Bài 4. Phù Thủy Bùi Thị Mè: Chồng mù! Giết xong 3 con lớn, 1 đứa bị thương (mù mắt) rồi cho đón 2 đứa nhỏ vào để nhận… Bố Mẹ!

“Chí thép” của người mẹ anh hùng

QĐND – Thứ Ba, 17/01/2012

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/su-kien-nhan-chung/chi-thep-cua-nguoi-me-anh-hung/173513.html

…Chồng mẹ Bùi Thị Mè là ông Nguyễn Văn Nhơn, một trí thức yêu nước. Nói về tình nghĩa vợ chồng của mẹ, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng có viết: “Chồng chị, anh Nhơn, đôi mắt kém, cho nên ngoài công việc chung mà chị phụ trách, hằng ngày chị phải giúp đỡ anh trong sinh hoạt, luôn đầm ấm, mặn nồng tình nghĩa vợ chồng. Mọi người đều khâm phục đức tính rất Việt Nam của chị và tôi nghĩ, cho đến lúc từ giã cõi đời, anh Nhơn hẳn hài lòng về người vợ thủy chung, đảm đang, “thích làm hơn nói”.

Vợ chồng mẹ Bùi Thị Mè có 6 người con, 4 trai, 2 gái. 4 con trai trực tiếp chiến đấu ở chiến trường chống Mỹ, 3 người con đã vĩnh viễn không trở về, một người bị thương. “Một người mẹ, trong một khoảng thời gian ngắn, mất đến 3 người con. Quả là một người mẹ anh hùng, chỉ nói riêng về sức chịu đựng”- ông Trần Bạch Đằng ca ngợi.

Nỗi đau ấy vẫn hiển hiện qua những trang viết đẫm lệ của mẹ:

“Một số đồng chí từ chiến trường về báo tin hai con tôi: Nguyễn Huỳnh Sanh, Nguyễn Huỳnh Tài hy sinh!

Trời! Sao lại là cả hai, ở hai chiến trường T4 và miền Tây. Anh em có lộn không? Tôi như bị trời trồng, không có phản ứng gì cả.

…Hai cái tang con làm nát lòng người mẹ. Tiếp theo là những cơn sốt rét hoành hành. Cơ quan đưa tôi đi bệnh viện. Mười ngày sau, tôi trở về cơ quan làm việc. Lạ quá, sau lời chào hỏi, mọi người nhìn tôi với đôi mắt ái ngại mà không nói thêm được lời nào. Tôi đi đến đâu, cũng gặp những cặp mắt buồn buồn, dường như ái ngại, chưa muốn nói điều gì. Tôi cảm thấy không yên tâm trước thái độ của anh chị em trong cơ quan. Không chịu nổi sự chờ mong tin con và sự lạ lùng của các đồng chí, tôi nói: “Các đồng chí có gì cứ báo cho tôi, đừng ngại. Tôi đã chuẩn bị tinh thần chịu đựng mọi tin đau đớn, nhưng không sao chịu nổi sự im lặng đáng sợ và sự chờ đợi tin con!”.

Cuối cùng, tôi thấy các đồng chí trao đổi nhau bằng mắt, rồi đồng chí phụ trách nói: Có tin về hai con của chị: T3 báo Nguyễn Huỳnh Đại hy sinh ở chiến trường Vĩnh Long và Nguyễn Huỳnh Đạo bị thương ở chiến trường được đưa vào quân y viện.

Trời ơi! Hai mũi tên kia ở trong tim chưa rút ra, lại hai mũi tên nữa bắn vào!…

Hoàng Tiến – Phan Tùng

Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè – Chọn đi lối này

Thứ sáu, 31/08/2012, 23:29 (GMT+7)

http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2012/8/297824/

Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè, từng là Thứ trưởng Bộ Y tế – Xã hội và Thương binh trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một tuần lễ, sau Tết Mậu Thân, mẹ nhận tin 3 con trai hy sinh và 1 người bị thương trong chiến trường T3. Và dù tham gia nhiều chức vụ quan trọng tại nhiều địa phương, là Thứ trưởng nhưng đến năm 1974, sau hơn 10 năm là đối tượng Đảng, mẹ Bùi Thị Mè mới được kết nạp Đảng. Mẹ kể chuyện đường đến với Đảng của mình…

  • Chọn lối đi

Năm 1940, tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp ở Trường Con Gái Bản Xứ (còn gọi là Trường Áo Tím, giờ là Trường Nguyễn Thị Minh Khai), cô nữ sinh Bùi Thị Mè phải về quê lấy chồng, theo lệnh cha. Cuộc hôn nhân của con gái một điền chủ ở Vĩnh Long có bằng Thành Chung, lấy con trai một tài phú ở Bến Tre vừa du học ở Hồng Công về hứa hẹn một cuộc sống nhiều ấm êm, nếu không có những người bạn cậu Hai Nhơn – chồng cô Mè (tên thật là Nguyễn Văn Nhơn) đến thăm. Những câu chuyện của họ nói đã mở ra cho hai vợ chồng cô Mè một lối đi khác: đi theo cách mạng.

Một hôm, anh Ba Thanh, Tỉnh ủy viên phụ trách kinh tế của Tỉnh ủy Bến Tre, đến nhờ cậu Hai Nhơn mượn giúp 2 triệu đồng để mua văn phòng phẩm cho Tỉnh ủy. Bàn bạc mãi, vợ chồng cô Mè phải dùng chiêu “bán lúa non”. Cô Mè đứng tên xin môn bài mua bán lúa của Pháp, cậu Hai Nhơn năn nỉ cha nói khó với các nhà máy xay lúa ở Sài Gòn ứng trước 2 triệu đồng, gặt xong sẽ trả lúa. Chuyến ấy, cậu Hai Nhơn chở một xuồng đầy những bao tiền từ Sài Gòn về cất trong nhà. Bên Tỉnh ủy chưa kịp đến nhận tiền thì đêm đó, quân của Trung đoàn trưởng Đồng Văn Cống ập vào bắt Hai Nhơn vì tình nghi làm kinh tài cho Tây.

Nghe tin Hai Nhơn bị giam, Bí thư huyện Mỏ Cày Hai Soái tất tả vào gặp chỉ huy và nói sự thật về số tiền trên. Trong khi quân cách mạng giữ Hai Nhơn 11 ngày “để làm cho rõ”, thì quân Pháp riết róng tra hỏi cô Mè: “Chồng cô đi đâu lâu vậy? Theo Việt Minh à?”. Cô Mè phải tìm đủ cách đối phó với Tây để giữ an toàn cho cả nhà.

Sau sự cố đó, Hai Nhơn đứt liên lạc với Ba Thanh. Bị Tây theo dõi riết, vợ chồng Hai Nhơn bỏ Bến Tre sang Trà Vinh mở trường dạy học. Sự có mặt của vợ chồng tài phú trẻ này khiến Thị ủy Trà Vinh để ý. Dần dà, những câu chuyện về lòng yêu nước được cô giáo Mè và thầy Nhơn lồng vào bài dạy cho học sinh đã nối trái tim những người yêu nước với nhau.

Đồng chí Năm Cúc, Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh sau một thời gian tìm hiểu đã đưa Trường Long Đức của cô Mè vào danh sách các cơ sở cách mạng. “Tìm được đường đến với tổ chức, vợ chồng cô yên lòng, vững chí đi theo cách mạng”, cô Năm Mè kể tiếp về “những ngày tươi mới” được làm việc cho cách mạng của mình.

Công việc đầu tiên mà tổ chức phân công cho cô Mè: Tổng Thư ký Hội Phụ nữ Việt Nam tỉnh Trà Vinh. Với vỏ bọc Hiệu trưởng Trường Long Đức, cô giáo Mè đã làm được rất nhiều việc cho cách mạng và giúp chị em phụ nữ vươn lên, có cuộc sống tốt hơn, xóa đi nỗi ám ảnh phận bạc của người phụ nữ thời phong kiến mà mẹ cô là một điển hình đau xót. Năm 1955, lại bị lộ thân phận, Ngô Đình Diệm có lệnh đóng cửa trường và “xem xét lại lý lịch” của hiệu trưởng, gia đình cô Mè chuyển lên Sài Gòn sinh sống.

  • Vững chí theo cách mạng

Năm 1960. “Hồ sơ của chị bị Ngô Đình Diệm phê xấu vậy, sớm muộn nó cũng bắt nên Khu ủy miền Tây đề nghị anh chị về miền Tây Nam bộ công tác”, một tỉnh ủy viên ở Trà Vinh thông tin với cô Mè như vậy. Lúc này cô Mè có 6 con, 4 con trai là Sanh, Tài, Đại, Đạo và 2 con gái Hòa và Bình. Vợ chồng cô bàn bạc, đắn đo mãi đành đi đến quyết định: Vợ chồng cùng 4 con trai sẽ vào bưng, Hòa (9 tuổi) và Bình (3 tuổi) còn nhỏ quá nên phải gửi lại cho người cô ở Sài Gòn nuôi giúp. Cả đêm ngồi nhìn 2 con gái ngủ mà không dám khóc, mờ sáng hôm sau, 6 người trong gia đình lặng lẽ, cắn răng gạt nước mắt ra đi.

Đang sống với mọi tiện nghi của phố xá, về tới Cà Mau, gia đình cô Mè học cách sống và lao động như người dân quê vùng cuối đất cùng trời. Tháng 5-1961, tại xã Trí Phải, huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau, đại hội Mặt trận Giải phóng dân tộc miền Tây Nam bộ và cô Bùi Thị Mè được bầu vào Ban Thường vụ, đại diện cho giới trí thức. Ít lâu sau, Trung ương Cục miền Nam có lệnh rút cô Mè về cứ. Ngoài Hai Sanh đi vào R cùng cha mẹ, còn Tài, Đại, Đạo vẫn ở lại Ban Tuyên huấn miền Tây. Tối ấy, gia đình ăn “tiệc chia tay” với món bánh tráng cuốn tôm, cá nướng và không ngờ rằng, đó là bữa cơm chung, cuối cùng của nhiều người trong gia đình.

Cuộc chiến đấu ngày càng trở nên ác liệt khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ngày càng gần. Công việc ở Ban Tuyên truyền Đối ngoại của “mẹ Năm” ngày một bận rộn nhưng lại ấm áp hơn, bởi trong những thông tin có được, thỉnh thoảng “mẹ Năm” lại thấy có biểu dương đơn vị thằng Hai, khen thưởng cơ quan thằng Ba, chiến thắng ở tuyến đầu của thằng Tư, thằng Năm.

Năm 1968. Một chiều, từ chiến trường đưa tin về: Nguyễn Huỳnh Sanh (Bé Hai), Nguyễn Huỳnh Tài (Bé Ba) cùng hy sinh ở chiến trường T4. “Các anh có lộn không, Bé Ba ở mặt trận T3 mà?… Tôi cố nói mà giọng nghẹn líu”, cô Năm kể, giọng vẫn nghẹn. Thì ra đơn vị Bé Ba được điều lên tăng cường cho Mặt trận T4 và hai anh em hy sinh cách nhau không bao lâu.

Mấy đêm liền, nằm trên chiếc võng treo ở hiên lán, gió thổi từ rừng về ù ù không làm khô nổi cánh võng ướt đẫm nước mắt cùng nỗi đau của người mẹ. Trái tim người mẹ tan nát bầm sâu với những câu hỏi không ai trả lời “Bây giờ con đang nằm lại ở đâu, hỡi Bé Hai, Bé Ba của mẹ?”.

Nỗi đau mất con cộng với sự lo lắng vì bặt tin của Bé Tư và Bé Năm khiến cô Năm suy kiệt và cơn sốt rét lại ập đến. Cô phải vào Bệnh viện B2 do BS Đoàn Thúy Ba làm Giám đốc để điều trị. Cắt cơn sốt xong, cô Năm Mè quay về cứ và bắt đầu làm việc lại để thực hiện ý nguyện của con mình.

Một tuần sau. Đi làm về thấy mấy đồng chí ở T3 lên R cứ loay hoay, lóng ngóng ở góc nhà nhìn cô rồi lại im lặng bỏ đi. Linh tính báo có điều gì ghê gớm lắm sắp xảy ra với mình, mím chặt môi, cô Năm nói: “Các đồng chí có gì cứ nói, tôi chuẩn bị tinh thần chịu đựng rồi. Tôi không chịu nổi sự im lặng đáng sợ này và sự chờ đợi tin con”. Họ ngập ngừng, lúng búng báo tin: Nguyễn Huỳnh Đại (Bé Tư) vừa hy sinh ở mặt trận Vĩnh Long và Bé Năm (Nguyễn Huỳnh Đạo) bị thương ở chiến trường, được đưa về Quân y viện. Ôm lấy ngực mình, cô Năm chết đứng. Đất trời tối sầm, quay cuồng, cố đi về góc rừng và cô đổ vật người vào cái võng với những vòng nước mắt ố vàng từ tuần trước.

Hình như các đồng chí ấy còn nói những câu gì đó, nhưng cô chỉ nghe đâu đó là tiếng gọi “Mẹ ơi!” của 4 thằng con trai trong bữa tiệc chia tay ở Cà Mau, ngày trước… Đêm ấy, giữa đêm rừng đen thẳm, trong ánh sáng chấp chới của ngọn đèn dầu dã chiến, “hình như” mẹ Năm thấy 4 con trai tuấn tú của mẹ bước vào cái lán nhỏ. Bé Hai bóp tay, chân cho mẹ, Bé Ba bưng chén cháo cười rất tươi. Miệng đắng ngắt, mẹ cầm ly nước chanh Bé Tư pha, Bé Năm đưa cái tay vụng về lau nước mắt cho mẹ…

Tổ chức cho đưa hai con gái Hòa và Bình ra cứ để có mẹ có con, hy vọng giúp cô Mè bớt đau thương. Tháng 6-1969, tại Tà Nốt, căn cứ R, diễn ra đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam để bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Huỳnh Tấn Phát là Chủ tịch Chính phủ với nội các gồm 25 người, trong đó có 3 nữ: bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Bộ Y tế – Xã hội và Thương binh có Bộ trưởng là BS Dương Quỳnh Hoa, Thứ trưởng là bà Bùi Thị Mè. Để thực hiện mong ước giải phóng quê hương của các con, “mẹ Năm” gạt nước mắt, lao vào công việc. Và Mẹ đã miệt mài làm việc bằng 4 người, cho đến ngày đất nước hòa bình.

Mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè

http://violet.vn/6/present/same/entry_id/8936250

Mẹ Bùi Thị Mè là Thứ trưởng khi chưa là đảng viên. Mẹ từ bỏ cuộc sống tiện nghi, sang giàu để chọn lối đi này, lối đi nhiều gian khó chỉ bởi lòng yêu nước nồng nàn, bất vụ lợi. Mẹ là một trong những bà mẹ anh hùng Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh.Tấm gương chiến đấu trong cuộc chiến thống nhất đất nước cũng đúc tính hy sinh của người phụ nữ Việt Nam của mẹ đã khiến bao người ngưỡng mộ ,cảm phục .Tôi là một trong những người ấy, đọc lại những chi tiết về cuộc đời mẹ tôi không biết bao lần phải nghẹn ngào thương cho mẹ. Mẹ ơi!
Năm 1940, tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp ở Trường Con Gái Bản Xứ (còn gọi là Trường Áo Tím, giờ là Trường Nguyễn Thị Minh Khai), cô nữ sinh Bùi Thị Mè phải về quê lấy chồng, theo lệnh cha. Cuộc hôn nhân của con gái một điền chủ ở Vĩnh Long có bằng Thành Chung, lấy con trai một tài phú ở Bến Tre vừa du học ở Hồng Công về hứa hẹn một cuộc sống nhiều ấm êm, nếu không có những người bạn cậu Hai Nhơn – chồng cô Mè (tên thật là Nguyễn Văn Nhơn) đến thăm. Những câu chuyện của họ nói đã mở ra cho hai vợ chồng cô Mè một lối đi khác: đi theo cách mạng. Công việc đầu tiên mà tổ chức phân công cho cô Mè: Tổng Thư ký Hội Phụ nữ Việt Nam tỉnh Trà Vinh. Với vỏ bọc Hiệu trưởng Trường Long Đức, cô giáo Mè đã làm được rất nhiều việc cho cách mạng và giúp chị em phụ nữ vươn lên, có cuộc sống tốt hơn, xóa đi nỗi ám ảnh phận bạc của người phụ nữ thời phong kiến mà mẹ cô là một điển hình đau xót. Năm 1955, lại bị lộ thân phận, Ngô Đình Diệm có lệnh đóng cửa trường và “xem xét lại lý lịch” của hiệu trưởng, gia đình cô Mè chuyển lên Sài Gòn sinh sống.
Năm 1960. “Hồ sơ của chị bị Ngô Đình Diệm phê xấu vậy, sớm muộn nó cũng bắt nên Khu ủy miền Tây đề nghị anh chị về miền Tây Nam bộ công tác”, một tỉnh ủy viên ở Trà Vinh thông tin với cô Mè như vậy. Lúc này cô Mè có 6 con, 4 con trai là Sanh, Tài, Đại, Đạo và 2 con gái Hòa và Bình. Vợ chồng cô bàn bạc, đắn đo mãi đành đi đến quyết định: Vợ chồng cùng 4 con trai sẽ vào bưng, Hòa (9 tuổi) và Bình (3 tuổi) còn nhỏ quá nên phải gửi lại cho người cô ở Sài Gòn nuôi giúp. Cả đêm ngồi nhìn 2 con gái ngủ mà không dám khóc, mờ sáng hôm sau, 6 người trong gia đình lặng lẽ, cắn răng gạt nước mắt ra đi. Đang sống với mọi tiện nghi của phố xá, về tới Cà Mau, gia đình cô Mè học cách sống và lao động như người dân quê vùng cuối đất cùng trời. Tháng 5-1961, tại xã Trí Phải, huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau, đại hội Mặt trận Giải phóng dân tộc miền Tây Nam bộ và cô Bùi Thị Mè được bầu vào Ban Thường vụ, đại diện cho giới trí thức. Ít lâu sau, Trung ương Cục miền Nam có lệnh rút cô Mè về cứ. Ngoài Hai Sanh đi vào R cùng cha mẹ, còn Tài, Đại, Đạo vẫn ở lại Ban Tuyên huấn miền Tây. Tối ấy, gia đình ăn “tiệc chia tay” với món bánh tráng cuốn tôm, cá nướng và không ngờ rằng, đó là bữa cơm chung, cuối cùng của nhiều người trong gia đình.
Cuộc chiến đấu ngày càng trở nên ác liệt khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân ngày càng gần. Công việc ở Ban Tuyên truyền Đối ngoại của “mẹ Năm” ( tên gọi cô Mè lúc bấy giờ) ngày một bận rộn nhưng lại ấm áp hơn, bởi trong những thông tin có được, thỉnh thoảng “mẹ Năm” lại thấy có biểu dương đơn vị thằng Hai, khen thưởng cơ quan thằng Ba, chiến thắng ở tuyến đầu của thằng Tư, thằng Năm. Năm 1968. Một chiều, từ chiến trường đưa tin về: Nguyễn Huỳnh Sanh (Bé Hai), Nguyễn Huỳnh Tài (Bé Ba) cùng hy sinh ở chiến trường T4. “Các anh có lộn không, Bé Ba ở mặt trận T3 mà?… Tôi cố nói mà giọng nghẹn líu”, cô Năm kể, giọng vẫn nghẹn. Thì ra đơn vị Bé Ba được điều lên tăng cường cho Mặt trận T4 và hai anh em hy sinh cách nhau không bao lâu.
Mấy đêm liền, nằm trên chiếc võng treo ở hiên lán, gió thổi từ rừng về ù ù không làm khô nổi cánh võng ướt đẫm nước mắt cùng nỗi đau của người mẹ. Trái tim người mẹ tan nát bầm sâu với những câu hỏi không ai trả lời “Bây giờ con đang nằm lại

Cuối tháng 2 năm 1968, bà Mè đang làm việc tại một khu khá hẻo lánh của Chiến khu R cùng với một nhóm đồng sự. Bà nhớ đó là một ngày đẹp trời và bà ngồi bên bàn làm việc trong căn lều mái lá. Một thượng cấp bước vào và, hơi do dự một chút, tiến tới chỗ bà.

“Có tin xấu”, ông nói. “Tôi vừa được thông báo rằng Tài và Sanh đã ngã xuống trên chiến trường!”. Tài, mới 24 tuổi, mất vào tháng 12 tại tỉnh Cần Thơ, nhưng phải hai tháng sau thì tin tức mới tới được với bà Mè. Thật là họa vô đơn chí khi tin tức về cái chết của Tài đến đúng lúc với cái chết của đứa con lớn tuổi nhất, cậu Sanh, 26 tuổi. Sanh bị trúng đạn chết tại An Lạc, quận Bình Chánh nhiều ngày trước đó, trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân.

Bà Mè run rẩy toàn thân. “Khi nghe tin, điều đầu tiên tôi nghĩ là chắc có gì đó nhầm lẫn. Làm sao tôi có thể mất hai đứa con trai cùng lúc? Nhưng khi nhận ra đó là sự thật, tôi thấy cơ thể mình nhẹ hẫng. Tôi chạy vào hầm trú ẩn và khóc. Nước mắt xối xả như mưa. Tôi cảm thấy như có ai đó đang cắt đi từng phần cơ thể của mình. Chồng tôi làm việc ở gần đấy đã tới an ủi tôi”.

Bà Mè đã có sự chuẩn bị tinh thần cho việc có thể mất đi một người con, nhưng chưa hề chuẩn bị cho việc mất hai người con cùng lúc. Bà cũng chưa chuẩn bị cho những điều sẽ xẩy ra sau đó.

Tuần kế tiếp, bà Mè trở lại làm việc, cố nén nỗi đau mất mát. Nhưng bà vẫn linh cảm có điều gì chẳng lành. Các đồng sự đôi khi nhìn bà rồi vội vã lảng đi. Bà liền tới chỗ người chỉ huy và khẩn nài: “Xin hãy nói cho tôi biết liệu còn tin gì xấu nữa không. Đừng có giấu. Tôi cần biết!”. Người chỉ huy ấn bà ngồi xuống, rồi nói rằng ngay sau khi nhận được tin hai người con của bà Mè mất, ông còn nhận được thêm tin báo rằng đứa con thứ ba của bà, tên là Đại, 22 tuổi, bị giết ở Vĩnh Long, trong khi đứa con thứ tư là Đạo, 20 tuổi, bị thương nặng. Nhiều đồng sự chạy tới an ủi bà Mè nhưng rồi cũng khóc lên trước những tin xấu mà bà mới nhận được. Trong khi đó, bà không thể nhỏ được giọt nước mắt nào – bà cảm thấy cả người tê dại.

Người con trai tên Đạo rốt cuộc đã qua khỏi. Không muốn để bà Mè cùng ông Nhơn mất thêm người con thứ tư nếu cậu đi vào nơi hiểm nguy, viên chỉ huy của Đạo đã ra lệnh cho cậu về công tác cùng cha mẹ tại Chiến khu R. Người chỉ huy biết rằng mệnh lệnh của mình không đảm bảo rằng Đạo sẽ có một cuộc trở về an toàn – vì Chiến khu R thường xuyên là mục tiêu tấn công của máy bay. Nhưng ông biết rằng cha mẹ của Đạo sẽ cảm thấy yên tâm phần nào khi con trai ở cùng với họ. Thế là Đạo đi một mình, trực chỉ tỉnh Tây Ninh và Chiến khu R.

Chuyến đi tới Chiến khu R kéo dài trong nhiều tuần. Suýt chút nữa thì chuyến đi đã kết thúc với việc bà Mè mất đi người con trai thứ tư, khi Đạo may mắn thoát chết trong một cuộc pháo kích trên đường tới căn cứ.

Một tháng sau khi nhận được tin người con thứ ba tử trận, bà Mè bước ra khỏi phòng làm việc ở Chiến khu R với một nỗi kinh ngạc khi Đạo chạy tới chào mẹ. Dòng nước mắt dồn nén hôm nào giờ được dịp tuôn xối xả. Dòng nước mắt ấy, cũng như tình thương của người mẹ dành cho con trai, đã khiến bà Mè không nhận thấy sự thay đổi ngoại hình của Đạo khi bà ôm cậu trong vòng tay, không thấy rằng khuôn mặt con đã bị thương tích làm biến dạng. Một quả đạn M-79 phát nổ đã găm nhiều mảnh vào mặt và một mắt của Đạo…

***

Chuyện của bà Mè chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện. Một góc trưng bày ở Bảo tàng Quân đội tại Hà Nội có danh sách những bà mẹ Việt Nam chịu nhiều mất mát về gia đình. Chưa phải toàn bộ, danh sách này liệt kê hàng chục bà mẹ, kết lại với nhau tạo nên một cảm giác mất mát khôn cùng về những người mẹ chịu cảnh người đầu bạc khó kẻ tóc xanh, về những người con đã mất vốn lẽ ra phải sống lâu hơn mẹ mình. Có rất nhiều người mẹ Việt Nam phải chịu nỗi đau mất mát như thế. Bà Nguyễn Thị Điểm1 mất chồng và hai con trai; bà Trần Thị Tràng – mất chồng và năm người con, còn đứa con thứ sáu bị thương; bà Huỳnh Thị Tân – mất năm người con. Một báo cáo hậu chiến cho biết chỉ riêng tại Sài Gòn đã có hơn 1.400 bà mẹ mất ba con trở lên.

Mất đi một người con là nỗi đau lớn cho bất cứ bà mẹ nào; và rõ ràng những bà mẹ chịu khổ đau nhất là những người phải chứng kiến toàn bộ thế hệ con cái của mình ngã xuống trên chiến trường Việt Nam. Mất đi người con trai duy nhất hay tất cả con trai thì nỗi đau vẫn vô cùng vô tận. Nếu bi kịch đơn thuần chỉ là con số thống kê thì có hai người mẹ đứng đầu về sự mất mát: mẹ Nguyễn Thị Thứ đã chứng kiến chiến tranh cướp đi chín người con, một người con rể và một người cháu; và mẹ Nguyễn Thị Rành, mất tám người con và hai đứa cháu. Nỗi đau mất mát lớn lao ấy vẫn không làm giảm quyết tâm hướng về chiến thắng của các mẹ. Thông điệp này đã được nêu rõ trong bức thư của một bà mẹ, bà Nguyễn Thị Loan, vào tháng 1 năm 1968. Sau khi mất đi người con trai nhỏ, Lê Viết Dũng, bà đã xin chính quyền cho phép người con trai còn lại của mình, Lê Viết Hùng, nhập ngũ để trả thù cho em.

Nỗi chịu đựng âm thầm của những bà mẹ Việt Nam mấ con trong chiến tranh là vô cùng lớn lao. Nó nhắc tôi nhớ lại câu chuyện của một bà mẹ Pháp chờ đợi đứa con trai chở về từ chiến trường trong một cuộc chiến khác vào thế kỷ trước2. Người con trai duy nhất của bà – là tất cả những gì bà có trên cõi đời này – tham gia một trận đánh lớn trong Chiến tranh Pháp-Phổ. Bại trận, những người lính Pháp đào ngũ mất hết nhuệ khí kéo nhau đi qua làng. Người mẹ ấy đã đứng hàng giờ liền trên đường làng, xem từng gương mặt binh sĩ. Sau cùng, khi bóng tối đổ xuống con đường làng vắng vẻ và người lính đào ngũ cuối cùng đã đi qua, bà thốt lên: “Tạ ơn Chúa! Nó không phải là kẻ trốn chạy”.

  1. Tức Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thanh Tùng, sinh 1941.

ĐỨA CON CỦA RỪNG

Nguyễn Thị Bình là con gái út của bà Bùi Thị Mè và Nguyễn Văn Nhơn (thân sinh của ba người con trai chết trận trong chương “Không ngày đoàn tụ”). Ba năm sau khi Bình chào đời vào năm 1957, cha mẹ và các anh trai để cô cùng một người chị lại cho bà cô nuôi.

Năm 1964, người cô sợ rằng chính quyền Sài Gòn có thể tìm bắt hai cô bé, lúc này đã mười ba và bảy tuổi, để làm con tin buộc cha mẹ chúng phải trở về. Thông qua một hệ thống liên lạc sử dụng những người truyền tin tình nguyện, người cô bày tỏ nỗi lo lắng tới cha mẹ hai cô bé đang công tác tại Chiến khu R. Họ đi đến quyết định để hai bé tới ở cùng cha mẹ tại căn cứ càng sớm càng tốt.

Vào ngày trù định, một người giao liên tình nguyện tới nhà bà cô để đưa hai cô bé tới bến xe đò. Họ lên một chiếc xe đò thẳng tới Tây Ninh, nơi ông Nhơn đang nóng lòng chờ đợi. Khi tới nơi, mọi người chẳng có đủ thời gian để chào hỏi. Ông Nhơn hối hả dẫn ba người đi bộ vào rừng sâu, vào một thế giới khuất bóng mặt trời – và cũng khuất khỏi tầm mắt của kẻ thù trên cao – nhờ cây cối rậm rạp.

Phải mất chọn một ngày mới tới được Chiến khu R. Hành trình gian khó nhưng Bình rất vui khi gặp cha và nóng lòng được gặp mẹ. Ông Nhơn dẫn mọi người đi qua những con đường nhỏ nhớp nháp, do người dân địa phương tạo ra để cho xe bò đi. Rất ít người ngoài cuộc biết đến sự tồn tại của phần lớn những con đường kiểu này. Lúc chập tối thì ông Nhơn và hai cô con gái đã đến doanh trại.

Chiến khu R được thiết kế và tổ chức với đủ các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động hoạch định và triển khai chiến lược tổng thể của Mặt trận cho toàn cuộc chiến. Nó không chỉ có trung tâm chỉ huy và điều hành mà còn có cơ sở hỗ trợ để thực hiện các chức năng này. Nhằm tránh nguy cơ toàn bộ sở chỉ huy bị triệt phá, căn cứ được xây dựng dàn trải trên một khu vực rộng. Có một trường học cho trẻ em ở đây. Cùng với khoảng năm, sáu mươi đứa trẻ khác, Bình coi ngôi trường là nhà trong phần nửa quãng đời tuổi thơ của mình. Niềm mong mỏi được ở cạnh cha mẹ đã sớm bị dập tắt khi cô được dẫn tới ngôi trường mới – cũng là nhà mới.

Trường có các lớp từ 1 tới 6. Lúc tới nơi, Bình mới bảy tuổi và được xếp vào lớp 1; người chị gái mười ba tuổi, đã quá tuổi đi học, được bố trí làm nữ hộ lý ở đâu đó tại Chiến khu R. Bình bị tách khỏi cả cha mẹ lẫn chị gái.

…Khoảng ba tháng thì Bình mới được gặp cha mẹ một lần – thường là gặp bất ngờ chứ không hẹn trước.

…Lúc mới tới Chiến khu R, Bình là một cô bé bảy tuổi nhút nhát; cô rời nơi này bảy năm sau, khi đã trở thành một thiếu nữ không biết sợ là gì, khi đã có đủ sự tự tin rằng mình có thể vượt qua mọi tai ương.

…Không mất cha mẹ ở Chiến khu R nhưng Bình cũng không thoát khỏi bi kịch cá nhân. Tháng 2 năm 1968, cô bé được giáo viên và bạn bè chăm sóc đặc biệt, một sự quan tâm chỉ dành cho những ai mất đi người thân. Cô bé biết có điều gì đó bất ổn nhưng chẳng biết đó là gì. Lúc đầu cứ tưởng rằng cha hoặc mẹ đã chết hoặc bị thương, rồi cô cảm thấy nhẹ nhõm khi được thông báo đi gặp phụ huynh.

“Tôi linh cảm có điều gì đó bất ổn nhưng chẳng ai nói cho tôi biết về cái chết của ba người anh. Tôi được đưa tới ở với cha mẹ một thời gian. Một đêm nọ, khi tôi sắp ngủ thì có mấy người bạn của cha mẹ tới. Lúc ấy ông bà tưởng tôi đã ngủ rồi. Tôi giữ im lặng tuyệt đối để nghe họ trò chuyện. Tôi nghe những người kia chia buồn và bắt đầu nói về cái chết của các anh. Lúc bấy giờ tôi mới biết điều gì đã xẩy ra. Tôi khóc lặng lẽ nhưng chẳng bao giờ nói với cha mẹ về nỗi mất mát đó. Tôi ở với họ chừng một tuần hoặc mười ngày thì đi”.

Chiến khu R bị ném bom thường xuyên, nhưng trước giờ ngôi trường lại chưa bao giờ trúng bom cả. Tuy nhiên, vào đầu năm 1971, điều mà phụ huynh lo sợ nhất đã ập đến. Bình vẫn còn lưu giữ ký ức kinh hoàng; nhưng rất nhiều bạn học của cô thì không thể.

“Tôi bị sốt rét và được đưa tới bệnh viện”, cô kể. “Cha mẹ tôi cũng bị sốt rét, vì thế chúng tôi ở bên nhau. Lúc ấy cả nhà đang ở trong căn hầm dành cho bệnh nhân. Đột nhiên máy bay ập tới ném bom mà không hề có báo động trước. Lúc ấy việc dạy học đang diễn ra dưới các căn hầm có mái chữ A được làm bằng gỗ và che lớp đất dày chừng hai tấc – trường không có hầm trú bom. Chúng tôi phải chuyển chỗ liên tục nên không có thời gian đào hầm trú ẩn lớn. Hôm đó trường trúng bom. Đó là lần đầu tiên bom rơi trúng trường học. Mười ba trẻ và hai người lớn chết. Tôi quen tất cả các nạn nhân… Khi máy bay gia tăng ném bom Chiến khu R, người ta đã quyết định gửi trẻ em ra miền Bắc”.

…Năm 1974, Bình sung sướng khi được đón những vị khách bất ngờ – cha mẹ cô. Sau khi người Mỹ rút khỏi cuộc xung đột thì việc đi lại dọc Đường mòn trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Không còn máy bay địch đe dọa, cha mẹ Bình đà thực hiện hành trình ra Bắc rất dễ so với chuyến đi khổ ải mà Bình từng trải qua.

Hai người ra Hà Nội bởi cha Bình bị bệnh mắt nặng. Tới Hà Nội được một thời gian, ông tiếp tục sang Liên Xô để phẫu thuật và dự kiến sẽ dưỡng bệnh trong sáu tháng. Khi ông lên đường sang Moskva; mẹ Bình – bà Mè – ở với con gái. Thế rồi, cha của cô đã trở lại Hà Nội chỉ hai tuần sau khi phẫu thuật. Ông nóng lòng được trở về Chiến khu R khi nhận thấy chiến thắng ở miền Nam đang cận kề. Bình rất vui trong thời gian được ở với cha mẹ trước khi chia tay….

1. Co 3 con chet 1 bi mu Chong mu

Advertisements

One thought on “Bài 4. Phù Thủy Bùi Thị Mè: Chồng mù! Giết xong 3 con lớn, 1 đứa bị thương (mù mắt) rồi cho đón 2 đứa nhỏ vào để nhận… Bố Mẹ!”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s