Bài 1. Bọn quỷ đã giết Nguyễn Hữu Thọ thật, đầu độc vợ, giết con của ông ta rồi cho quỷ giả danh.

Chương 2. Bầy quỷ dạ xoa ở trong cái gọi là Mặt trận GP MN Việt Nam.

Hay chuyện: Các lãnh tụ “trong cái gọi là Mặt trận GP MN Việt Nam” giết “Cha, Mẹ, vợ, con và họ hàng…”

Một loạt bọn xã hội đen H đưa từ TQ về bảo họ là Trí thức A, trí thức B… Trước đó H cho giết hết cả nhà Trí thức A, Trí thức B rồi thay vào đó một tên XH đen, rồi lại la làng lên là vợ, con, cha mẹ, chú bác họ… (Những người thân) bị Pháp, Mỹ giết! Hoặc ít nhất thì vợ tâm thần, mẹ mù, con điên…

            Thật là!

            Bạn đọc có thể thắc mắc: Chiến tranh mà! Chết là chuyện thường! Nên chưa chắc đã tin. Song ta có thể tinh ý một tý thì ta sẽ thấy: “Những vợ và con của “bọn về 1945” thì vợ cả và con lớn – thường ốm hoặc chết hoặc ngớ ngẩn, hoặc mất tích, hoặc bỏ đi…! Nhưng vợ 2, con bé, hoặc con của vợ 2 thường không có hiện tượng này!

            Bạn đọc có thể thắc mắc: Vợ cả, con lớn ở trong giai đoạn khó khăn nên bị thế kể cũng là phải!

            Nhưng ta lại tinh ý một chút ta sẽ thấy: Nếu so sánh thì vợ 2, con bé, hoặc con của vợ 2 của “bọn về 1945” thì không thấy bị chết nhiều như Vợ cả, con lớn của bọn “về 1960 – 1968” – Cùng giai đoạn!

Bài 1. Bọn quỷ đã giết Nguyễn Hữu Thọ thật, đầu độc vợ, giết con của ông ta rồi cho quỷ giả danh.

A. Bằng chứng và phân tích.

            1.Xuất hiện: “Cuối năm 1961, lực lượng vũ trang Khu 5 và Phú Yên đã giải thoát, đưa Luật sư về đến căn cứ địa cách mạng Tây Ninh an toàn.”

  1. Vợ bị tâm thần: “Ít ai biết, trong lúc dồn hết tâm lực cho công tác, ông Thọ còn phải vượt qua nỗi khổ tâm riêng. Vợ ông, bà Dương Thị Chung – người phụ nữ mà ông hết mực yêu thương lại rơi vào căn bệnh tâm thần.

            “Ngày miền nam giải phóng, ông về lại căn nhà xưa trong con hẻm ở Sài Gòn thì người vợ vẫn còn đấy, chỉ khác là già nua và bệnh trọng vẫn thế.

  1. Con còn nhỏ, chưa biết mặt cha nên sống! “Bé Thủy năm ấy mới lên ba. Bé sinh ra chỉ được mấy tháng thì ba bị bắt

Tình cảm với con: “Tuy cơ quan của ba tôi không xa cơ quan của tôi là mấy, nhưng cha con thỉnh thoảng mới gặp nhau. Lúc nhớ nhau, ba tôi chỉ viết thư thăm hỏi, động viên”.”

  1. Bố mẹ, anh chị em???

Giả định: Bọn quỷ đã giết Nguyễn Hữu Thọ thật, giết nguyễn Hữu Châu thật thay vào đó là 2 kẻ của bọn quỷ thì bà mẹ tâm thần kia và con gái khi cha đi mới 3 tuổi đến 1975 về nhận ba thì có biết không? Ba lúc đó lại rất oai!

Nhận xét: Khi ba bị đưa về quản thúc ở Sơn Tây, má còn bệnh. Bà dẫn tôi cùng chị Trân, bé Thủy ra thăm ba.” tức khoảng năm 1950 -1952, theo bức ảnh (cứ cho là thật) thì là 1952. “Suốt hai năm trời, mẹ và tôi không gặp ba” rồi: “Bé Thủy năm ấy mới lên ba. Bé sinh ra chỉ được mấy tháng thì ba bị bắt”, “Năm ấy tôi mới chín tuổi” Rồi: “Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950” Vậy là khi Châu chưa tới 7 tuổi thì “Cha” đã bị bắt!

Xem bức ảnh thì “chị Trân” chỉ hơn em Châu khoảng 1 tuổi (Theo ảnh thì bằng nhau) “Năm 1940, ông kết hôn” Vậy vào năm 1950 Trân không quá 9 tuổi!

Vậy khi “cha” bị bắt Trân khoảng 8 tuổi, ở một nơi xa lạ chị 8 tuổi, em 7 tuổi và một em 3 tuổi cùng người vợ “Tâm thần” thì có ra thăm tận “Sơn Tây” được không?

Người vợ trong ảnh đâu phải “Tâm thần”?

Ảnh bịa!

Có thể mãi sau này Thọ lấy một bức ảnh nào đó ghép lại rồi đưa Châu bảo lúc con bé đấy!

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – nhà trí thức yêu nước vĩ đại

QĐND – Thứ Sáu, 09/07/2010, 22:58 (GMT+7)

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-vn/75/117582/print/Default.aspx

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có lần xúc động nói về Bác Hồ: “Với tôi, điều may mắn cũng là điều hạnh phúc lớn nhất là được đi theo con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người dẫn dắt từ khi lớp thanh niên trí thức chúng tôi còn bàng hoàng trước ngã ba đường trong đêm dài nô lệ!”.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quê ở Bến Lức, tỉnh Long An, mới 11 tuổi đã một mình xuống tàu thủy, rời cảng Sài Gòn sang Pháp học và trở về nước lúc 23 tuổi với bằng cử nhân Luật hạng ưu. Sau 6 năm tập sự, ông trở thành luật sư thực thụ. Ông đứng trước 2 lựa chọn: Hoặc một cuộc sống riêng đầy tiền tài, danh lợi; hoặc một cuộc sống có ích cho dân cho nước. Năm 1940, ông kết hôn với người phụ nữ xinh đẹp Dương Thị Chung và mấy năm sau có 1 con gái và 1 con trai.

Nhưng ngay từ lúc ở nước Pháp hoa lệ, ông đã xót xa trước cảnh quê hương mình còn quá nghèo, đồng bào mình còn quá khổ và ông tự nhủ “ráng học giỏi để đem hiểu biết của mình làm một điều gì đó có ích cho nước, có lợi cho dân”. Và ông đã chọn con đường đầy gian nguy, vì lợi ích của Tổ quốc, đấu tranh cho người nghèo, người bị áp bức.

Ông mở văn phòng luật sư riêng. Qua tiếp xúc với thân chủ, qua tòa án, ông càng thêm cảm phục lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm của các chiến sĩ cách mạng, càng thêm xót thương đồng bào và nhận rõ bản chất tàn bạo của chính quyền Sài Gòn.

Những biến động lịch sử dồn dập trong những năm 1940-1945 và đặc biệt là sự kiện Cách mạng Tháng Tám thành công, ông nhận ra rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ông từng nghe nói từ những năm hai mươi, là vị cứu tinh của dân tộc, của đất nước. Ông tin tưởng, có Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất định Việt Nam sẽ giành được độc lập, thống nhất. Và, với niềm tin mãnh liệt ấy, ông đã từng bước dấn thân vào con đường cách mạng, tham gia nhiều phong trào đấu tranh ở đô thị đòi tự do, dân chủ.

Mặc dù có nguyện vọng chiến đấu ở bưng biền, nhưng khi được tổ chức phân công hoạt động công khai đầy nguy hiểm tại Sài Gòn, ông đã chấp hành vô điều kiện.

Năm 1947, ông không ngần ngại vận động hàng trăm trí thức ký Tuyên ngôn, đấu tranh đòi thực dân Pháp phải thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh để lập lại hòa bình trên cơ sở độc lập, tự do của Việt Nam.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngày 16-10-1949, ông được tổ chức kết nạp vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại sào huyệt của địch.

Phong trào đấu tranh của các giới đồng bào vì độc lập, tự do ngày càng quyết liệt, địch ra sức đàn áp. Ông là linh hồn của các phong trào đó. Ông tham gia tổ chức đám tang Trần Văn Ơn, một sự kiện đã đi vào lịch sử với tên gọi “Ngày học sinh sinh viên toàn quốc”, tổ chức cuộc Tổng biểu dương lực lượng “Ngày toàn quốc chống Mỹ 19-3-1950” đuổi 2 tàu chiến Mỹ ra khỏi cảng Sài Gòn. Văn phòng của Luật sư tại 152 Charles De Gaulle (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) được xem là “Tổng hành dinh” của phong trào đấu tranh công khai của các tầng lớp nhân dân thành phố và Nam Bộ mà ông là Trưởng phái đoàn đại diện các giới.

Do những hoạt động yêu nước, ông bị thực dân Pháp bắt nhiều lần tại Sài Gòn, lưu đày gần 3 năm tại bản Giẳng, Mường Tè, tỉnh Lai Châu, ở vùng biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc xa xôi, ở Sơn Tây và cuối năm 1954 bị Mỹ – Diệm bắt giam quản thúc ở Hải Phòng và sau đó lưu đày suốt 7 năm ở Tuy Hòa, vùng miền núi Củng Sơn, tỉnh Phú Yên. Nhưng tất cả những thủ đoạn hăm dọa, dụ dỗ, khủng bố của kẻ thù không làm lung lay được ý chí của nhà trí thức yêu nước Nguyễn Hữu Thọ.

Trong hơn 10 năm bị lưu đày, nhiều lần mạng sống của ông bị đe dọa, gia đình ông gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế eo hẹp, có lúc vợ ông phải ở tạm nhà người em trai, rồi ở trại dưỡng lão Thị Nghè trong lúc bà vẫn bị bệnh tâm thần mà không có tiền để điều trị. Sau đó, mượn được tiền, gia đình thuê một căn nhà nhỏ vỏn vẹn 30m2 trong hẻm đường Chi Lăng (Phú Nhuận). Khi con trai trưởng Nguyễn Hữu Châu thoát ly ra chiến khu, chị Trân và em Thủy (con của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) vất vả chăm sóc mẹ dưới sự theo dõi thường xuyên của Mỹ và chế độ Sài Gòn, có lúc người chị bị địch khủng bố, bắt bớ.

Cuối năm 1961, lực lượng vũ trang Khu 5 và Phú Yên đã giải thoát, đưa Luật sư về đến căn cứ địa cách mạng Tây Ninh an toàn.  

Từ một nhà trí thức có địa vị trong xã hội dưới chế độ thực dân, đế quốc, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ trở thành một lãnh tụ của phong trào cách mạng quần chúng. Đó chính là điều làm bè bạn, đồng chí, đồng bào kính trọng, làm kẻ thù kiêng nể, coi quá trình hoạt động của ông như một “hiện tượng Nguyễn Hữu Thọ”. Ông là sự kết hợp tuyệt vời giữa phẩm chất hiên ngang, hào hiệp và giản dị của người con vùng đất Nam Bộ với đức tính cẩn trọng, khiêm nhường của một trí thức chân chính.

Tháng 2-1962, tại Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Luật sư được bầu làm Chủ tịch. Từ đó ông trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của đồng bào và chiến sĩ miền Nam, cuộc đấu tranh vũ trang – chính trị chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn.

 Năm 1968, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Quân giải phóng đã đồng loạt tấn công nhiều tỉnh, thành, quận lỵ, chi khu và cả Sài Gòn – đầu não chỉ huy chiến tranh của Mỹ – ngụy, buộc chúng phải ngồi vào bàn thương lượng hòa bình với sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 20-4-1968, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam  ra đời và  tháng 6-1969 đã cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, tổ chức Đại hội Đại biểu quốc dân toàn miền Nam, thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Hội đồng Cố vấn. Sự kiện trọng đại này đánh dấu thắng lợi về chính trị, ngoại giao hết sức to lớn của quân và dân miền Nam, trong đó có vai trò quan trọng của Luật sư – Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ.

Ngày 5-9-1969, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu Đoàn đại biểu miền Nam ra Hà Nội dự lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặc dù chưa một lần được gặp Bác Hồ, nhưng tình cảm sâu nặng với vị Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc là nguồn động lực thôi thúc ông, dẫn dắt ông trong suốt cuộc đời hoạt động của mình và ông xứng đáng là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã có sự đóng góp rất lớn và hiệu quả vào công tác đối ngoại của Đảng ta. Ông đã đi thăm nhiều nước trên thế giới nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới với cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị cấp cao nhân dân 3 nước Đông Dương, ngày 24-5-1970, những người đứng đầu 3 nước Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia đã cam kết ủng hộ lẫn nhau để giành độc lập, hòa bình, trung lập, chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Đặc biệt, ngày 5-9-1973, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã tham dự Hội nghị cấp cao các nước không liên kết lần thứ 4 tại An-giê-ri. Đại biểu hơn 100 nước đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là thành viên chính thức của Phong trào không liên kết.

Ngày 30-4-1975, non sông thu về một mối, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ mới về miền Nam thăm gia đình và người vợ yêu dấu của mình. Vợ ông vẫn ngôi nhà nhỏ ở trong ngõ hẻm đường Chi Lăng, chỉ có khác là lúc này bà đã già yếu hơn, bệnh nặng hơn…

Sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (25-5-1976), tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Phó Chủ tịch nước. Những năm tiếp theo, Luật sư lần lượt giữ cương vị Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Đối với đất nước, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật, Nhà nước pháp quyền; xây dựng Hiếp pháp năm 1980; xây dựng MTTQ Việt Nam là nơi hội tụ trí tuệ, sáng kiến của các tầng lớp nhân dân, là trung tâm đoàn kết mọi người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Đối với quê hương, gia đình, con cháu, đồng chí, đồng đội, ông để lại một di sản về tinh thần vô cùng phong phú, đó là cuộc sống khiêm tốn, trong sạch, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn, không khuất phục trước cường quyền, không sa ngã trước tiền tài, danh lợi.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác. Hội đồng Hòa bình thế giới tặng ông Huân chương Joliot Curie. Nhà nước Liên Xô (trước đây) tặng ông giải thưởng Quốc tế Lê-nin và Huân chương Hữu nghị Vì sự nghiệp củng cố hòa bình giữa các dân tộc. Ông được Nhà nước Cu-ba tặng thưởng Huân chương Đoàn kết chiến đấu…

Ngày 24-12-1996, ông đã thanh thản ra đi. Thủ tướng Võ Văn Kiệt thay mặt Đảng và Nhà nước nói lời vĩnh biệt: “Anh hãy yên nghỉ bởi những gì có thể làm thì anh đã làm hết sức mình, những gì dang dở các thế hệ tiếp theo tiếp tục hoàn thành”. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết về ông: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là một nhà trí thức yêu nước vĩ đại. Nhân dân Việt Nam ta đời đời sẽ nhớ mãi người con Việt Nam anh hùng ấy”.

Luật sư SĨ BÌNH (ghi theo lời kể của ông Nguyễn Hữu Châu Trưởng nam của Cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ).

Bí ẩn Nguyễn Hữu Thọ

http://phunuonline.com.vn/giai-tri//bi-an-nguyen-huu-tho-nbsp-/a38039.html

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục được giao đảm nhận nhiều trọng trách của Nhà nước. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, tại TP.HCM sẽ có nhiều hoạt động được tổ chức trọng thể.

Thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 10/7/2010, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam tổ chức lễ mít-tinh tại Dinh Thống Nhất và tại Bảo tàng Quân khu VII, Bộ Thông tin và truyền thông cũng sẽ phát hành bộ tem bưu chính Nguyễn Hữu Thọ. Cùng thời điểm này, tại Long An – quê hương ông, sẽ khởi công xây dựng Khu lưu niệm Nguyễn Hữu Thọ, thành lập Quỹ học bổng Nguyễn Hữu Thọ…

Dịp này, NXB Trẻ cũng chuẩn bị ấn hành tập ký Bí ẩn Nguyễn Hữu Thọ của tác giả Lê Minh Quốc, Báo Phụ Nữ xin giới thiệu cùng bạn đọc một đoạn ngắn trong tập ký này. Đây là giai đoạn cuối năm 1962, sau khi ông được Tỉnh ủy Phú Yên, Liên khu ủy Khu V giải thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù và đưa về chiến khu Dương Minh Châu.

Gia đình luật sư Nguyễn Hữu Thọ (ảnh chụp năm 1952)

Trong thời gian này, về chuyện gia đình có nỗi lo canh cánh trong lòng của luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Hiện con trai đầu – Nguyễn Hữu Châu vẫn đang sống tại Sài Gòn. Ông muốn đưa con trai vào chiến khu trực tiếp chiến đấu như thanh niên cùng thế hệ. Để có được quyết định này, ông phải suy nghĩ nhiều.

Ít ai biết, trong lúc dồn hết tâm lực cho công tác, ông Thọ còn phải vượt qua nỗi khổ tâm riêng. Vợ ông, bà Dương Thị Chung – người phụ nữ mà ông hết mực yêu thương lại rơi vào căn bệnh tâm thần. Lúc ông chưa bị tù, còn sống tại ngôi nhà 152 Charles De Gaulle (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Thời gian ấy, anh Châu – trưởng nam của ông cho biết:

– Có những lúc má tôi nổi cơn, có biết gì đâu, cứ nhào vào cào cấu đánh ba tôi. Bà ngoại thường bảo lánh mặt đi, nhưng ba tôi cứ ngồi yên chịu trận và nói với bà ngoại: “Kệ, cứ để vợ con làm vậy cho mau xuống cơn…”. Khi má hết cơn, ba thường nhẹ nhàng bế má lên lầu. Công việc bề bộn, nhưng ba chăm sóc má hết sức chu đáo, hàng tuần ba đưa má vào Bệnh viện Chợ Quán chạy điện…

Năm 1950, khi ông Thọ bị đày đi Lai Châu, văn phòng luật sư của ông được đồng nghiệp Nguyễn Lâm Sanh quản lý, con cái gửi cho mẹ vợ chăm sóc. Hàng tháng, từ lợi nhuận của văn phòng luật sư, ông Sanh cung cấp ít tiền nuôi sống gia đình ông Thọ. Tưởng thu xếp ổn định, nhưng không ngờ, ít lâu sau, vì hoàn cảnh mẹ vợ ông Thọ phải sang Campuchia, giao lại gia đình ông cho người con trai.

Bấy giờ, anh Châu được cậu gửi vào học tại một trường nội trú ở Sài Gòn, hai chị em gái của anh Châu học nội trú ở Đà Lạt. Còn vợ ông ở chung với gia đình người em vợ. Nhưng thời gian yên ổn này không dài, do vợ lâm bệnh nặng nên người em vợ buộc phải gửi chị mình vào Trại dưỡng lão Thị Nghè. Mãi đến khi người con gái của ông trưởng thành, xót xa trước hoàn cảnh gia đình, từ Đà Lạt chị quay về Sài Gòn kiếm sống và thuê một căn nhà nhỏ ở đường Chi Lăng (Phú Nhuận), chỉ vỏn vẹn 30m2, đưa mẹ và hai em về chung sống. Nay ông đưa con trai vào chiến khu, ai chăm sóc vợ, lỡ có bề gì… Nhưng rồi, ông Thọ vẫn quyết định cuối cùng. Sau này, anh Châu nhớ lại:

“Mùa hè 1962, tôi thi đỗ tú tài. Trước mắt tôi mở ra nhiều con đường: một là học tiếp lên đại học, hai là kiếm một nghề nào đó phù hợp với mình để kiếm tiền giúp đỡ gia đình. Giữa lúc đang phân vân thì tôi nhận được thư ba tôi từ chiến khu gửi về, do một chị giao liên bí mật chuyển đến. Ba tôi chỉ viết vắn tắt vài dòng, báo tin vẫn khỏe và mong gặp tôi. Trong đầu tôi lúc đó hình dung ba tôi đang chỉ huy một trận đánh như tôi thường thấy mô tả trong các tiểu thuyết lịch sử.

Không đắn đo, tôi quyết định rời bỏ cuộc sống thanh bình một cách giả tạo ở giữa Sài Gòn “hoa lệ” để – cũng như ba – dấn thân vào con đường chiến đấu.

Một buổi chiều, khi thành phố lên đèn, tôi theo giao liên đạp xe về phía ngoại thành… Ngày hôm sau, tôi đã có mặt tại một căn cứ du kích ở Củ Chi. Sau đó, theo đường dây giao liên, tôi về “R” – nơi ba tôi đang làm việc tại căn cứ của Ủy ban Trung ương Mặt trận. Hai cha con gặp lại nhau trong một căn nhà lá đơn sơ. Ba tôi ôm tôi vào lòng như lúc tôi còn bé, nhắc đi nhắc lại:

– Gặp lại con ba mừng lắm!

Đêm hôm đó, trên hai chiếc võng cha con nói chuyện suốt đêm, nói về gia đình, về tình hình v.v… Tuy không nói ra, nhưng tôi hiểu rằng ba tôi mừng không chỉ vì cha con được gặp nhau sau bao tháng năm xa cách, mà còn vì thấy tôi đi theo con đường mà ba tôi đã và đang đi. Ba tôi giữ tôi lại một tuần để dìu dắt tôi đi theo con đường kháng chiến. Ba tôi bảo đi bảo lại:

– Ở chiến khu, con phải ra sức học tập, lao động và chiến đấu như mọi cán bộ chiến sĩ cách mạng, phải tập chịu đựng gian khổ thiếu thốn, sẵn sàng chấp nhận hy sinh khi cần.

Ngày cuối tuần, ba tôi nói:

– Ngày mai, cha con mình sẽ tạm chia tay. Con sẽ về công tác ở Đài Phát thanh Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn do chú Trần Bạch Đằng chỉ đạo. Ba hy vọng rằng con của ba, một khi đã xác định đúng hướng đi của đời mình, sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà cách mạng giao cho.

Tối hôm đó, ba tôi thức thật khuya, căn dặn tôi đủ điều, chỉ ra những ưu khuyết điểm của tôi: có lý tưởng, nhưng đôi khi xa rời thực tế, nhiệt tình nhưng còn nôn nóng… Trong mấy tháng đầu công tác ở Đài Phát thanh Giải phóng, tôi được phân công tải gạo, tải đạn, làm rẫy, chặt cây, cất nhà, đào hầm… chứ không phải làm phát thanh viên chương trình tiếng Pháp như ba tôi bảo lúc đầu. Phải chăng ba tôi muốn thử thách ý chí của tôi nên nhờ các bác, các chú cho tôi trải qua giai đoạn lao động như thế. Tôi nhớ lời căn dặn của ba nên hoàn thành mọi công việc được giao với tất cả năng lực và nhiệt tình, không hề kêu ca…

Sau thời gian thử thách, tôi được chọn làm phát thanh viên tiếng Pháp mấy năm, rồi nhiều lần thay đổi công tác theo nhu cầu của cuộc kháng chiến. Dù được giao công việc gì, tôi vẫn làm theo lời ba tôi dạy, nhờ vậy tôi được các đồng chí trong cơ quan bình bầu là Chiến sĩ thi đua nhiều năm liền, được vinh dự đứng vào hàng ngũ Đảng.

Tuy cơ quan của ba tôi không xa cơ quan của tôi là mấy, nhưng cha con thỉnh thoảng mới gặp nhau. Lúc nhớ nhau, ba tôi chỉ viết thư thăm hỏi, động viên”.

Ông Thọ gửi con trai về Đài Phát thanh vì thời điểm này, Đài Phát thanh Giải phóng cũng vừa thành lập, đang cần nhân sự. Vừa giải quyết ổn thỏa việc gia đình, trên cương vị là Chủ tịch Mặt trận, ông Thọ vừa cùng các thành viên trong Mặt trận đã nhanh chóng đề ra những mục tiêu cho từng thời điểm chính trị. Điều khiến mọi người khâm phục luật sư Nguyễn Hữu Thọ là sự nắm bắt và giải quyết vấn đề. Suốt một thời gian dài bị giam cầm, không được tiếp cận với thông tin nhưng khi đứng trên cương vị Chủ tịch của Mặt trận, ông đã thể hiện một bản lĩnh chính trị sâu sắc. Do đó, không phải ngẫu nghiên những người cùng thời ghi nhận “lịch sử đã chọn đúng người”, chọn luật sư Nguyễn Hữu Thọ để trao ngọn cờ đại đoàn kết trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông Trần Bạch Đằng hoàn toàn có lý khi nhận định: “Quy trình đi lên của luật sư là quy trình khẳng định bằng tài năng và đức độ của mình và do đó, cả nước tấn phong ông. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cầm đầu “Việt cộng”, tự bước đi của ông, từ một người bình thường đến một lãnh tụ đã là một nguyên nhân cơ bản nữa làm thất bại cuộc chiến của người Mỹ. Cái “bí ẩn Nguyễn Hữu Thọ” chính là “bí ẩn Việt Nam” mà các thế lực chống Việt Nam ít chú ý, do đó, khó tránh khỏi các bất ngờ”.

Lê Minh Quốc

Nguyễn Hữu Thọ, một cuộc đời huyền thoại

http://vtc.vn/345-272222/chinh-tri/nguyen-huu-tho-mot-cuoc-doi-huyen-thoai.htm

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam có một cuộc đời mà nhiều câu chuyện huyền thoại sẽ được kể mãi tới mai sau. Cuộc đời ông là một bí ẩn. Bí ẩn lớn nhất mà kẻ thù không thể hiểu nổi là, từ một trí thức lớn, có địa vị và cuộc sống đủ đầy nơi hoa lệ, luật sư đã trở thành một nhà yêu nước và một nhà hoạt động cách mạng tận trung, tận hiếu.

 Sự lựa chọn của lịch sử

Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam (MTDTGPMN) Việt Nam được thành lập, nhưng điều đặc biệt nhất của sự kiện ấy là việc tên người lãnh tụ của tổ chức này đang còn là một bí ẩn. Thực ra Ðảng và Bác Hồ đã chọn nhà trí thức lớn là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ để giao trọng trách ấy. Nhưng đúng vào thời điểm này, vị luật sư nổi tiếng yêu nước còn đang bị chính quyền Ngô Ðình Diệm quản thúc tại Phú Yên.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại Long An. Năm 1921, mới mười một tuổi, ông được gửi sang Pháp học, đến năm 1933, tốt nghiệp trường Luật, ông về nước hành nghề luật sư. Ông nổi tiếng ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ lúc đó vì là một luật sư có cảm tình với kháng chiến, từng đứng ra bảo vệ công khai các cán bộ Việt Minh ngay trước Tòa đại hình. Ông đã biện hộ thành công cho nhiều nhân vật kháng chiến nổi tiếng lúc đó. Bà Nguyễn Thị Bình (Nguyễn Châu Sa), nguyên Phó Chủ tịch nước cũng từng được Luật sư Nguyễn Hữu Thọ biện hộ… Cách mạng đã thấy cần có những con người như luật sư trong đội ngũ của mình.

Cuộc hội ngộ của vị luật sư lừng danh với người bạn cũ của mình là Luật sư Phạm Ngọc Thuần, lúc này đã là một cán bộ cao cấp của cách mạng ở Nam Bộ, diễn ra tại trụ sở của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ giữa Ðồng Tháp Mười. Việc ông luật sư lái xe đi Mỹ Tho bị du kích Việt Minh ‘bắt’ coi như một sự kiện bí mật mà ít người biết rằng đó là cơ hội để nhà trí thức bắt đầu một con đường… Nhà văn Ðoàn Giỏi khi ấy là Trưởng công an huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho là người đầu tiên tiếp đón Luật sư Nguyễn Hữu Thọ…

Về chuyến vào bưng biền ấy, sau này ông kể rằng: Thời gian ít ỏi trong chiến khu đã cho tôi hiểu cuộc sống kháng chiến và đặt mình trước những suy nghĩ về bổn phận với đất nước. Mọi người trong kháng chiến sống đoàn kết bên nhau vì một lý tưởng cao đẹp. Không ai hỏi tôi một điều gì, ngoại trừ việc chỉ cho tôi cần hành động trước sự hy sinh của đồng bào. Tôi nghĩ rằng, là một trí thức có tên tuổi, có thể có đóng góp hành động của mình như một tấm gương cho giới trí thức Sài Gòn… Ðêm cuối cùng ở chiến khu, Phạm Ngọc Thuần người bạn lớn của ông đã dặn: Ở Sài Gòn cũng là một chiến trường. Hoạt động ngay trong lòng địch cũng là một nhiệm vụ quan trọng của kháng chiến.

Nguyễn Hữu Thọ trở lại Sài Gòn hoạt động công khai hợp pháp trong phong trào yêu nước. Từ chức Chánh án ở Vĩnh Long, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ lên Sài Gòn mở văn phòng luật sư. Ông bắt đầu tiếp xúc với Hoàng Quốc Tân – cháu nội Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải. Hoàng Quốc Tân gia nhập Ðảng Cộng sản Pháp từ hồi học luật tại Pa-ri. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng Quốc Tân về nước tham gia hoạt động và được Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn bố trí phụ trách Ban Trí vận hoạt động công khai giữa lòng địch. Ban Trí vận đã vận động trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn ra một bản tuyên ngôn kêu gọi Chính phủ Pháp đáp ứng đề nghị đàm phán kết thúc chiến tranh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 19-3-1950, cuộc biểu tình chống can thiệp Mỹ, với hàng trăm nghìn người tham gia. Dẫn đầu cuộc biểu tình, không ai khác là vị Luật sư nổi tiếng Nguyễn Hữu Thọ. Cả Sài Gòn biết cuộc dấn thân của ông đã bắt đầu. Thực dân Pháp cho bắt ông ngay hôm sau. Ðể cách ly ông, chúng đày ông lên tận bản Giắng xa xôi ở biên giới Lai Châu. Sau khi được tha, ông về lại Sài Gòn tiếp tục phong trào đòi hòa bình với tư cách là Phó Chủ tịch, đòi Mỹ, Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm. Ông đã bị Mỹ – Diệm bắt ngày 15-11-1954 cùng những người đồng chí và bị chúng đưa ra quản thúc tại Hải Phòng, lúc đó thành phố cảng đang dưới sự kiểm soát của quân Pháp. Sau đó là quãng dài bị lưu đày tại Phú Yên.

Sau Nghị quyết 15 của Trung ương về cách mạng miền nam, việc thành lập MTDTGPMN Việt Nam đã trở nên bức thiết, nhưng người được Bác Hồ và đồng chí Lê Duẩn đề cử làm lãnh tụ tổ chức này lại đang bị giặc giam giữ tại Phú Yên. Một kế hoạch giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bắt đầu. Bí thư Khu ủy khu V Trần Lương (tức Trung tướng Trần Nam Trung sau này) và Tỉnh ủy Phú Yên được giao nhiệm vụ ấy. Trước nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt, các trinh sát đã tiếp cận với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ lúc này đang ‘chữa bệnh’ tại nhà thương Tuy Hòa. Ðể làm tin, một lá thư viết tay của Giáo sư Phạm Huy Thông, người bạn trí thức cùng chiến đấu năm nào trong phong trào đòi hòa bình, được chuyển vào cho luật sư qua bà Thừa Hoàng, một cơ sở cách mạng ở Tuy Hòa. Vị luật sư nhận được tín hiệu ấy mừng đến run người, suốt đêm không ngủ.

Cuộc giải thoát lần một bị địch đánh hơi thấy liền đưa luật sư lên Củng Sơn. Và lần thứ hai, với sự tính toán tỉ mỉ, chính xác, cuộc tập kích quận lỵ Củng Sơn với nhiều đơn vị của các địa phương tham gia thắng lợi, nhưng lần thứ hai cuộc giải cứu không thành công bởi địch đã đưa luật sư về thị xã Tuy Hòa hôm trước mà cơ sở không kịp báo tin… Lần thứ ba phải dùng đến mưu trí, luật sư đã được giải cứu thành công. Một đơn vị tinh nhuệ đã hộ tống luật sư theo đường giao liên về Trung ương Cục. Ðài phát thanh Giải phóng sau đó loan tin: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTDTGPMN Việt Nam. Trên cương vị của mình, Nguyễn Hữu Thọ trở thành lãnh tụ của phong trào cách mạng quần chúng, là ngọn cờ tập hợp nhân sĩ trí thức cùng đồng bào miền nam tham gia cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam thành lập, một lần nữa, ông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Cố vấn.

Những đóng góp và sự hy sinh vì nghĩa lớn

Ðất nước hòa bình, thống nhất, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu vào Quốc hội, giữ chức Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, năm 1980 ông được giao quyền Chủ tịch nước. Tại Quốc hội khóa VII, ông được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, sau đó ông giữ chức vụ Chủ tịch Ðoàn Chủ tịch UBT.Ư MTTQ Việt Nam… Trong suốt cuộc đời, hoài bão lớn nhất của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là đấu tranh cho hòa bình thống nhất đất nước, đấu tranh thực hiện quyền dân chủ, công bằng xã hội để người dân được hưởng quyền lợi của mình từ thành quả cách mạng…

Trong cuộc đời hoạt động của mình, cũng như nhiều nhà cách mạng khác, ông đau đớn chia xa gia đình nơi có người vợ bị bệnh tâm thần và những đứa con…Ông Nguyễn Hữu Châu, người con trai của luật sư có lần kể: ‘Ba bị đày đi một nơi nào đó thật xa, nghe nói tận ngoài biên giới (sau này lớn lên, nhìn vào bản đồ tôi mới biết đó là Mường Tè). Suốt hai năm trời, mẹ và tôi không gặp ba, vì đường sá xa xôi cách trở. Vắng ba, gia đình tôi gặp biết bao khó khăn. Bệnh của má ngày càng trở nặng, vì má quá buồn và quá lo cho ba. Khi ba bị đưa về quản thúc ở Sơn Tây, má còn bệnh. Bà dẫn tôi cùng chị Trân, bé Thủy ra thăm ba. Bé Thủy năm ấy mới lên ba. Bé sinh ra chỉ được mấy tháng thì ba bị bắt, nên bé không nhớ mặt ba. Gặp bé, ba mừng lắm, đưa tay ra bế nhưng bé không chịu. Ba ôm bé vào lòng dỗ dành, nhưng bé vẫn khóc thét lên. Ba phải trả bé lại cho bà, mặt buồn rười rượi. Năm ấy tôi mới chín tuổi, còn ngây thơ quá, chưa hiểu vì sao ba buồn. Song trí nhớ non nớt của tôi còn in đậm nét mặt của ba hôm đó…’.

Ngày miền nam giải phóng, ông về lại căn nhà xưa trong con hẻm ở Sài Gòn thì người vợ vẫn còn đấy, chỉ khác là già nua và bệnh trọng vẫn thế. Ông Châu kể: ‘Vào cuối đời, ba vẫn sống giản dị, thanh đạm trong căn nhà do Nhà nước cấp, không có tài sản riêng tư nào đáng giá. Chỉ có điều ba ân hận do hoàn cảnh không lo cho má được nhiều’.

Cuộc đời người trí thức chân chính Nguyễn Hữu Thọ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Ông sống tận trung tận hiếu với nhân dân. Người bản Giắng Lai Châu xúc động đón ông trở về nơi đùm bọc ông những năm tháng bị lưu đày, người Tuy Hòa Phú Yên mãi mãi nhớ Nguyễn Hữu Thọ, một nhà cách mạng kiên cường, thủy chung, son sắt.

Theo Tân Linh/ Báo Nhân Dân

Hành trình của nhà yêu nước – Luật sư của nhân dân

27/12/2012

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121226/hanh-trinh-cua-nha-yeu-nuoc-luat-su-cua-nhan-dan.aspx

 Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có hai “cái không” đáng nhớ: không có nhà riêng cho tới cuối đời và không viết gì về cuộc đời mình đã sống…

Ngày này – cách đây 16 năm, luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã qua đời tại TP.HCM (24.12.1996 – 24.12.2012). Cho đến lúc ấy, ông không xuất bản một cuốn sách nào về cuộc đời mình, dù tên tuổi của ông thường được giới truyền thông quốc tế nhắc đến từ những năm đầu thập niên 1960 vào thời ông làm Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (rồi Phó chủ tịch nước và quyền Chủ tịch nước sau năm 1975). Đến mới đây, cuốn bút ký đầu tiên về nếp sống khiêm tốn, trong sạch, cùng những đóng góp của ông cho đất nước được người trưởng nam là anh Nguyễn Hữu Châu viết và ấn hành đầu quý 4/2012 bởi NXB Trẻ, với tựa: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – hành trình yêu nước, dày hơn 335 trang. Dựa vào 14 chương của cuốn sách trên, chúng tôi giới thiệu đôi nét ấn tượng về một trí thức tiêu biểu giữa thế kỷ 20.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại vùng Sài Gòn – Chợ Lớn cũ (nay thuộc Bến Lức – tỉnh Long An) trong một gia đình trung lưu. Sau nhiều năm sang Pháp học tại Trường trung học Mignet, rồi vào Đại học Aix-en-Provence, ông tốt nghiệp cử nhân luật năm 1932. Về nước ông tập sự hơn 5 năm tại Văn phòng luật sư Duquesnay ở Mỹ Tho và trở thành luật sư thực thụ vào năm 1939, mở văn phòng riêng tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ: “hằng ngày cha tôi phải tiếp nhiều thân chủ, khi thì những người nông dân không một xu dính túi đến cầu cứu, để nhờ cãi cho con em họ mới bị thực dân bắt; khi lại là một nhà giáo, nhà trí thức nhờ cãi cho bạn bè là chiến sĩ cách mạng thoát khỏi nhà tù thực dân… Với ai, cha tôi cũng niềm nở, ân cần và lo lắng chu đáo. Nhiều người dân ở Vĩnh Long nay đã trên 70 tuổi kể rằng việc luật sư quan tâm nhất vẫn là cãi hộ cho những người nghèo và ông không bao giờ nhận của họ tiền thù lao” (Nguyễn Hữu Châu, sđd. tr.58).

Khi sự kiện gây chấn động toàn Đông Dương là cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra ngày 23.11.1940 thì ông đã trở thành một luật sư nổi danh: “lúc bấy giờ, cha tôi trong vai trò luật sư, đã bày tỏ lòng yêu nước như một lẽ tự nhiên của mọi người dân mất nước bằng việc bênh vực, bào chữa cho những người dân lương thiện bị áp bức, các tù nhân yêu nước trước tòa án thực dân (…) cha tôi luôn đấu tranh cho chân lý là cố không để kết án những người đã toan tháo tung xiềng xích nô lệ chỉ vì lòng yêu nước của họ” (sđd. tr.56).

Về hoạt động trên, luật sư Nguyễn Phước Đại, nguyên luật sư Tòa thượng thẩm Sài Gòn, Phó chủ tịch thượng viện Sài Gòn, đã kể lại: “Một hôm tại Tòa án quân sự Pháp, tôi chứng kiến – lần này là lần đầu tiên – một luật sư người Việt, dáng dong dỏng, trán cao, mắt sáng, uy nghi trong chiếc áo thụng đen, đang bào chữa cho thân chủ là một chiến sĩ Việt Minh bị truy tố về tội phản nghịch – một trọng tội có thể bị kêu án tử hình. Luật sư đó chính là anh Thọ. Trước tòa, anh sử dụng tiếng Pháp một cách lưu loát và hùng biện, khiến cho tôi như bị thôi miên. Từ đó, tôi rất cảm mến và kính phục anh Thọ, không chỉ vì anh có một kiến thức uyên bác về luật pháp – hình luật cũng như dân luật – mà nhất là vì anh có tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, có dũng khí kiên cường, dám bảo vệ công lý và chính nghĩa trước tòa án binh của quân viễn chinh Pháp”.

Có những tình tiết liên quan đến hoạt động của ông mà đến nay ít người biết. Chẳng hạn tại Trung tâm lưu trữ quốc gia 2 – TP.HCM còn giữ công văn của Ty Cảnh sát đặc biệt miền Đông về việc ông thành lập Hội Văn hóa Sài Gòn – Chợ Lớn (Association Culturelle de Saigon – Cholon) vào năm 1946 do ông làm chủ tịch và bác sĩ Nguyễn Văn Hon làm Phó chủ tịch, ký giả Triệu Công Minh làm tổng thư ký, Giáo sư Tam Ích làm ủy viên tuyên truyền, kỹ sư Đoàn Khắc Vượng làm ủy viên tài chánh và dược sĩ Nguyễn Thế Côn làm cố vấn: “công văn trên ghi rằng hội này từng đề nghị trí thức cùng đoàn kết đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ – văn bản bằng tiếng Pháp, không bỏ dấu, tôi chỉ đoán tên chính xác của một số ủy viên, trong đó có Triệu Công Minh và Tam Ích là hai nhân vật thân Việt Minh”.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhắc đến một chi tiết ấn tượng: “không ít trường hợp, luật sư bào chữa không lấy thù lao và cũng y như vậy, không phải thân chủ đến gõ cửa luật sư mà chính luật sư sục sạo trong đống cáo trạng để chọn “thân chủ” mà vấn đề luôn gay gắt, luôn kề cái án tử hình bởi đó là những Hoàng Xuân Bình, Nguyễn Châu Sa (Nguyễn Thị Bình), Lý Hải Châu, Đỗ Duy Liên, cùng hàng trăm trường hợp tương tự mà luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã đem hết trí lực và trái tim dành mạng sống cho họ”. Những hoạt động yêu nước đã dẫn ông đến chặng đường tù ngục và lưu đày dài dằng dặc, có lúc ra tận vùng heo hút khổ cực nhất thời ấy là nhà lao Lai Châu, có lúc đưa về giam rồi quản thúc suốt 7 năm tại Phú Yên… Sống cách ly đã lâu và bị áp lực tâm lý quá nặng nên sau này vợ ông là bà Dương Thị Chung – nguyên nữ sinh Trường áo tím Sài Gòn (lấy ông từ năm bà mới 18 tuổi) đã bị bệnh tâm thần, cứ theo lời của người thư ký lâu đời và duy nhất của ông là chú Phạm Văn Uyển thì: “Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ không gần vợ con tính ra hơn 36 năm. Cảnh cô đơn, khắc khoải ấy đè nặng lên cuộc sống…” (còn nữa).

Giao Hưởng

Hành trình của nhà yêu nước – Luật sư của nhân dân

27/12/2012 04:00

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121226/hanh-trinh-cua-nha-yeu-nuoc-luat-su-cua-nhan-dan.aspx

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ có hai “cái không” đáng nhớ: không có nhà riêng cho tới cuối đời và không viết gì về cuộc đời mình đã sống…

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_Th%E1%BB%8D

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (10 tháng 7 năm 191024 tháng 12 năm 1996) là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ông sinh tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An)[1]. Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ông luôn bảo vệ công lý, bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo… ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp, đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn – Chợ Lớn, là Phó chủ tịch Phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và bị giam tại Phú Yên.

Cuối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch.

Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.

Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất.

Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981.

Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988. Ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước khóa VII, VIII.

Ông được thưởng Huân chương Sao vàng năm 1993.

Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996.

Kỷ niệm 50 năm thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam: Nơi khởi nguồn thắng lợi
22:05 | 20/12/2010

http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=439482&co_id=30296

(ĐCSVN)- Cách đây tròn 50 năm, ngày 20 –12 -1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, … Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP) được tổ chức trang trọng, …

Lịch sử cách mạng Việt Nam từng ghi nhận những đóng góp lớn của một số ủy viên đã có công lớn trong các hoạt động, đấu tranh công khai và bí mật ngay địa bàn trung tâm Sài Gòn – Gia Định. Đó là những trí thức nổi tiếng đã có nhiều ảnh hưởng và đóng góp cho phong trào cách mạng ở miền Nam, như: Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ; Phó Chủ tịch, kiêm Phó Tổng thư ký: Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phùng Văn Cung. Các ủy viên Đoàn chủ tịch: Trần Bạch Đằng. Tổng thư ký, Giáo sư Lê Văn Huấn (Chủ tịch Hội nhà giáo yêu nước Việt Nam),Dược sĩ Hồ Thu; Ủy viên Ban Thư ký Ung Ngọc Ky (Phó Tổng Thư ký đảng Dân chủ miền Nam Việt Nam); những người đã từng lăn lộn trong các phong trào yêu nước, khuấy động hàng ngày các phong trào của trí thức, sinh viên, học sinh ngay tại Sài Gòn….

1. Vo bi tam than 2. sau 1975 moi ve tham vo Tam Than

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s