Bài 2. Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Tạ Uyên chết và chết cùng nhiều người thân.

A. Bằng chứng và phân tích.

  1. Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Tạ Uyên chết và chết cả người anh vợ- Người anh vợ chết lại cũng chết cả người bố vợ – vợ Tạ Uyên thì không thấy nói tới:

“Ngày 22 tháng 11 năm 1940, chỉ trước cuộc khởi nghĩa một hôm, Tạ Uyên – Bí thư Xứ ủy – bị bắt tại Sài gòn. Sau 18 ngày  bị giam cầm và tra tấn, ngày 10 tháng 12 năm 1940 ông đã hy sinh tại nhà giam lớn Sài Gòn, thọ 42 tuổi. ” (Văn bản 1)

“…Võ Tấn Đức còn là anh vợ của đồng chí Tạ Uyên” (Văn bản 2)

            “Năm 1939, ông bị giặc Pháp bắt và lưu đày ra Côn Đảo cùng anh vợ là Lý Phùng Xuân. Sau đó, ông cũng đã hy sinh ở chốn địa ngục trần gian nầy. ” (Văn bản 2)

            “…Lý Trung Chánh … Riêng ông và con rể Võ Tấn Đức vẫn nằm lại ngoài đảo xa.” (Văn bản 2)

            “Điều đáng buồn là nhiều người dân huyện nhà chẳng biết Lý Trung Chánh là ai, có cán bộ bảo rằng tên ông nghe lạ hoắc, chưa nghe nhắc đến bao giờ. Thậm chí, đất vườn nhà ông được trưng dụng, nhưng không khai thác sản xuất từ nhiều năm qua, trông hoang tàn đìu hiu. ” (Văn bản 2)

            Võ Tấn Đức còn là anh vợ của đồng chí Tạ Uyên” vậy vợ Tạ Uyên đâu?

  1. Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Tạ Uyên chết và chết cả người bạn cũng là

            “Liệt sĩ Phan Văn Bảy …Về sau, ông được cử vào Ban chấp hành liên tỉnh miền Tây cùng với Tạ Uyên phụ trách báo Tiến lên của Liên tỉnh ủy. Sau khi Nam Kì khởi nghĩa thất bại, trong cuộc họp xứ ủy mở rộng vào đầu năm 1941, ông được cử làm Phó bí thư xứ ủy kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy. Nhưng đến năm 1942, ông bị bắt và bị kết án tử hình. Ngày 10-6-1942, ông hy sinh, hưởng dương 32 tuổi.” (Văn bản 3)

Nhận xét: Các lý do chết là bọn quỷ viết thế, có một sự thực là: Bí thư Xứ ủy Tạ Uyên chết và chết cùng rất nhiều người thân!

B. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1598:ta-uyen-1898-1940&catid=81:chinh-tri&Itemid=198

Tạ Uyên (1898 – 1940) tức Châu Xương, còn có biệt danh Hai Lọ, là nhà cách mạng yêu nước, từng giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, người lãnh đạo chủ yếu cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ông quê tại làng Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

…Tháng 7 năm 1940, Hội nghị mở rộng của Xứ ủy Nam kỳ được tổ chức tại xã Long Hưng (Mỹ Tho) để thông qua “Đề cương chuận bị khởi nghĩa” của Thường vụ xứ ủy. Cuối tháng 7 năm 1940 hội nghị Xứ ủy họp bầu bổ sung 9 ủy viên. Tạ Uyên được bầu bầu làm Bí thư Xứ ủy, trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Ngày 22 tháng 11 năm 1940, chỉ trước cuộc khởi nghĩa một hôm, Tạ Uyên – Bí thư Xứ ủy – bị bắt tại Sài gòn. Sau 18 ngày  bị giam cầm và tra tấn, ngày 10 tháng 12 năm 1940 ông đã hy sinh tại nhà giam lớn Sài Gòn, thọ 42 tuổi. Trước đó, theo đúng kế hoạch của Xứ ủy, đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã bùng nổ.

Tổng hợp Tâm Nghĩa
nguồn danh nhân Ninh Bình

(Văn bản 2)

(THVL) Ba thế hệ – một con đường

11-07-2007

http://thvl.vn/?p=11278

Ông Lý Trung Chánh, còn gọi là Thợ Chánh, sinh năm 1868, tại làng Tân Xuân – huyện Ba Tri – tỉnh Bến Tre. Do cha mẹ mất sớm, ông học nghề thợ bạc và đi kiếm sống tại Tam Bình. Nơi đây, ông lập gia đình với bà Võ Thị Nhiều và sinh được 7 người con. Những năm sau, ông làm chủ một tiệm vàng ở thị trấn Tam Bình và một mảnh vườn ở Cầu Hàn, thuộc xã Mỹ Thạnh Trung, nay là xã Tường Lộc – huyện Tam bình.

…Từ năm 1927 – 1940, ông Lý Trung Chánh đã bị bắt giam đến bốn lần, trong đó có hai lần bị lưu đày ra Côn Đảo. Chế độ hà khắc của nhà tù thực dân không làm lung lay ý chí kiên định của người chiến sĩ cộng sản. Mỗi lần ra tù, ông lại tìm cách liên lạc với tổ chức Đảng để tiếp tục hoạt động cách mạng.

Nhiều người dân nơi đây vẫn còn nhớ rõ, năm 1940, tuy đã ngoài 70 tuổi, nhưng ông vẫn tích cực tham gia mọi hoạt động chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền theo chủ trương của Xứ uỷ Nam Kỳ. …

Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, địch điên cuồng khủng bố, trả thù. Nhà ông Lý Trung Chánh và nhiều bà con bị địch đốt cháy rụi, đất đai bị chiếm giữ. Ông và hai con trai là Lý Phùng Xuân, Lý Văn Mẫn bị bắt và lưu đày Côn Đảo. Những người còn lại phải lẩn tránh sự truy lùng của địch. Gia đình ly tán. Riêng ông, do tuổi già sức yếu, không chịu nổi chế độ lao tù khắc nghiệt, ông đã hi sinh nơi Côn Đảo năm 1942. Con trai ông là Lý Văn Mẫn đã làm một bia đá đặt tại mộ ông ở nghĩa địa Hàng Dương.

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền đã lấy tên ông đặt cho một con đường tại thị trấn Tam Bình. Tuy nhiên, tên đường ấy ngày nay không còn.

…Ở thị trấn Tam Bình có một con đường và và chiếc cầu mang tên Võ Tấn Đức. Võ Tấn Đức tên thật là Võ Tuấn Đức, nguyên tỉnh uỷ viên Tỉnh ủy Vĩnh Long, là con rể thứ sáu của Lý Trung Chánh. Ông cũng là một trong những đảng viên đầu tiên của Chi bộ xã Tường Lộc – huyện Tam Bình, người đã có những đóng góp rất to lớn cho phong trào cách mạng ở địa phương. Ông từng viết nhiều bài đăng trên tờ Dân Chúng, tờ báo công khai của Đảng ở Sài gòn lúc bấy giờ để bênh vực quyền lợi của người nông dân. Võ Tấn Đức còn là anh vợ của đồng chí Tạ Uyên – Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Long (1936), nguyên Bí thư Liên Tỉnh ủy Cần Thơ (1937) và Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ (1940). Năm 1939, ông bị giặc Pháp bắt và lưu đày ra Côn Đảo cùng anh vợ là Lý Phùng Xuân. Sau đó, ông cũng đã hy sinh ở chốn địa ngục trần gian nầy.

Ông Võ Tấn Đức có người con gái tên Võ Thị Dung, nguyên là Phó Ban tổ chức Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam. Nay, bà đang nghỉ hưu tại Thủ đô Hà Nội. …Trên phần đất còn lại của gia đình ở Rạch Hàn – xã Tường Lộc, nhiều thế hệ con cháu của ông Lý Trung Chánh đều về đây yên nghỉ. Riêng ông và con rể Võ Tấn Đức vẫn nằm lại ngoài đảo xa. Chỉ trong vòng mười năm từ năm 1930 – 1940, trong gia đình ông đã có đến 8 người bị bắt tù đày, trong đó có 6 người bị đày ra Côn Đảo.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Lý Trung Chánh và các con cháu rất vẻ vang và rất đáng được trân trọng.

Điều đáng buồn là nhiều người dân huyện nhà chẳng biết Lý Trung Chánh là ai, có cán bộ bảo rằng tên ông nghe lạ hoắc, chưa nghe nhắc đến bao giờ. Thậm chí, đất vườn nhà ông được trưng dụng, nhưng không khai thác sản xuất từ nhiều năm qua, trông hoang tàn đìu hiu.

Không có quá khứ thì không có hiện tại, không có sự hi sinh cao cả của bao thế hệ cha anh thì không có những ngày được ngẩng cao đầu sánh vai cùng bè bạn hôm nay.

(Văn bản 3)

Phan Văn Bảy

Giới thiệu

http://mobile.vietgle.vn/detail.aspx?pid=NzFDRjAyMEY&key=&type=A5&stype=0

Liệt sĩ Phan Văn Bảy sinh ngày 1-1-1910 tại làng Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc, nay là xã Tân Dương, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1926, ông trúng tuyển vào trường Trung học Cần Thơ với hạng tối ưu, nên được cấp học bổng và theo học tại đây. Năm 1926, ông tham dự lễ truy điệu đám tang cụ Phan Châu Trinh, bãi khóa, mít tinh chống đàn áp nên bị đuổi học. Về quê, không bao lâu ông liên lạc với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Từ đó, ông tích cực hoạt động và xây dựng cơ sở tại các địa phương.

Ngày 13-5-1930, ông lãnh đạo nông dân Tân Dương và các vùng lân cận biểu tình đòi bãi bỏ các thứ thuế nhân dịp Esquivillon, chủ tỉnh Sa Đéc đến làng Tân Dương. Ông bị bắt và kết án 5 năm tù giam rồi đày ra Côn Đảo. Năm 1936, ông được trả tự do nhưng phải đi biệt xứ. Về sau, ông được cử vào Ban chấp hành liên tỉnh miền Tây cùng với Tạ Uyên phụ trách báo Tiến lên của Liên tỉnh ủy.

Sau khi Nam Kì khởi nghĩa thất bại, trong cuộc họp xứ ủy mở rộng vào đầu năm 1941, ông được cử làm Phó bí thư xứ ủy kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy. Nhưng đến năm 1942, ông bị bắt và bị kết án tử hình.

Ngày 10-6-1942, ông hy sinh, hưởng dương 32 tuổi.

Nguoi than bi diet

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s