sau này ngoài những nhân vật tên tuổi như Phạm Quỳnh, cha con Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo…?

Chỉ cần trước đó nạn nhân đã từng làm việc cho Tây, cho Nhật, làm quan lại hay tổng lý cho Chánh Phủ Nam Triều và có người tố cáo là đủ để bị bắt và bị mang đi mất tích hay bị giết một cách dễ dàng.

Lẽ tất nhiên sau một cuộc cách mạng rất khó cho những người mới lên cầm quyền làm chủ được hoàn toàn tình hình an ninh ở trong nước.

Hoàn cảnh của người Cộng Sản Việt Nam từ sau ngày 19 tháng 8 năm 1945 và kéo dài cho đến ít ra là ngày 19 tháng 12 năm 1946 còn khó khăn gấp bội vì ngoài những khó khăn về kinh tế, tài chánh… họ còn phải đối phó các đảng phái Quốc Gia đối lập, với các đồng minh.

Đặc biệt họ phải đối phỏ với sự hiện diện của trên 180.000 quân đội Tàu của Tưởng Giới Thạch với chủ trương ủng hộ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội chống lại Việt Minh đang cầm quyền và quân Pháp theo chân quân Anh trở lại xứ Nam Kỳ và sau đó tiến ra Bắc.

‘Mười người chết chín’

Vô cùng phức tạp nhưng vấn đề không phải chỉ đơn giản có thế vì dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, chủ trương của Việt Minh không phải chỉ là để chia sẻ hay cướp chính quyền mà là để xây dựng một xã hội khác mà họ cho là tốt đẹp hơn dù cho mười người chết chín, như lời của đại diện Việt Minh nói với Thủ Tướng Trần Trọng Kim trong một cuộc gặp gỡ không lâu trước ngày 19 tháng 8.

Võ Nguyên Giáp qua vai trò Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ lúc đầu và Chủ Tịch Quân Sự Ủy Viên Hội rồi sau Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, về sau đã đóng vai trò then chốt trong việc tiêu diệt các thành phần đối lập, những “thù trong, giặc ngoài” và giữ vững chế độ.

Từ rất sớm, Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp, trước khi các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội từ Trung Quốc trở về và một cách hoàn toàn hợp pháp với những phương tiện do người Pháp để lại, đã cho bắt rất đông những đảng viên Quốc Dân Đảng từ trước vẫn hoạt động ở trong nước.

Những người này đa số là những giáo viên tiểu học, những thừa phái, lục sự, những nhân sĩ địa phương, những tổng lý…, hay những người có ảnh hưởng lớn ở các địa phương, nói cách khác là những thành phần được cho là nguy hiểm vì có thực lực và trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chế độ mới, giam họ ở các ty liêm phóng tại các tỉnh hay thủ tiêu họ.

Chiến dịch này nhằm triệt hạ các hạ tầng cơ sở của các đảng khác và những người không bị giết đã bị giam giữ cho mãi đến khi có chính phủ liên hiệp mới được thả…

Ngay tại Hà Nội và giữa Đại Học Xá Đông Dương, Chủ Tịch Sinh Viên Đại Học này là Phan Thanh Hòa cũng đã bị bắt cùng với một sinh viên khác là Đặng Vũ Trứ mang đi mất tích với tin đồn là sau đó hai ông đã bị đưa sang một căn nhà ở Gia Lâm và bị ném lựu đạn giết chết.

Công tác diệt trừ đối lập này đã đạt tới cao điểm của nó vào tháng 7 năm 1946, sau khi quân đội Trung Hoa Quốc Gia của Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam và trong thời gian Hồ Chí Minh sang Pháp.

Tất cả các trụ sở chính của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Hà Nội đã bị công an bao vây, lục soát, đặc biệt là trụ sở ở đường Ôn Như Hầu. Tại những nơi đó tất cả các đảng viên của đảng này đã bị bắt và mang đi mất tích.

Tên tuổi của nhiều người sau này đã được ghi rõ. Riêng ở trụ sở Ôn Như Hầu, Võ Nguyên Giáp không những đã đích thân có mặt mà còn đưa cả Xử Lý Thường Vụ chủ tịch kiêm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Huỳnh Thúc Kháng đến chứng kiến.

Câu hỏi được đặt ra là vào thời điểm này Chính Phủ Liên Hiệp vẫn còn và Võ Nguyên Giáp không còn là bộ trưởng bộ nội vụ nữa, vậy với tư cách gì ông đã đến hiện trường rồi lại còn mang theo cả Huỳnh Thúc Kháng nữa?

Sự kiện này, kèm theo với nhiều dữ kiện khác như thời điểm xảy ra biến cố, với sự vắng mặt của Hồ Chí Minh, với lệnh thi hành đến từ Thường Vụ Đảng Cộng Sản thay vì từ Bộ Nội Vụ mà chính Huỳnh Thúc Kháng, giữ chức Bộ Trưởng bộ này, mãi đến khi được Võ Nguyên Giáp dẫn đến hiện trường sau khi mọi chuyện đã xảy ra, mới được biết.

Những gì sau đó được trưng bày cho dân chúng vào xem cũng như những lời buộc tội… cho thấy những gì Tướng Giáp ghi trong hồi ký của ông có nhiều điều không ổn nếu không nói là quá sơ đẳng so với trình độ học vấn của ông.

Đó là chưa cần nói tới những bằng chứng được phía người Việt Quốc Gia đưa ra để bác bỏ hai công điện của Lãnh Sự Mỹ James L. O’Sullivan gửi Bộ Ngoại Giao Mỹ đề ngày 01 và 26 tháng 7 năm 1946.

Tức là chỉ hơn mười ngày sau đó, với nội dung về sự kiện quân đội của ông Giáp càn quét các căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở miền đỉnh châu thổ Sông Hồng, đặc biệt ở vùng Việt Trì và tất nhiên ở Hà Nội.

Con số những nạn nhân của đợt càn quét này được ước lượng lên tới 15 ngàn người.

‘Nhà Ngoại Giao’

Như đã đề cập, trong chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh là Chủ Tịch và kiêm nhiệm Bộ Ngoại Giao, Võ Nguyên Giáp là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Nhưng trong những ngày đầu Tướng Giáp đã làm luôn công việc ngoại giao.

Ông đã đóng vai trò chính yếu trong việc đón tiếp các nhân vật quan trọng của các nước trong đó có Archimedes Patti của phái bộ OSS Mỹ ở Trung Quốc, Jean Sainteny và Đại Tướng Leclerc của Pháp v.v… với tư cách là một bộ trưởng trong chính phủ và đại diện cho Chủ Tịch Hồ Chí Minh trước khi những nhân vật này chính thức được Hồ Chí Minh tiếp kiến, thay vì các công chức cao cấp khác của Bộ Ngoại Giao dưới quyền trực tiếp của ông Hồ ở bộ này theo thủ tục thông thường.

Sau này trong việc điều đình với người Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội hay Đà Lạt, ông cũng đóng vai trò chủ chốt với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam.

Điều này dễ hiểu vì ngoài hai người bạn thân thiết này của ông, những người làm ở Bộ Ngoại Giao thời đó đều có gốc là những công chức cao cấp thời Pháp, giỏi tiếng Pháp hay có thể cả tiếng Anh, quen tiếp xúc với người Pháp nhưng không được tin cậy và không phải là đảng viên Cộng Sản.

Còn những đảng viên cao cấp khác của đảng này như Trường Chinh, Trần Huy Liệu, ngay cả Phạm Văn Đồng… không hội đủ những điều kiện cần thiết mà Võ Nguyên Giáp có.

Tướng Giáp trong những cuộc gặp gỡ này đã tỏ ra rất thông thạo tiếng Pháp, tự tin và có khả năng thuyết phục được các đối phương của mình. Điển hình là cuộc tiếp xúc đầu tiên với Sainteny có sự hiện diện của Patti và được Patti kể lại.

Riêng về cách trình diễn bề ngoài, cách ăn mặc với cái mũ phớt đặc biệt của ông đã gây ấn tượng cho đối thủ của ông không ít, bên cạnh một bộ mặt ít khi mỉm cười của ông.

Cũng trong buổi gặp Sainteny này, theo Patti, Võ Nguyên Giáp đã đến bằng một công xa đen bóng, có vệ sĩ mặc quân phục đeo tiểu liên Sten xuống mở cửa và một vệ sĩ khác nghiêm chào. Chiếc công xa này được biết là của Toàn Quyền Đông Dương cũ.

Câu hỏi đặt ra là với những khả năng và kinh nghiệm mới đạt được thêm như vậy, tại sao Võ Nguyên Giáp đã không lãnh hay không được cử hướng dẫn phái đoàn Việt Nam đi dự Hội Nghị Fontainebleau mà thay vì lại là ông Phạm Văn Đồng.

Ông Đồng cho đến thời điểm đó vẫn còn là một nhân vật vô danh đối với các giới chức ngoại quốc ở Hà Nội thời bấy giờ và chưa có chút kinh nghiệm đàm phán nào, còn về khả năng cá nhân thì thua Tướng Giáp.

‘Gây ra chiến tranh?’

Câu hỏi “liệu Võ Nguyên Giáp có phải là người đã gây ra chiến tranh Việt – Pháp” được đặt ra vì trong những ngày tháng cuối cùng trước khi cuộc chiến bùng nổ, Hồ Chí Minh đi Pháp, không có mặt ở nhà.

Sau đó khi về nước ông lại bị đau ốm (?) theo lời Sainteny, nằm một chỗ. Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò chính yếu, quyết định tất cả, Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ Tịch, chỉ là để ký giấy tờ.

Trong việc giao thiệp với người Pháp, tướng Giáp, với Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam phụ giúp đã làm và quyết định mọi việc.

Đây là một dịp rất tốt để ông từng bước thực hiện giấc mơ làm một Nã Phá Luân của Á Châu và cũng là lý do tại sao ông đã chọn ở lại Việt Nam thay vì đi Pháp làm ‘phó hội’.

Những gì ông thực hiện gồm có diệt trừ đối lập, đặc biệt là Việt Nam Quốc Dân Đảng như đã nói ở trên, phát triển quân đội và các lực lượng tự vệ, củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức của Việt Minh ở những vùng từ trước chưa kiểm soát được.

Đặc biệt ở Nam Kỳ, còn thực hiện tuyên truyền tố cáo người Pháp gây chiến để xách động quần chúng và sửa soạn chiến tranh bằng cách cho đục tường nhà nọ thông với nhà kia, đặt chướng ngại vật trên các đường chính để ngăn quân Pháp…

Những hành động này cho người ta thấy sự vi phạm các thoả hiệp đã ký không phải chỉ đơn phương đến từ phía người Pháp.

Riêng ở Hà Nội, Sainteny với những con số được liệt kê, đã phản đối những hành động của tự vệ hướng vào các thường dân Pháp khiến cho họ và luôn cả quân nhân Pháp luôn luôn bị đe dọa và cô lập mà chính quyền Việt Nam không những mặc kệ mà còn khuyến khích.

Riêng ở Nam Kỳ, mặc dầu cho tới thời điểm này vẫn còn là thuộc địa của Pháp và đương nhiên là vẫn do người Pháp quản trị và chịu trách nhiệm, sự vi phạm cũng xảy ra một cách trầm trọng.

Theo chính Tướng Giáp, ở đây “lực lượng vũ trang của ta (Việt Minh) phát triển rất nhanh ”và “ngày 13 tháng Chín, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh số 182 cải tổ Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến tại Nam bộ.

Hơn một tuần sau, ngày 22 tháng Chín, Ủy ban kháng chiến lâm thời miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập và là chính quyền hợp pháp duy nhất tại miền Nam Việt Nam.

Những quyết định này xuất xứ từ Hà Nội với những nhân vật cầm đầu, điển hình là Tướng Nguyễn Bình, gốc từ Hà Nội hay từ miền Trung mới vào không thể nói là không vi phạm chủ quyền của người Pháp ở Nam Kỳ nhưng Tướng Giáp vẫn làm.

‘Tham vọng chủ chiến’

Đó là một chiến thuật mà sau này người Cộng Sản luôn luôn áp dụng, chiến thuật giành dân chiếm đất và vừa đánh vừa đàm, không cần phải chờ mọi chuyện được ngã ngũ.

Khi Hồ Chí Minh về tới Hà Nội và Sainteny muốn gặp nhưng được cho biết ông Hồ bị bệnh. Sainteny phải chờ, đến khi được đến thăm thì thấy Hồ Chí Minh nằm trên giường có Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam túc trực bên cạnh.

Hai người này đã không bị Hồ Chí Minh yêu cầu ra khỏi phòng như thường lệ và câu chuyện chỉ là bình thường giữa hai người bạn cũ. Tại sao vậy? Có phải là họ Hồ đã bị phe của Giáp bao vây không cho nói những gì họ không muốn ông nói?

Nếu như vậy, thì có phải Hồ Chí Minh lúc đó không muốn hay chưa muốn chiến tranh trong khi Võ Nguyên Giáp và phe nhóm của ông đang ở một tình thế vô cùng thuận lợi có thể giúp ông đạt được mong ước của mình, bỏ qua sẽ không bao giờ có được.

Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này Sainteny có nhận được một văn thư của Hồ Chí Minh gửi Quốc Hội và Chính Phủ Pháp đề ngày 11 tháng 12 tức 8 ngày trước ngày nổ súng, nhưng không mang chữ ký của họ Hồ.

Thư bị Sainteny trả lại và phải nhiều ngày sau mới có chữ ký. Tại sao lại có chuyện lạ như vậy? Không lẽ một văn thư của Chủ Tịch Chính Phủ lại có thể được gửi đi một cách cẩu thả như vậy sao?

Sainteny cho là có một cái gì bí mật bao quanh tình trạng “vị Chủ Tịch của nưóc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.”

Nghi ngờ cũng phải vì Sainteny là người biết rõ những nỗ lực cuối cùng của Hồ Chí Minh khi ông này lưu lại Paris và làm tất cả để ký cho được Tạm ước 14 tháng 9, không lẽ để không làm gì.

Cũng theo Sainteny, phe chủ chiến của Việt Nam đã phải hành động gấp vì Chính Phủ mới của Pháp do Léon Blum làm Thủ Tướng đã quyết định cử Marius Moutet, lúc đó đã là Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại sang Đông Dương và tin này đã làm tình hình biến chuyển mạnh hơn.

Lý do là phe chủ chiến e ngại một cuộc điều đình mới sẽ được thực hiện nên phải ra tay trước. Tất nhiên đây chỉ là một giả thuyết nhưng nếu nhìn qua tham vọng cá nhân của Võ Nguyên Giáp, đây phải là một yếu tố người ta cần phải xét tới, cũng như khi người ta xét tới mối liên hệ riêng tư giữa Hồ Chí Minh và Bảo Đại.

Quan hệ Võ – Hồ

Ngoài những lý do chính trị, Hồ Chí Minh khi đưa Bảo Đại từ Huế ra Hà Nội làm Cố vấn Tối Cao rất có thể là để phòng ngừa vị vua cũ này có thể bị những phần tử quá khích ở địa phương làm bậy.

Cũng vậy, lời nhắn của họ Hồ gửi cho Bảo Đại mà ông này nhận được ở phi trường lúc sắp sửa lên phi cơ từ Trung Hoa về nước, biết đâu cũng có một mục đích tương tự và lần này những phần tử quá khích không còn là địa phương nữa mà ở ngay Hà Nội và Hồ Chí Minh là người hiểu rõ hơn ai hết.

Điều quan trọng là sự thực nằm ở đâu, Hồ Chí Minh ngay từ cuối năm 1946 này có còn có đủ uy thế như người ta thường nghĩ hay không hay đã bắt đầu ở thế yếu và đã bị những phụ tá trẻ của ông lấn át.

Đó là những câu hỏi cần được đặt ra, đồng thời người ta cũng không nên quên rằng Hồ Chí Minh là một người rất khôn ngoan, nhiều thủ đoạn, giỏi tính toán, biết phải làm gì theo từng giai đoạn và dày kinh nghiệm. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp có thể biết và trả lời một phần.

‘Đáng tiếc!

Với tư cách là Chủ Tịch Danh Dự của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, đồng thời ở tuối 100 của ông, ông có thể nói ra cho mọi người được biết.

Tiếc rằng mọi chuyện đã quá trễ. Sức khoẻ của ông vào lúc tôi viết xong bài này, theo tôi được biết, chắc chắn không cho phép.

Một đồng nghiệp trong Hội Sử Học, đồng thời cũng là một sử gia đã viết nhiều tác phẩm, Giáo Sư Trần Văn Giàu, cũng đã nhiều lần được người ta trực tiếp đề nghị hay gợi ý cho hay sự thật về những gì ông Giàu đã làm ở Miền Nam, nhất là về sự mất tích của Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Đạo Hòa Hảo.

Nhưng Giáo Sư Giàu đã từ chối, lấy cớ mọi chuyện đã qua rồi, theo như một giáo sư đại học Việt Nam ở Pháp có dịp gặp ông. Thật vô cùng đáng tiếc! Nó cũng đáng tiếc như câu trả lời của Tướng Giáp cho câu hỏi của một phóng viên đài truyền hình Mỹ năm 1995.

Khi đó phóng viên đặt vấn đề: 20 năm sau khi Cuộc Chiến Ba Mươi Năm đã chấm dứt, mà bây giờ người ta vẫn có thể phối kiểm được, là qua hai cuộc chiến vừa qua có từ 3 triệu rưỡi đến 4 triệu người chết, ông (Tướng Giáp) có hối tiếc hay không?

Tướng Giáp vẫn trong bộ quân phục cố hữu đã trả lời bằng tiếng Pháp là “Không chút nào! Tôi không hối tiếc chút nào!”

Quả là đáng tiếc!

Bài viết phản ánh quan điểm và cách hành văn riêng của tác giả. Ông Phạm Cao Dương lấy bằng tiến sĩ sử học ở Đại học Paris, và dạy ở nhiều đại học tại Sài Gòn trước 1975. Sau khi sang Mỹ, ông dạy về lịch sử, ngôn ngữ Việt Nam ở một số trường tại Nam California trước khi về hưu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s