Bài 3. Bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang bị giết rồi Hoàng Quốc Việt nhận… xằng!

 Hay chuyện: Hai kỳ cựu Cộng sản chết, để rồi 2 bà vợ cũng là Cộng Sản kỳ cựu thì tên bị… nhầm (chồng lấn)!

I. Phân tích các bằng chứng.

Hạ Bá Cang Bí thư xứ ủy Bắc kỳ: “…Năm 1937, ông được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. ” (Văn bản 1), có nhiều bằng chứng cho thấy Hoàng Quốc Việt chẳng phải Bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang như sau:

  1. Nhầm tên:

Hoàng Quốc Việt tên cũ là gì? Hạ Bá Càng (Văn bản 2) hay Hạ Bá Cang (Văn bản 3)?

Văn kiện Đảng mà cũng nhầm như thế ư? Nếu đúng tên của Hoàng Quốc Việt thật thì đâu có nhầm như thế?

(Đây cũng là một chỉ dấu thường thấy khi bọn quỷ nhận mình là “Nhà cách mạng A, nhà cách mạng B…” như kiểu Kha Vạng Cân hay Kha Vạn Cân, Đặng Thái Mai hay Đặng Thai Mai… Xem thêm bài: “Tên khó là nhầm – Dấu hiệu diệt Cộng sản kỳ cựu”, tại quyển 8 – Giết kỳ cựu Cộng sản)

Về Họ? “Có rất nhiều người hỏi, tại sao bố tôi họ Hoàng mà tôi lại mang họ Hạ. Xin thưa, tên thật của bố tôi là Hạ Bá Cang… (Văn bản 4), như ngài Phó Thủ Tướng Chính phủ của Việt Nam họ Phạm lại là con của ông Nguyễn Cơ Thạch, ở đây ta thấy Hoàng Quốc Việt và Nguyễn Cơ Thạch đã khá cẩn thận so với một số quỷ khác, như quỷ Lê Đức Thọ – khi nhận mình là Phan Đình Khải, thì con đáng ra phải họ Phan, nhưng Thọ đã ỷ thế mình to (cai tù) mà đã chẳng thèm đổi họ cho con, vì thế mới dẫn đến chuyện tức cười như sau:  “” Phạm Bình Minh, con của ông Nguyễn Cơ Thach, …, “uở sao cha Nguyễn, con lại Phạm?”…rồi con của ông Lê đức Thọ, người thì Lê Nam Thắng, kẻ thì Phan Đình Dũng. vân vân và vân vân ,, Đóng ngoặc… ” (Văn bản 6)

  1. Việc nhầm tuổi:

Bố tôi sinh đúng ra là năm 1902, tuy nhiên vì đi học muộn nên khai lại thành năm 1905.(Văn bản 4)

Đây cũng là một dấu hiệu khá phổ biến từ Hồ Chí Minh đến Võ Nguyên Giáp… sự thật là tụi quỷ làm sao biết được ngày tháng năm sinh cụ thể của “Mình”!

  1. Cưới vợ muộn – từ 1946 về sau.

Năm 1946 bố mẹ tôi cưới nhau(Văn bản 4)

Như vậy Hoàng Quốc Việt tới 45 tuổi mới lấy vợ! Cưới vợ muộn hoặc vợ cả chết, vợ cả ngớ ngẩn là dấu hiệu hầu hết của tụi quỷ như Lê Đức Thọ, Lê Văn Hiến, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh… và cả Hồ Chí Minh nữa – quỷ làm sao dám ở cạnh người!  (Xem thêm chương: Dấu hiệu tụi quỷ, tại quyển 9. (Việt Nam nhận quỷ làm cha)

  1. Các con sinh sau 1946 không “chết trận”, vợ lấy từ 1946 về sau không “Chết bệnh”.

“Bố mẹ tôi có 5 con, 2 trai 3 gái. Tôi là con trai đầu, chú thứ 4 hiện đã mất vì bệnh hiểm nghèo, 3 cô em gái tôi đều học hành nghiêm chỉnh tốt nghiệp đại học và làm ở cơ quan nhà nước” (Văn bản 4)

Các con sinh từ 1946 về sau, vợ lấy từ 1946 về sau là con và vợ thật của quỷ, bọn chúng quý con đâu có để ra trận mà chết! bọn chúng quý vợ đâu để “bệnh tật” hoàng hoành mà mù mắt hay ngớ ngẩn?

  1. Viết hồi ký nhầm tên kỳ cựu Cộng Sản.

Trang web của Thư viện Hải Phòng thì bảo: “Chị Tư Già tên thật là Nguyễn Thị Thuận, tên khai trong hồ sơ mật thám là Nguyễn Thị Hợi. Còn Tư Già là gọi theo tên chồng. (Văn bản 8)

Tức chị Tư Già và Nguyễn Thị Hợi là 1 người!

Còn Hoàng Quốc Việt lại bảo: “Nguyễn Thị Hợi (tức Bích Hợp, vợ anh Lương Khánh Thiện)”, “ Tại đây, tôi đã gặp anh Lương Khánh Thiện, người đồng chí thân thiết đã cùng làm việc với tôi ở nhà máy Chuông, rồi chị Bích Hợp, vợ anh Thiện cùng chị Tư Già bị giam ở bên nhà giam nữ.” (Văn bản 7)

Tức chị Tư Già và Nguyễn Thị Hợi là 2!

Thật lạ!

Nếu Hoàng Quốc Việt đúng là Hạ Bá Cang thì có chuyện nhầm lẫn này không?

(lưu ý: Ở văn bản 7: Bọn quỷ đã nhầm rất nhiều tên kỳ cựu Cộng Sản – Cho thấy: Vì không phải là bạn nên lúc chúng nói tên này, lúc lại tên khác.)

Nếu đúng là bà Tư Già là: “Chị ở tù cho đến Cách mạng tháng Tám 1945…Từ đó chị về công tác ở cơ quan văn phòng Trung ương Đảng cho đến ngày nghỉ hưu” (Văn bản 8)

Thì hẳn bà phải nói rõ Nguyễn Thị Hợi là tên của bà hay của bạn bà – Vợ Lương Khánh Thiện!

Nhưng khổ nỗi tất cả đều đã chết khi xuất hiện Hoàng Quốc Việt!

  1. Viết hồi ký đổ láo cho “tên Công” phản bội!

“Trên đường đi nhận được tin địch đã bắt được các anh Bùi San và Hồ Xuân Lưu ở ga Diễn Châu. Nguyên nhân bị bắt là do tên Công, một tên A.B nguy hiểm chui vào hàng ngũ ta, leo lên tới chức Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, báo cho địch biết.(Văn bản 9)

Cũng như Trần Đăng Ninh, Hoàng Quốc Việt cũng chỉ nói được: “tên Công, một tên A.B nguy hiểm chui vào hàng ngũ ta” mà không có tên họ cụ thể.

Nếu quả thực “tên Công” đã “leo lên tới chức Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ” thì “Bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang hẳn phải biết rõ tên họ chứ, cớ sao Hoàng Quốc Việt không biết? mà lại chỉ cộc lốc: “tên Công, một tên A.B nguy hiểm …”?

Nếu quả thực “tên Công” đã “leo lên tới chức Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ” thì khi “Chưa lộ” hẳn nhiên hắn phải là thành phần chính được dự họp “Xứ ủy mở rộng” tại sao Trần Đăng Ninh lại cho là cho “tên Công” họp sai nguyên tắc?

Trong Hồi ký của Hoàng Quốc Việt, ta thấy rất nhiều kỳ cựu Cộng sản là phản bội: “Sự phản bội của những người như Nghiêm Thượng Biền, Dương Hạc Đính (Hoàng Hạc), Nguyễn Tuân (Kim Tôn),… thật sự nguy hiểm, vì qua lời khai của chúng mà địch đã phát hiện ra hàng loạt cán bộ cùng nhiều đảng viên của ta. ” (Văn bản 9)

(Lưu ý: Hoàng Quốc Việt còn viết báo cáo láo vu khống bí thư xứ ủy Trung kỳ Đinh Văn Di phản bội, rồi bọn chúng đã giết ông vào năm 1945 – xem bài 6 sẽ rõ.)

  1. Bạn thân – kỳ cựu Cộng sản chết 1943.

“Vũ Văn Hiếu (có tài liệu ghi Nguyễn Văn Hiếu) sinh năm 1907 tại ấp Văn Định, xã Quần Phương Thượng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, … xin vào học Trường kỹ nghệ thực hành Hải Phòng. Tại đây, anh gần gũi với các học sinh có tư tưởng tiến bộ như Lê Quốc Trọng, Lương Khánh Thiện, Hạ Bá Cang, Lưu Bá Kỳ…Đầu năm 1941, Vũ Văn Hiếu lại bị thực dân Pháp đầy ra Côn Đảo lần thứ hai, giam cùng Lê Duẩn, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Tạo,…Hôm sau Hiếu chết trong những giờ phút cuối cùng của đời mình , bệnh tật dày vò đau khổ, Vũ Văn Hiếu , người đảng viên cộng sản ấy vẫn nghĩ đến đảng, vẫn nghĩ cách làm lợi cho đảng. Đó thật là một tấm gương cho chúng ta!!!!. Câu: ‘Chết còn chút áo cho nhau. Miếng cơm giành để người sau ấm lòng’, nhà thơ Tố Hữu viết về chiến sĩ cộng sản Vũ Văn Hiếu.” (Văn bản 10)

Hoạt động cộng sản thì chết cũng là chuyện thường, nhưng khác thường là ở chỗ: Ông Vũ Văn Hiếu là bạn thân thiết của những kỳ cựu thật như Lương Khánh Thiện, và Lưu Bá Kỳ thì đã chết trước 1945 (Xem bài 4), còn bạn thân nữa là Hạ Bá Cang thì bảo sau này là Hoàng Quốc Việt thì có 7 dấu hiệu để nhận biết là quỷ Hoàng Quốc Việt đã nhận xằng là Hạ Bá Cang như trên! Còn lại các quỷ mói sau 1941 mới xuất hiện như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Khăc Khang… thì chẳng ai bị gì!

Lê Duẩn còn chứng kiến cái chết “Anh Hùng” của ông như kiểu quỷ Trần Đăng Ninh chứng kiến cái chết cũng “Anh Hùng” của Hoàng Văn Thụ (xem thêm Đớn Đau 3 – chương 4).

Như vậy, đến đây ta đã đủ cơ sở để kết luận: Hoàng Quốc Việt chẳng phải Xứ ủy viên Hạ Bá Cang!

Mà sự thật là: Xứ ủy viên Hạ Bá Cang đã bị chúng giết rồi Hoàng Quốc Việt nhận xằng cho oai mà thôi!

Thế mới thật là:

Quốc Việt tự nhận Bá Cang

                        Tên riêng mà cũng nhầm xằng nhầm xiên

                        Tuổi kia thì cũng bị nhầm

                        Vợ thời lấy muộn, rõ là quỷ ma.

                        Hồi ký đổi trắng thay đen

                        Rõ là đã giết Bá Cang nhận xằng.

Không biết Hoàng Quốc Việt – tự nhận là Bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang hắn còn kể láo gì nữa, xem bài 4 sẽ rõ.

  1. Văn bản nghiên cứu:

(Văn bản 1)

Hoàng Quốc Việt

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0ng_Qu%E1%BB%91c_Vi%E1%BB%87t

Hoàng Quốc Việt (19051992) là một chính khách, đảm nhiệm các vai trò Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Hạ Bá Cang, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1905, tại Đáp Cầu, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay là phường Đáp Cầu,thành phố Bắc Ninh.

…Năm 1937, ông được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Năm 1938, do bị chính quyền trục xuất khỏi Hà Nội, Hoàng Quốc Việt về hoạt động ở Bắc NinhBắc Giang. Năm 1941, ông tham dự Hội nghị VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Hồ Chí Minh chủ trì, được cử vào Ban Chấp hành Trung ương và được bầu làm Ủy viên Thường vụ Trung ương. Ông tham gia lãnh đạoTổng khởi nghĩa tháng Tám, sau đó được cử vào Nam công tác…

(Văn bản 2)

Là Hạ Bá Càng.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ – Nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam
14:45 | 12/07/2007

(ĐCSVN)-1. Người chiến sĩ cộng sản kiên cường

http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=0&cn_id=38973

“…Cùng với các đồng chí Lương Khánh Thiện, Tô Hiệu, Đăng Xuân Khu, Hạ Bá Càng…Nguyên Văn Cừ đã…”

(Văn bản 3)

Là Hạ Bá Cang.

Chương II

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT1371254514

Ngày 12/7/2012. Cập nhật lúc 15h 31′

TRƯỞNG THÀNH TRONG CÁCH MẠNG (1927-1940)

2.1. Trở thành người cộng sản

…Sau một thời gian thử thách, năm 1927, Đặng Xuân Khu được đồng chí…

 “…Cuối năm 1936, báo được bổ sung nhiều cán bộ có trình độ vào ban biên tập như: Đặng Xuân Khu, Khuất Duy Tiến, Tống Phúc Chiều, Đặng Châu Tuệ, Hạ Bá Cang…

(Văn bản 4)

HOÀNG QUỐC VIỆT
– có nghĩa là vua nước Việt

 http://www.mattran.org.vn/Home/TapChi/mtcs02/skvdc.htm

      Hoàng Quốc Việt – một học trò, một người đồng chí trung kiên của Hồ Chủ tịch, được nhân dân cả nước rất kính trọng. Nhân dịp về làm việc tại tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi đã có buổi nói chuyện với người con trai cả của cụ Hoàng Quốc Việt là ông Hạ Vĩnh Thành để biết thêm đôi chút về những chuyện “ngoài chính sử” cuộc đời và gia đình cụ. Xin ghi lại lời kể của ông Hạ Vĩnh Thành đến bạn đọc.

       Có rất nhiều người hỏi, tại sao bố tôi họ Hoàng mà tôi lại mang họ Hạ. Xin thưa, tên thật của bố tôi là Hạ Bá Cang. Họ Hạ là một trong những họ cổ nhất ở nước ta, tuy nhiên gia phả họ mà chúng tôi còn lưu được thì chỉ vài trăm năm.

Quê tôi xưa kia thuộc Quế Võ – nay là phường Đáp Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay ở quê có tấm bia dựng giữa đình và chùa của phường Đáp Cầu tưởng niệm bố tôi như một sự ghi nhận của nhân dân quê hương đối với một người con suốt đời vì dân vì nước. …

Tại sao bố tôi lại có tên là Hoàng Quốc Việt ư? Tôi được các cụ hoạt động cùng với bố tôi kể lại rằng, vào thời kỳ Bác Hồ bị bắt ở Quảng Châu, các cụ trong Thường vụ Trung ương rất lo lắng và đã chuẩn bị một số phương án phòng khi Bác Hồ gặp chuyện bất trắc, trong đó có việc lấy tên cách mạng cho bố tôi là Hoàng Quốc Việt. Đó là một cái tên có ý nghĩa như thể “Vua nước Việt” để nhằm tập hợp mọi lực lượng, đoàn kết mọi giai cấp, thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Bố tôi sinh đúng ra là năm 1902, tuy nhiên vì đi học muộn nên khai lại thành năm 1905. Mẹ tôi tên là Khuất Thị Bẩy – là em gái của cụ Khuất Duy Tiến, nguyên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hà Nội thời kỳ chống Pháp. Bà sinh năm 1920 ở Trạch Mỹ Lộc, huyện Phúc Thọ (Hà Nội). Năm 1946 bố mẹ tôi cưới nhau, sau một cuộc tình đầy lãng mạn. Mẹ tôi tham gia cách mạng, làm liên lạc từ năm 1936. Bố tôi được cử về xây dựng phong trào cách mạng, thành lập các cơ sở cách mạng bí mật thời kỳ 1936 – 1940 trong lòng địch. Hai người gặp nhau tình cờ trong một lần đi công tác bí mật, tình cảm giữa hai người này nở, rồi yêu nhau. Mối tình của hai người được các cụ Khuất Duy Tiến, Phan Trọng Trực, Trần Danh Tuyên rất ủng hộ và vun vào. Tháng 8 năm 1947 thì tôi ra đời. Mẹ tôi sinh tôi ở Trạch Mỹ Lộc, khi tôi được 2 tháng tuổi thì bố mẹ tôi bế tôi lên chiến khu Việt Bắc. Quê ngoại đã che chở những ngày đầu đời của tôi.

Sống ở chiến khu Việt Bắc, tôi còn nhớ khá nhiều những kỷ niệm lúc mới 4-5 tuổi. Trong chiến khu tôi thường chạy lăng xăng khi các cụ họp hành tại nhà tôi. Mỗi khi Bác Hồ đến là tôi lại chạy đến ngồi vào lòng Bác. Bác rất quý trẻ con, nên lần nào gặp Bác, tôi cũng được Bác cho kẹo, vì thế mà lúc nào tôi cũng mong được gặp Bác. Trong Thường vụ Trung ương hầu như không ai có con, trừ bố tôi, vì thế mà tôi được các cụ rất quý. Hồi đó ở chiến khu mỗi khi các cụ họp hành thì tôi thường thấy cụ Hồ, cụ Lê Văn Lương, cụ Tôn Đức Thắng, cụ Nguyễn Khang, cụ Phạm Văn Đồng, cụ Võ Nguyên Giáp, cụ Trường Chinh và bố tôi. Mỗi cụ ở một nhà riêng, nhà nọ cách nhà kia rất xa chừng một quả đồi để tránh lộ bí mật, Nhà tôi lợp lá cọ, cốt nứa, rất mát lại ở trung tâm nên các cụ hay tụ hội.

Bố mẹ tôi có 5 con, 2 trai 3 gái. Tôi là con trai đầu, chú thứ 4 hiện đã mất vì bệnh hiểm nghèo, 3 cô em gái tôi đều học hành nghiêm chỉnh tốt nghiệp đại học và làm ở cơ quan nhà nước. Cô Hạ Chí Nhân làm ở Nhà Xuất bản Hà Nội, cô Hạ Thanh Xuyên là kiến trúc sư làm ở cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cô út Hạ Hồng Hà sinh năm 1956 là luật sư công tác tại Bộ Ngoại giao. Hiện tất cả cũng đã về hưu hết rồi….

                                                                                 LÊ TỰ ghi chép

(Văn bản 5)

Lê Đức Thọ http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%E1%BB%8D

Lê Đức Thọ (10 tháng 10 năm 191113 tháng 10 năm 1990) là chính khách Việt Nam, từng được trao tặng giải Nobel Hòa bình cùng Henry Kissinger vào năm 1973 nhưng ông đã từ chối…

Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải…

…Ông là anh ruột của Thượng tướng Đinh Đức Thiện và của Đại tướng Mai Chí Thọ, Đại tướng Công an Nhân dân đầu tiên của Việt Nam.

Con trai của ông là Lê Nam Thắng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Thông tin và Truyền thông.

Ông Thắng là con trai của ông Lê Đức Thọ và bà Nguyễn Thị Chiếu, tức Tám Chiếu, người Nam Bộ. Với người vợ trước, quê Hải Phòng, ông Lê Đức Thọ có một người con trai tên là Phan Đình Dũng, đã mất.

(Văn bản 6)

TRỒNG KHÔNG NÊN NGƯỜI http://www.vietnamexodus.info/vne0508/vnenews2/bandocviet/nguyenbachoi/dau_goi_92.htm

…Đó là ông “mầm non” Phạm Bình Minh, con của ông Nguyễn Cơ Thach, từng đảm trách cùng chức vụ ngày trước. Viết đến đây, Chổi lại sợ có cháu độc giả chưa thấm nhuần đạo đức cách mạng, thắc mắc, “uở sao cha Nguyễn, con lại Phạm?”, nên đành tạm mở cái dắu ngoặc để “làm sáng tỏ vấn đề”— cái giống nhà CS nó thế đấy cháu ạ. Chẳng hạn như ông “trùm” Lê Đức Thọ, ông Thượng tướng Đinh Đức Thiện, và ông Đại tướng Mai Chí Thọ là ba anh em ruột, cha có họ Phan Đình; rồi con của ông Lê đức Thọ, người thì Lê Nam Thắng, kẻ thì Phan Đình Dũng. vân vân và vân vân ,, Đóng ngoặc…

(Văn bản 7)

Đường Bác Hồ chúng ta điChương I – Nguyễn Ái Quốc trong trái tim tôi

(Hoàng Quốc Việt, Nxb Thanh niên – 2008)

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT18120954981

…Ba tháng sau, chúng giải tôi sang giam ở nhà lao Hải Phòng. Tại đây, tôi đã gặp anh Lương Khánh Thiện, người đồng chí thân thiết đã cùng làm việc với tôi ở nhà máy Chuông, rồi chị Bích Hợp, vợ anh Thiện cùng chị Tư Già bị giam ở bên nhà giam nữ. Gặp nhau, giọt lệ đọng trong khoé mắt. Ai nấy chỉ nói với nhau một câu: ”Hãy giữ chủ nghĩa cho vững!”.

…Tháng 2-1931, Bác Hồ đang ở Hương Cảng.

….Rồi Bác dẫn ra một số câu trả lời của chúng tôi trước phiên toà Kiến An:

…Nguyễn Thị Hợi (tức Bích Hợp, vợ anh Lương Khánh Thiện): Khi toà án nói với chị: ”Cô là giáo học, để làm cách mạng cô đã bỏ việc đi làm phu ở nhà máy dệt Nam Định”. Chị trả lời: ”Phải, tôi vào Đảng Cộng sản vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa đúng đắn. Ông cũng thế, nếu ông là vô sản, nhất định ông cũng sẽ vào Đảng”.

(Văn bản 8)

Nguyễn Thị Thuận

(Tư Già)

http://thuvien.haiphongcity.vn/vn/index.asp?menuid=660&parent_menuid=658&fuseaction=3&articleid=5283

Chị Tư Già tên thật là Nguyễn Thị Thuận, tên khai trong hồ sơ mật thám là Nguyễn Thị Hợi. Còn Tư  Già là gọi theo tên chồng. Khi còn hoạt động trong Thanh niên cách mạng đồng  chí Hội, bạn bè gọi Nguyễn Đức Cảnh là anh Năm, Nguyễn Bá Biên vì nhiều tuổi hơn nên gọi là anh Tư, lại do tính tình hiền lành, ít nói ít đùa nên anh em gọi là Tư Già. Cả hai vợ chồng đều là dân nghèo ở Hà Đông. Nguyễn Bá Biên mồ côi từ nhỏ, ở với thím dâu. …Nguyễn Đức Cảnh thường bí mật đến đây, chính Tư Già đã giác ngộ dần cho vợ và đưa vợ tham gia đưa thư, chuyển tài liệu sách báo cách mạng.

… Để có vốn gây quỹ hoạt động của Đảng, chị đã bán vài sào ruộng ở quê đưa anh Tư đi Nam Định mở tràn than, còn chị lo bảo đảm cơ sở ở Lạc Viên, đồng thời tham gia chuyển phát tài liệu, nghe ngóng nắm tình hình. Được Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Ngọ (tức Xương, Ngạn) dìu dắt, chị Tư Già tiên bộ rất mau. Cuối năm 1929, được kết nạp vào Đảng Cộng sản. … Tết âm lịch năm 1930, một giao thông Xứ uỷ ở Hòn Gai không chịu nổi tra tấn đã khai báo cơ sở ở Hòn Gai, Hải Phòng mật thám đột ngột khám nhà ngõ Tò Vò bắt mẹ con chị Tư  Già, Hạ Bá Cang và cô Lý, một giao liên trẻ. Nhờ gan dạ bình tĩnh, mưu trí, chị Tư Già đã nhanh chóng hướng dẫn sắp xếp lời khai cho cả 3 người và lừa mật thám để đồng chí khác biết nhà đã bị lộ. Nhờ đó mà giấu được tung tích Hạ Bá Cang, một cán bộ cao cấp của Đảng và cô Lý. Cả hai  được tha ngay cùng con chị Tư. Trong tù chị động viên các nữ tù giữ vững tinh thần kiên trung, tham gia tuyệt thực phản đối ngược đãi tù nhân. Trung tuần tháng 8 năm Canh Ngọ (1930), chị được chuyển sang nhà thương thành phố Hải Phòng để sinh cháu thứ  hai. Tổ chức đã giao cho đảng viên Nguyễn Thị Vinh, nữ hộ sinh bố  trí cho chị trốn vào giữa tối trung thu, con nhỏ đành để lại. Sau khi sức khoẻ khá lên, chị được điều về thành phố Nam Định gây dựng cơ sở giao liên Nam Định, Thanh Hoá, Phủ Lý, Hà Nội. Công tác đang tiến hành kết quả thì vào đầu tháng 4/1931, nhiều cơ quan Đảng ở Nam Định bị vây khám, chị trốn lên nhà em gái ở Khương Thượng, hai ngày sau anh Tư cũng tìm về đây do bị mật thám truy lùng. Để chắp mối liên lạc, anh chị vay tiền của em gái thuê một gian nhà nhỏ ở ngõ Khâm Thiên, Hà Nội. Anh Tư lên phố tìm hỏi mấy cơ sở cũ, không ngờ lại gặp phải một tên đã xuất thú dẫn mật thám bắt cả hai vợ chồng. Mặc dù tra khảo nhưng không moi được gì để kết án, song do những vụ trốn tù và khai báo của vài đứa phản bội , anh chị vẫn bị địch kết án nặng. Anh Tư phải đày đi Sơn La, chỉ được vài tháng đã mất do chế độ nhà tù hà khắc của thực dân, còn chị bị cầm tù ở Hoả Lò, Hà Nội đến thời kỳ Mặt trận dân chủ mới được tha. Đảng bố trí chị về Nam Định hoạt động ở cơ quan cùng Vũ Thiện Chân, một đồng chí đã cùng hoạt động ở Hải Phòng. Năm 1941, mật thám lại bắt được chị giải về Thái Bình, ròng rã một tháng trời mỗi ngày một trận đòn thù, nhưng người chiến sĩ trung kiên vẫn đinh ninh tin tưởng ngày cách mạng thành công và bình thản vì đã giữ vững lời thề khi vào Đảng. Chị ở tù cho đến Cách mạng tháng Tám 1945.

Từ đó chị về công tác ở cơ quan văn phòng Trung ương Đảng cho đến ngày nghỉ hưu. Chị được mọi người trong cơ quan, từ các lãnh đạo cấp cao đến nhân viên, kính yêu không chỉ vì là người cao tuổi có quá trình hoạt động lâu năm mà còn ở đức độ trung thực giàu lòng vị tha, hết lòng thương yêu chăm sóc mọi người. Dân Hải Phòng còn gọi chị là ‘Người con gái sông Cấm’ với cả tấm lòng mến mộ.

  1. Đ. L
  1. Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập I.- Nxb, Hải Phòng, 1991.-Tr.99
  2. Chị Tư Già: Hồi ký/Lê Minh ghi.- H.: Phụ nữ,1970
  3. Những chặng đường nóng bỏng/Hoàng Quốc Việt.- H.: Lao động,1985.-Tr 88,89,94,97,104
  4. Hồi ký của Nguyễn Thị Vinh in trong tập Nhớ mãi tên anh.- Nxb. Hải Phòng,1995.- Tr.54, 61

(Văn bản 9)

(Hồi ký của Hoàng Quốc Việt)

Đường Bác Hồ chúng ta đi
Chương II

Gặp Bác tại núi non Cao Bằng 11:31 | 30/10/2009

http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340618&cn_id=368553

Xử án xong, nhà cầm quyền Pháp đưa chúng tôi về giam tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Đến cuối mùa hè năm 1931, chúng lại đem chúng tôi xuống Hải Phòng để đưa xuống tàu chở ra giam tại nhà tù Côn Đảo. Cuộc hành trình trong xích xiềng không khỏi làm cho một số người xao xuyến…

…Trở về đất liền, tôi tiếp tục lao vào cuộc đấu tranh, hoạt động trong Mặt trận dân chủ, thuộc nhóm nửa công khai cùng với anh Trường Chinh và một số đồng chí khác. Rồi tham gia Xứ uỷ Bắc Kỳ, dự Hội nghị Trung ương Đảng, tháng ll-1940, tại làng Đình Bảng, thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng cuối năm 1940, đầu năm 1941, tôi cùng anh Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ… lên đường đi Cao Bằng, dự Hội nghị Trung ương Đảng. Chuyến đi từ Bắc Ninh lên Cao Bằng là một trong những chuyến đi vất vả nhất của đời tôi….

…Tới Cao Bằng, các đồng chí trong Tỉnh uỷ ra đón chúng tôi. Tay bắt mặt mừng, tình đời, tình người nồng nàn, đằm thắm. Bà con khắp bản trên, xóm dưới nghe tin anh Lý (bí danh của đồng chí Hoàng Văn Thụ) đã về, hối hả chạy lại vây quanh anh. Cụ già nắm cổ tay, các em nhỏ nắm vạt áo anh, còn các cô gái bản nhìn anh mà tròng mắt đỏ hoe.

…Một con đường đất đỏ, lượn quanh khuất nẻo, con đường dẫn đến hang Cốc Bó, nơi Bác Hồ đang ở. Một ông già mặc áo chàm, vai vắt khăn, cao cao, gầy gầy, vầng trán cao, đôi mắt sáng, chòm râu thưa, đang đi lại phía chúng tôi. Anh Lý nói nhỏ với mọi người: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đấy!”. Trong số anh em chúng tôi từ miền xuôi lên, chỉ có anh Lý biết Bác, vì trước đó mấy tháng, anh đã sang Trung Quốc gặp Bác. Còn tôi, anh Trường Chinh… lần đầu tiên được gặp Bác, sao mà hồi hộp vậy. Tôi liếc mắt nhìn sang anh Trường Chinh, thấy nét mặt anh rạng rỡ.

…Anh Lý giới thiệu với Bác từng đồng chí trong đoàn. Khi biết rõ họ và tên tôi là Hạ Bá Cang, Bác nhớ ngay đến hồi đầu năm 1931, khi ấy Bác nhận được bản báo cáo từ trong nước gửi sang, nói về vụ xử án Kiến An, trong đó có tôi. Nhìn tôi trong giây lát, Bác cười nói ”Hồi ấy báo cáo gửi sang bản đánh máy lại không có dấu, cho nên tôi đoán là Hà Bá Cang”. Bác cố nhấn mạnh chữ ”Hà Bá” mà lướt nhẹ chữ ”Cang” làm cho mọi người đứng đấy cười ầm lên, phá tan cái không khí trang nghiêm, do dự lúc ban đầu.

…Với anh Hoàng Văn Thụ, Bác hỏi kinh nghiệm xây dựng cơ sở cách mạng ở miền núi nên như thế nào thì tốt. Anh Thụ thưa với Bác là nên lấy cụm dân cư làm cơ sở. Xây dựng đến đâu ăn chắc đến đấy. Dựa vào thế hiểm của núi rừng, nhiều hang động, cần tích trữ lương thực, vũ khí, để chờ thời cơ xông ra khởi nghĩa, tiếp sức cho miền xuôi cùng chiến đấu. Bác khen anh Thụ nói nhiều ý trùng với suy nghĩ của Bác. Còn tôi, Bác hỏi tình hình phong trào cách mạng ở Bắc Kỳ, ưu điểm, khuyết điểm và biện pháp khắc phục. Tôi thưa với Bác: Sau trận khủng bố của địch hồi năm 1930 – 1931, chúng tôi rút ra bài học xương máu là phải rất thận trọng trong việc tuyển lựa người vào trong hàng ngũ cách mạng. Sự phản bội của những người như Nghiêm Thượng Biền, Dương Hạc Đính (Hoàng Hạc), Nguyễn Tuân (Kim Tôn),… thật sự nguy hiểm, vì qua lời khai của chúng mà địch đã phát hiện ra hàng loạt cán bộ cùng nhiều đảng viên của ta. Vấn đề cần bám chắc vào dân cũng là bài học quý…” (trang 5/11)

…Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, trong rừng Khui Nậm.

…Ai nấy đều nung nấu quyết tâm rất cao, muốn biến Nghị quyết của Đảng và điều mong muốn của Bác thành hiện thực. Ít ngày sau, chúng tôi đi về vùng xuôi. Trên đường đi nhận được tin địch đã bắt được các anh Bùi San và Hồ Xuân Lưu ở ga Diễn Châu. Nguyên nhân bị bắt là do tên Công, một tên A.B nguy hiểm chui vào hàng ngũ ta, leo lên tới chức Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ, báo cho địch biết. Cũng may trong người các anh không có tài liệu gì, vì Bác đã bảo các anh để lại ngay từ khi còn ở Pác Bó. (Trang 11/11)

Được Nghị quyết của Đảng soi sáng, phong trào cách mạng mới bắt đầu mở ra.

Các từ khóa theo tin:

(Trích Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt trong cuốn “Đường Bác Hồ chúng ta đi”)

(Văn bản 10)

VŨ VĂN HIẾU (1907 – 1943)

http://thuvienhaiphong.com.vn/vn/index.asp?menuid=661&parent_menuid=658&fuseaction=3&articleid=5705

Vũ Văn Hiếu (có tài liệu ghi Nguyễn Văn Hiếu) sinh năm 1907 tại ấp Văn Định, xã Quần Phương Thượng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nông dân nghèo, đông con. Hiếu ở với người cô ruột tận Thái Nguyên. Hiếu được đi học. Năm 15 tuổi tốt nghiệp tiẻu học Pháp Việt và được tiếp tục học trường Thành chung Hải Phòng. Sang năm thứ ba thì cô ruột ốm chết. Hiếu đành phải bỏ học.

            Anh thấy phải học lấy một nghề để kiếm sống nên xin vào học Trường kỹ nghệ thực hành Hải Phòng. Tại đây, anh gần gũi với các học sinh có tư tưởng tiến bộ như Lê Quốc Trọng, Lương Khánh Thiện, Hạ Bá Cang, Lưu Bá Kỳ… Anh tham gia vào việc đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu.

…Đến Hòn Gai để thực hiện vô sản hóa có Nguyễn Văn Xứng (Lê Thanh Nghị), Nguyễn Khắc Khang (Lê Quốc Trọng). Nguyễn Khắc Khang vốn là bạn cũ của Hiếu. Ông đã tìm cách giác ngộ Hiếu về lý luận cộng sản, về tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sauk hi giao nhiệm vụ thử thách, đến tháng 11/1929, Hiếu đã trở thành đảng viên của chi bộ Đông Dương cộng sản đảng Hòn Gai, và được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở ở Hà Tu Núi Béo.

…Sau khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930, chi bộ đảng cộng sản Việt Nam ở Mạo Khê các chi bộ Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt được thành lập. Chi bộ Hòn Gai gồm Nguyễn Khắc Khang, Vũ Văn Hiếu, Trần Văn Nghệ, Nguyễn Văn Xứng (Lê Thanh Nghị) do Nguyễn Khắc Khang làm bí thư. Tháng 3/1930, ban cán sự Hòn Gai thành lập do Nguyễn Khắc Khang làm bí thư.

…Ngày 9/2/1931, do có kẻ phản bội, Vũ Văn Hiếu và gần 70 cán bộ đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Sau mấy ngày đêm tra tấn, Vũ Văn Hiếu vẫn giữ vững khí tiết người cộng sản. Bọn chúng phải chuyển Vũ Văn Hiếu sang Hải Phỏngòi lên Hà Nội nhưng vẫn không khuất phục nổi.

Ngày 13/5/1931, thực dân Pháp đưa Vũ Văn Hiếu cùng hơn 40 đảng viên quần chúng cách mạng khác ra xử tử tại Hội đồng đề hình Hà Nội, kết án Vũ Văn Hiếu 20 năm cấm cố và đày ra Côn Đảo.

Tại Côn Đảo, Hiếu bị giam cùng Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Hạ Bá Cang, Nguyễn Khắc Khang,…

Tháng 5/1936, phong trào Bình dân ở Pháp thắng thế, thực dân Pháp ở Đông Dương phải trả tự do cho Vũ Văn Hiếu cùng nhiều chính trị phạm, Vũ Văn Hiếu về tiếp tục hoạt động cách mạng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh. Sau chuyển vào miền Nam công tác, Vũ Văn Hiếu tham gia chỉ đạo tờ Đông Phương tạp chí với danh nghĩa đặc phái viên. Tháng 11/1939, phụ trách cơ quan Văn phòng TW đảng.

Đêm 17/1/1940, tại cơ quan Vũ Văn Hiếu đã bị bọn mật thám bắt cùng Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Vũ Văn Tấn.

Suy nghĩ đến trách nhiệm bảo vệ đảng, nhất là bảo vệ các đồng chí chủ chốt, Vũ Văn Hiếu đã kịp nhắn cho Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn trước khi bị giam vào bốt Catina: ‘Tôi đã nhận tài liệu địch lấy được là của tôi, địch có đánh thì tôi chịu. Các đồng chí cứ chối hết đi. Tôi chịu đòn, chịu chết thay cho các đồng chí để các đồng chí sống mà hoạt động cho đảng’. Đầu năm 1941, Vũ Văn Hiếu lại bị thực dân Pháp đầy ra Côn Đảo lần thứ hai, giam cùng Lê Duẩn, Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), Nguyễn Tạo,…Chúng bắt các chiến sĩ cách mạng ở trần truồng, ăn uống cơ cực, kèm với roi vọt, tra tấn và bệnh tật. Lê Duẩn kể lại Hiếu bị ho lao, anh em xin được một bộ quần áo cho mặc. Một hôm đồng chí Hiếu nằm cạnh tôi nói: ‘Tôi không sống được nữa. Tôi đang nghĩ có cách gì làm lợi cho đảng mà mà nghĩ mãi không ra. Giờ chỉ có cách tôi đưa bộ quần áo này cho đồng chí mặc để đồng chí sống mà hoạt động cho đảng’. Hôm sau Hiếu chết trong những giờ phút cuối cùng của đời mình , bệnh tật dày vò đau khổ, Vũ Văn Hiếu , người đảng viên cộng sản ấy vẫn nghĩ đến đảng, vẫn nghĩ cách làm lợi cho đảng. Đó thật là một tấm gương cho chúng ta!!!!. Câu: ‘Chết còn chút áo cho nhau. Miếng cơm giành để người sau ấm lòng’, nhà thơ Tố Hữu viết về chiến sĩ cộng sản Vũ Văn Hiếu.

Trịnh Minh Hiên

Tài liệu tham khảo:

– Đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư đặc khu ủy đầu tiên khu mỏ Quảng Ninh. Ban nghiên cứu lịch sử đảng tỉnh Quảng Ninh-3/1987

– Đồng chí Vũ Văn Hiếu, người Đoàn viên Thanh niên cộng sản ưu tú của Hải Phòng. (Trích bài nói chuyện của đ/c Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành TW đảng tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba về cách mạng XHCN ở Việt Nam, tr. 238-239).

1. Nguyen Thi Hoi tuc Bich Hop vo LKT

2 thoughts on “Bài 3. Bí thư xứ ủy Bắc kỳ Hạ Bá Cang bị giết rồi Hoàng Quốc Việt nhận… xằng!”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s