Phụ bài 2. Hồ Đã giết cha của Lê Minh Quới!

  1. Có 2 ông Lê Văn Sô đều là Lão thành CM?
  2. Ông thứ nhất: LÊ VĂN SÔ (1904 – )

Phụ lục II

TÓM TẮT TIỂU SỬ NHÂN VẬT, SỰ KIỆN, ĐỊA DANH LỊCH SỬ

(Kèm theo Nghị quyết số 16/2011/NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2011của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ)  

  1. LÊ VĂN SÔ (1904 – )

Còn gọi là Hòa, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1904 tại làng Thới An Đông, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Năm 1926, ông được kết nạp vào “Việt Nam phục quốc Đảng” – Một tổ chức yêu nước đầu tiên ở tỉnh Cần Thơ. Năm 1927, ông được đưa sang Trung Quốc dự lớp học của Nguyễn Ái Quốc và được kết nạp vào “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”.

Cuối năm 1927, về nước ông hoạt động ở Cần Thơ, phát triển các cơ sở Đảng và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng. Năm 1931, ông bị địch bắt và đày đi Côn Đảo, … Tháng 7 năm 1936, ông được ra tù và tiếp tục hoạt động. Tháng 9 năm 1945, ông làm quyền Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, sau đó làm Thủ quỹ Xứ ủy Nam bộ, Ủy viên Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam. Từ sau năm 1962, do tuổi tác và sức khỏe, ông được tổ chức phân công ở lại Thủ Đức sinh sống và nuôi chứa cán bộ và là nơi hội họp của cơ quan thành Sài Gòn – Gia Định. …

(Theo nguồn dữ liệu Ngân hàng tên đường: Những viên ngọc quý: Tập II – Cần Thơ: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, 1999 – 226 tr; 19 cm).

  1. Ông thứ 2: Lê Văn Sô sinh 1894.

Bài 8: Đôi nét về tiểu sử ông Lê Quang Sô
Lê Quang Sô
http://www.vietgle.vn/beta
http://my.opera.com/Hoang%20Ngoc%20Hung/blog/qu-c-k-vi-t-nam

Năm sinh Giáp Ngọ – 1894
Năm mất Mậu Ngọ – 1978
…Nhân sĩ yêu nước Lê Quang Sô tên thật là Lê Văn Sô, bí danh Hai Sô hay còn gọi là Hai Ếch (do viết tắt của S – cách đọc của người Nam Bộ), sinh ngày 7-7-1894, quê ở xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, nay là xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, là trí thức Nho học và biết tiếng Pháp, sang học tại trường Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu – Trung Quốc vào năm 1927, … Tháng 3 – 1931, ông được kết nạp Đảng; đến tháng 7-1931 bị bắt đày ra Côn Đảo vì tham gia rải truyền đơn và tại đây ông gặp Ngô Gia Tự, Trần Văn Giàu, Lư Sanh Hạnh…. Sau khi ra tù, ông được Tỉnh uỷ Mỹ Tho giao nhiệm vụ mở ba lớp đào tạo cán bộ năm 1937 – 1939.

Lê Quang Sô cũng là người dịch quyển Chiến lược và chiến thuật du kích chiến tranh của Trung Quốc, sau đó in ra 500 quyển nhằm phổ biến cho các nơi trước ngày khởi nghĩa Nam Kỳ. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa được Đảng bộ Mỹ Tho chuẩn bị khá chu đáo và toàn diện, kế hoạch đột nhập Thị xã Mỹ Tho của lực lượng 2 huyện Chợ Gạo và Châu Thành với gần 4.000 người do Lê Quang Sô chỉ huy.

Nguyên tỉnh uỷ viên kiêm uỷ viên tuyên truyền, uỷ viên khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho, ủy viên Ban chấp hành Nông dân cứu quốc Nam Bộ, Cố vấn sở Canh nông Nam Bộ, Phó ban hội đồng kỹ thuật Nam Bộ, Trưởng ban hệ thống các vườn thuốc Đông y (sau đổi tên là Viện dược liệu Hà Nội, thuộc Bộ Y tế), được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì.

Ngày 15-8-1978 ông mất, thọ 84 tuổi, tang lễ được cử hành tại nhà số 384/29 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh, an táng tại quê nhà.

I.Khác nhau:

1.Ông thứ nhất:

– Tên: Còn gọi là Hòa

– Năm sinh: sinh ngày 20 tháng 8 năm 1904

– Quê Quán: tại làng Thới An Đông, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ.

– Chức vụ: Tháng 9 năm 1945, ông làm quyền Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, sau đó làm Thủ quỹ Xứ ủy Nam bộ, Ủy viên Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam.

– Tập kết: Không thấy nói, chỉ nói: “Từ sau năm 1962, do tuổi tác và sức khỏe, ông được tổ chức phân công ở lại Thủ Đức sinh sống và nuôi chứa cán bộ”

– Ngày Mất: Không thấy nói

2.Ông thứ hai:

– Tên: Nhân sĩ yêu nước Lê Quang Sô tên thật là Lê Văn Sô, bí danh Hai Sô hay còn gọi là Hai Ếch

– Năm sinh: sinh ngày 7-7-1894

– Quê Quán: quê ở xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, nay là xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

– Chức vụ: Nguyên tỉnh uỷ viên kiêm uỷ viên tuyên truyền, uỷ viên khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho, ủy viên Ban chấp hành Nông dân cứu quốc Nam Bộ, Cố vấn sở Canh nông Nam Bộ, Phó ban hội đồng kỹ thuật Nam Bộ.

– Tập kết: Trưởng ban hệ thống các vườn thuốc Đông y (sau đổi tên là Viện dược liệu Hà Nội, thuộc Bộ Y tế)

– Ngày Mất: Ngày 15-8-1978 ông mất, thọ 84 tuổi

II.Giống nhau:

1.Ông thứ nhất:

– Quá trình hoạt động CM: Năm 1927, ông được đưa sang Trung Quốc dự lớp học của Nguyễn Ái Quốc và được kết nạp vào “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội”.Cuối năm 1927, về nước ông hoạt động ở Cần Thơ, phát triển các cơ sở Đảng và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng. Năm 1931, ông bị địch bắt và đày đi Côn Đảo, … Tháng 7 năm 1936, ông được ra tù và tiếp tục hoạt động.

2.Ông thứ hai:

– Quá trình hoạt động CM: sang học tại trường Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu – Trung Quốc vào năm 1927, … Tháng 3 – 1931, ông được kết nạp Đảng; đến tháng 7-1931 bị bắt đày ra Côn Đảo.

Sau khi ra tù, ông được Tỉnh uỷ Mỹ Tho giao nhiệm vụ mở ba lớp đào tạo cán bộ năm 1937 – 1939.

LB: Vậy 2 Tiểu sử này là 1 hay là 2 người? Ông Lê Văn Sô chính thức là tiểu sử nào?

  1. Văn Bản của Đảng xác nhận:

“Lê Văn Sô … được đi dự lớp huấn luyện của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1927), là Ủy viên Ban Chấp hành Đặc Ủy hậu Giang An Nam cộng sản Đảng (1930).”

Và: “Cuối năm 1936, đồng chí Lê Văn Sô, tù chính trị ở Côn Đảo mãn án”!

Chương I

TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, XÂY DỰNG CHI BỘ ĐẢNG, LÃNH ĐẠO QUẦN CHÚNG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)

1.Truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin, xây dựng chi bộ cộng sản ở Bà Rịa – Vũng Tàu

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=5&leader_topic=79&id=BT6121158479

…Cuối năm 1936, đồng chí Lê Văn Sô, tù chính trị ở Côn Đảo mãn án, bị thực dân Pháp đưa về chỉ định an trí ở Bà Rịa. Trong thời gian tìm nơi cư trú và việc làm, thực dân Pháp cho đồng chí tạm trú tại khám Bà Rịa. Lê Văn Sô liên lạc được với Trần Văn Cừ và Trần Văn Hoá đang bị giam ở đây, nhờ đó liên lạc với Hồ Tri Tân, hoạt động trong chi bộ Phước Hải, đẩy mạnh việc phát triển cơ sở Đảng và các đoàn thể quần chúng. Vận dụng những kinh nghiệm chỉ đạo phong trào ở miền Tây Nam Bộ và những kinh nghiệm tích lũy được trong nhà tù Côn Đảo, Lê Văn Sô đã góp phần nâng cao chất lượng và đẩy mạnh các hoạt động của chi bộ Phước Hải10.

Làm phu cho một chủ xe đò đưa cá, mắm từ Phước Hải lên bán ở các chợ vùng cao su lộ 2, Lê Văn Sô đã cùng chị Nguyễn Thị Sanh và anh Minh Rỗ xây dựng nhiều hội tương tế trong công nhân cao su. Hồ Ngọc Hạ (em ruột Hồ Tri Tân) cũng được giác ngộ và được cử đi cùng Lê Văn Sô phát triển cơ sở trong công nhân cao su. Chi bộ liên sở cao su Bình Ba – Xà Bang – Láng Lớn được thành lập gồm các đồng chí Nguyễn Thị Sanh (Sáu Mười Mẫu), Minh Rỗ, Hồ Ngọc Hạ do đồng chí Lê Văn Sô trực tiếp chỉ đạo. Trong vai người đi buôn cá, Lê Văn Sô vừa trực tiếp hoạt động, vừa giữ mối liên lạc giữa Phước Hải với vùng cao su.

Các đảng viên được Xứ ủy phân công chỉ đạo phong trào đấu tranh công khai thường xuyên theo dõi và chỉ đạo hoạt động của Ủy ban hành động Bà Rịa, trực tiếp là các đồng chí Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Lộng (tức Chùa). Dương Bạch Mai hoạt động công khai trong giới báo chí, trí thức, nghị trường, được phân công chỉ đạo địa bàn vùng Biên Hòa, Bà Rịa.

Qua sự giới thiệu của Dương Bạch Mai, Hồ Tri Tân liên lạc được với đồng chí Nguyễn Văn Phải (tức Thanh Phong), đảng viên Đảng cộng sản Pháp đang hoạt động ở thị trấn Long Điền và phát triển thêm được nhiều cơ sở mới như Chín Thừa (Phước Tỉnh), Nguyễn Văn Lê (An Ngãi), Đỗ Văn Nhàn (Bảy Nhàn ở Tam Phước). Nhóm của Nguyễn Văn Lê (Ba Lê ở An Ngãi) tập hợp thêm Ba Cụt (Lê Minh Châu, ở Phước Tỉnh), Hai Khai và nhiều thanh niên hăng hái ở Long Điền.

Cuối năm 1936, Lê Văn Sô và Hồ Ngọc Hạ được điều về Mỹ Tho hoạt động. Những nỗ lực của Hồ Tri Tân cùng những đóng góp tích cực của Lê Văn Sô đã góp phần củng cố các cơ sở Đảng. Năm 1937, Chi bộ Phước Hải phát triển thêm nhiều đảng viên như Trần Văn Hoá, Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Lương Tống (ở Phước Hải); Lê Văn Hay tức Hà Du (Long Điền), Võ Văn Thiết, Lê Công Cẩn, Trương Văn Tân (Long Mỹ). Chi bộ Long Mỹ được thành lập do Võ Văn Thiết làm Bí thư. …

  1. Lê Văn Sô nguyên là học sinh trường Collège de Cần Thơ, được đi dự lớp huấn luyện của đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1927), là Ủy viên Ban Chấp hành Đặc Ủy hậu Giang An Nam cộng sản Đảng (1930).

NX: Sao lại: “…Cuối năm 1936, đồng chí Lê Văn Sô, tù chính trị ở Côn Đảo mãn án, bị thực dân Pháp đưa về chỉ định an trí ở Bà Rịa. Trong thời gian tìm nơi cư trú và việc làm, thực dân Pháp cho đồng chí tạm trú tại khám Bà Rịa. Lê Văn Sô liên lạc được với Trần Văn Cừ và Trần Văn Hoá đang bị giam ở đây, nhờ đó liên lạc với Hồ Tri Tân, …Lê Văn Sô đã góp phần nâng cao chất lượng và đẩy mạnh các hoạt động của chi bộ Phước Hải10.

Làm phu cho một chủ xe đò đưa cá, mắm từ Phước Hải lên … Trong vai người đi buôn cá… ”

Rồi: “Cuối năm 1936, Lê Văn Sô và Hồ Ngọc Hạ được điều về Mỹ Tho hoạt động. ”!

Không lẽ một người mà cuối năm 1936 mới bị đưa về Vung Tàu giam, làm quen với bạn tù, rồi chỉ đạo đảng ở Vũng Tàu, rồi lại hoạt động trong vai người buôn cá, rồi lại: “Cuối năm 1936, Lê Văn Sô và Hồ Ngọc Hạ được điều về Mỹ Tho hoạt động.”?

Hoạt động gì mà như Tôn Ngộ Không vậy?

  1. Bạn cùng thời với: “Châu Văn Liêm ”!

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung

Thứ hai, 25/06/2012 21 giờ 20 GMT+7

http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=71&id=108378

LTS: Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Châu Văn Liêm (29/6/1902 – 29/6/2012), Báo Cần Thơ xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tài liệu tuyên truyền do Ban Tuyên giáo Thành ủy biên soạn.

…1- Châu Văn Liêm – người học trò hiếu học

Sinh ra trong một gia đình Nho học, tư chất lại thông minh nên từ thuở nhỏ Châu Văn Liêm rất hiếu học. Khi còn thơ ấu, Châu Văn Liêm được ông nội và cha dạy chữ Nho. Sau được một thầy đồ ở Quảng Ngãi vào vừa dạy cho chữ Nho lẫn nghề thuốc Bắc. Học xong sơ học yếu lược ở quê nhà, Châu Văn Liêm được cha mẹ cho ra trường tỉnh học – trường nội trú Cần Thơ, cùng thời với Lê Văn Sô, Trần Ngọc Quế – một trong những lớp học sinh đầu tiên của trường nội trú này (về sau được đổi tên là Collège de CanTho, Trường Trung học Phan Thanh Giản và nay là Trường Trung học Phổ thông Châu Văn Liêm Cần Thơ)….

  1. Lê văn Xô qua người cháu nội “LÊ TÚ LỆ” viết:

3.1 “Ông tập kết ra Bắc khi tuổi đã 60 mươi. Sau một thời gian giúp bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng gầy dựng vườn thuốc đông y Văn Điển, ông chỉ thực sự về hưu khi sắp vào tuổi bẩy mươi.”

3.2 “ông chỉ thực sự về hưu khi sắp vào tuổi bẩy mươi.”

3.3 là cán bộ thường: “Căn hộ có 2 phòng, ở tận tầng 4, trên cùng.”

3.4 Sinh 1894: “Thế mà khi đã về Sài Gòn, trên 80 tuổi…”

3.5 Quê Mỹ Tho: “Nhà mình ở Mỹ Tho”!

3.6 Con cái: “Ông nội tôi có 6 người con, ba tôi là con trưởng… ”!

“Ba tôi – dịch giả Lê Vũ Lang, ở quê gọi là Ba Huỳnh…Năm 1940, Ba đã 20 tuổi”!

3.7 Cả nhà ở lại Miền Nam bị tiêu diệt tất: “Chú Tư, em kế Ba được ông nội cài làm binh vận đã bị bắn chết. Cô Năm, người em gái duy nhất của Ba thì bị hứng trọn mấy băng đạn ngay tại cửa khi trong nhà đang có cuộc họp chi bộ. Trên tay cô lúc đó đang ẵm đứa con hai tuổi và trong bụng đang mang một đứa con nữa. Bà nội đã chết vì điên dại sau một lần bị giặc bắn trọng thương và tưởng là chồng con đã chết hết! ”!

Rồi: “Người ta chết vì bom đạn nhưng bà nội tôi chết vì điên, vì cô độc và tuyệt vọng!

Và… Chỉ kể được 4/6 người con của ông Nội: “Tội nghiệp bà nội, bà đâu có hay ông nội, ba tôi, chú Bảy…”!

LB: Lẽ ra phải còn: Chú Ba và Chú Sáu nữa!

Có ai biết không hả trời?

3.8 Khi ra “Miền Bắc” Ông Nội có vẻ không bình thường: “Đó là vào một đêm đông cực rét. Tôi đang ngủ thì nghe tiếng Nội gào lên khàn khàn: “Đào, Lệ…”. Tôi và chị Hai bừng tỉnh thấy Nội đang quơ tay, miệng há ra ngáp ngáp …Cảm giác sợ hãi ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Cái đêm B52 của Mỹ rải thảm ngay chỗ tôi sơ tán, người chết la liệt xếp nằm ở sân kho hợp tác xã, ông cháu tôi sống sót nhưng tôi cũng không có cái cảm giác sợ hãi đó.”

3.9 Chết Đột Tử: “Đó là năm 1978, lúc đã về Sài Gòn, Nội lên cơn nhồi máu cơ tim lúc đang giảng bài ở Viện Y học dân tộc. Người ta đưa Nội vào bệnh viện Trưng Vương cấp cứu nhưng Nội đã tắt thở trên đường. Ôi … ông trời đã không cho Nội kịp nhìn mặt con cháu mình.”!

3.10 “…gọi là hồi ký của ông Lê Quang Sô …” do một chú “Thương Binh bệnh…Não” tên “chú Sơn” viết:

    “… Về xuất xứ của tập tài liệu mà sau này báo chí đề cập gọi là hồi ký của ông Lê Quang Sô thì chị em chúng tôi còn nhớ rất rõ. Đó là vào khoảng năm 1970-73, có một chú thương binh người miền Nam tập kết tên là Sơn, thường xuyên đến nhà tôi ở Hà Nội. Cánh tay trái của chú Sơn bị mất một khúc xương ở phía trên nên nó cứ dặt dẹo, đôi lúc nó lại gồng rút lên trông rất quái đản. Chú Sơn có giọng nói eo éo như đàn bà…

Ngụy Tạo:Sau này mẹ tôi bảo hồi đó chú Sơn tới nhà có đưa giấy của cơ quan trung ương nào đó để làm việc với ông nội. Nhiều ngày liền, rồi có khi cách vài tuần, thậm chí vài tháng, chú Sơn đó cứ đến hỏi hết chuyện này tới chuyện khác. …”

Và… Tập hồi ký được xuất bản sau … 22 năm ngày Nội mất: “Từ ngày đó, gia đình tôi không bao giờ gặp lại chú Sơn nữa. Mãi đến khoảng năm 2000, có một người bà con làm ở tỉnh Tiền Giang chuyển lại cho chúng tôi tập tài liệu đánh máy ghi là Hồi ký của ông Lê Quang Sô. …”!

LB: Tập hồi ký “xuất bản sau … 22 năm ” ngày “Lê Văn Sô” mất, Được gia đình cho là Đúng! Tuy nhiên toàn chuyện hào hùng, vả lại có phải nhân vật trong hồi ký đâu!

3.11 Suýt nữa bị xử tử: “Đặc biệt là chuyện ông đưa ra lá cờ đỏ sao vàng mà có người cực đoan đòi phải xử bắn ông vì họ chỉ công nhận lá cờ đỏ búa liềm…”

(Xem bài “Chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại” của LÊ TÚ LỆ ở phần dưới đây)

Chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại

LÊ TÚ LỆ

         http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/but-ky-tap-van/chi-co-do-sao-vang-o-lai-le-tu-le.html

  1. Báo Lao Động nói: “…Lê Vũ Lang, con trai thứ ba của đồng chí Lê Quang Sô…”

Tác giả của lá cờ đỏ sao vàng là ai?

LĐ số 79 Ngày 21.03.2006

http://www1.laodong.com.vn/pls/bld/folder$.view_item_detail%28152006%29

Huỳnh Dũng Nhân

…Theo lời kể của ông Lê Vũ Lang, con trai thứ ba của đồng chí Lê Quang Sô thì đồng chí Hai Sô thường lội bộ lên Tân Hương để họp. Lúc bấy giờ ở bên cạnh Hai Sô có đồng chí Hồ Tri Hạ là đảng viên tỉnh Bà Rịa lánh địch cùng đồng chí Sô về hoạt động ở Mỹ Tho. …

LB: Con gái viết về Ba sai hay Báo Lao động sai? (Xem toàn văn ở phần dưới đây)

  1. Cháu ruột kể thiếu chú Lê Minh Quới!

LÊ MINH QUỚI

Người bí thư tiêu biểu

http://nvhtn.org.vn/WebNVH_TT/index.php?option=com_content&view=article&id=105:le-minh-qui&catid=37&Itemid=59

Sinh năm 1927, xã Thới An, huyện Ô Môn, Cần Thơ (Hậu Giang).

Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, sinh viên Đại học khoa học.

1955, anh tham gia Liên chi ủy phụ trách học sinh, sinh viên và giáo chức.

1957-1960, Bí thư Ban Vận động Học sinh sinh viên khu Sài Gòn – Gia Định.

1960, anh bị bắt.

Tháng 11-1962, bị đưa ra Côn Đảo và hi sinh ngày 20-2-1963 trong tù.

Anh Lê Minh Quới sinh ra trong một năm đặc biệt của gia đình anh và của Cách mạng Việt Nam: 1927. Năm ấy cha anh là ông Lê Văn Sô rời khỏi nhà đi sang Trung Quốc dự lớp học của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và bắt đầu cuộc đời cách mạng đầy chông gai từ năm ấy cho đến về sau, ông đã trải qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến, qua 5 năm bị tù đày ở Côn Lôn( Côn Đảo ngày nay) trước năm 1945… (Xem Lê Minh Quới)

            LB: Với một lão thành như Lê Văn Sô thì ít ra tin tức con hy sinh cũng phải biết sớm! Muộn nhất là 13 năm sau tức là khi giải phóng Miền Nam 1975 thì ông cũng phải biết để kể cho cháu Nội biết chứ hoặc ít ra thì cháu Nội cũng phải viết là còn một người chú Lê Minh Quới…Mất tích chứ?

  1. Cháu ruột kể thiếu chú Lê Văn Tuyến!

Lê Bá Ước 12/16/2009 3:05:13 PM

http://lethuy.edu.vn/?u=nws&su=d&cid=362&id=712

Là em ruột của Lê Văn Tuyến, con trai út cụ Lê Văn Sô, theo anh Tuyến ghi tiếp trong gia phả (chi phía Nam) thì … năm 1945 chú (Ước) đang học tập lớp tiếp liên thì có lệnh tản cư, chú về với gia đình bắt cá, bẫy cò và xếp bút nghiên…

            LB: Cháu ruột không thấy nhắc tới một lời về người chú Anh hùng Lê Minh Quới và chú Lê Văn Tuyến là sao? Và chỉ nhắc tới người chú Đại Tá Lê Bá Ước sơ sơ: “…bà đâu có hay ông nội, ba tôi, chú Bảy – người con út và gần chục đứa cháu nội gần trưởng thành sẽ có ngày trở về cùng đoàn quân chiến thắng…là sao?

3 người này có thật là chú ruột của “LÊ TÚ LỆ” không?

Xem Toàn Văn:

06.01.2011-16:56

Chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại

LÊ TÚ LỆ

         http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/but-ky-tap-van/chi-co-do-sao-vang-o-lai-le-tu-le.html

NVTPHCM- Tháng 11 năm 2006, sau khi báo Tuổi Trẻ đăng loạt bài “Nền cộng hòa 49 ngày” liên tiếp 5 kỳ, tôi cùng Lâm, cậu em út, đem xấp báo lại đưa cho ông Trần Văn Giàu. Em tôi muốn “thăm dò” sự minh mẫn của vị giáo sư sử học đã 96 tuổi này bằng câu hỏi: “Ông ơi, người ta bảo ông nội con là tác giả cờ đỏ sao vàng. Có phải không ạ?”. Ông Giàu lõ mắt nhìn chị em tôi. Chúng tôi như muốn nín thở. Lặng thinh hồi lâu rồi bất chợt ông Giàu la lớn làm chúng tôi giật nẩy mình: “Tôi nói anh Hai là tác giả Quốc kỳ. Hổng tin đừng hỏi”. La xong câu đó, ông ngồi thở dốc.

     Ông Giàu chỉ hơn ba tôi chừng chục tuổi nhưng vì ông là bạn thân của ông nội nên ba tôi kêu ông bằng chú, chúng tôi thì cứ kêu ông Giàu, quen miệng rồi. Khi còn ở miền Bắc, ông Trần Văn Giàu và các ông Ung Văn Khiêm, Ung Văn Khương, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Kiều, Nguyễn Tự Do… là những người hay lui tới thăm Nội. Tôi còn nhớ, có lần đang tiếp khách, Nội đuổi hết chị em tôi ra ngoài đóng cửa lại để nói chuyện. Các ông rầm rì to nhỏ rồi có tiếng Nội nạt lớn: “Bây làm xấu mặt dân Nam Bộ”. Nghe la, lũ con nít chúng tôi lấy làm lạ. Thường ngày Nội hiền lắm mà. Tò mò, có đứa áp tai vào cửa nghe trộm xem có chuyện gì nhưng các ông đã hạ giọng nên đành chịu. Hồi đó, mẹ tôi đẻ liền bốn đứa. Tôi với chị Hai sanh năm một. Mặc dù có tiêu chuẩn cán bộ cao cấp của ông nội phụ với lương ba mẹ để nuôi chúng tôi nhưng đang thời chiến nên đời sống vẫn rất vất vả. Mẹ tôi vẫn thường nhắc chuyện ông bà Giàu có ý nhận tôi làm con nuôi cho gia đình đỡ cực nhưng mẹ thương con nên không chịu. Ông nội tôi mất đã lâu. Bây giờ mỗi khi chúng tôi đến thăm ông Giàu, chỉ nghe nói là cháu nội của ông Hai Sô – Mỹ Tho là ông Giàu cho gặp ngay. Buổi gặp gỡ sáng hôm đó, ông Giàu mân mê tấm hình ông với ông Ung Văn Khiêm trực tiếp khiêng đầu quan tài Nội lúc động quan đưa ra khỏi cửa chứ không để cho nhà đòn khiêng, cả ông Giàu lẫn hai chị em tôi đều bần thần mãi…

***

 Nhà cách mạng Lê Quang Sô (1894-1978)

 Tuổi thơ chúng tôi lớn lên cùng với dáng đi ngày một chậm của Nội. Ông tập kết ra Bắc khi tuổi đã 60 mươi. Sau một thời gian giúp bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng gầy dựng vườn thuốc đông y Văn Điển, ông chỉ thực sự về hưu khi sắp vào tuổi bẩy mươi. Căn hộ mà gia đình chúng tôi ở tại khu tập thể Kim Liên, Hà Nội thực ra là được nhà nước cấp cho Nội chứ không phải cho ba tôi. Căn hộ có 2 phòng, ở tận tầng 4, trên cùng. Có lần chị Hai tôi thắc mắc mắc: “Sao Nội không xin căn phòng dưới tầng một mà lại nhận phòng tít tầng bốn, leo thang mỏi chân quá”. Ông bảo: “Leo cầu thang là biện pháp thể dục rèn luyện sức khỏe rất tốt, đặc biệt là đôi chân”. Bây giờ chị em tôi đã có tuổi. Ra đường một bước cũng ngồi xe. Đi bộ vài chục bước đã thở dốc. Thế mà khi đã về Sài Gòn, trên 80 tuổi, Nội tôi thường chống gậy túc tắc đi bộ cả cây số vẫn thản nhiên như không.

   Khu tập thể Kim Liên được nhà nước xây dựng vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ trước để bố trí cho cán bộ chưa có nhà ở, trong đó có số lớn cán bộ miền Nam tập kết. Hàng xóm của nhà tôi lúc bấy giờ có gia đình nhà thơ Phạm Hổ quê Bình Định, chú Trần Tấn Lộc người Châu Đốc, chú Phùng Văn Khá quê An Giang, chú Ca Lê Dân quê Bến Tre, bác Nguyễn Quang Lộ quê Quảng Ngãi … Các cô chú miền Nam tập kết đều trạc tuổi ba mẹ tôi. Chỉ Nội là già nhất. Lũ con nít hàng xóm đều kêu theo chúng tôi gọi ông là ông nội. Có mấy cô chú gọi ông nội tôi là Ba. Nội cũng coi tất cả đám con cái hàng xóm như cháu ruột của mình. Tôi còn nhớ hồi đó chú Phạm Hổ có viết một bài báo đăng trên tờ Tiền Phong với tựa đề “Ông nội của phố tôi”. Không chỉ là một ông cụ với chòm râu dài phơ phất hiền hậu, phong thái rặt Nam Bộ, chan hòa với tất cả lối xóm, Nội chính là hình ảnh của quê hương miền Nam trong lòng những người tập kết ra Bắc ở khu phố Kim Liên ngày ấy. Chính vì thế, trong những ngày tháng Tư năm 1975 lịch sử, khi quân giải phóng tiến như vũ bão vào từng thành phố, từng vùng đất phía Nam, căn nhà của chúng tôi đã trở thành một “đại bản doanh” của các cô chú tập kết mà ông nội tôi như một vị tướng cầm quân. Cũng bản đồ dán tường, chì xanh chì đỏ đồ theo từng bước chân quân giải phóng. Cũng bàn luận cách đánh, thế ta thế địch. Khói trà, khói thuốc mù mịt. Ngày Ba mươi tháng Tư vỡ òa trong tiếng cười của mọi người. Ông nội tôi vừa cười vừa khóc như một đứa trẻ, nước mắt tràn xuống cả chòm râu bạc.

***

    “Mỹ Tho” và “miền Nam” là hai từ cửa miệng, thường được nhắc đến trong gia đình tôi nhiều nhất. “Nhà mình ở Mỹ Tho”, “Hồi còn ở Mỹ Tho” hay “Mai mốt thống nhất về Nam, bây tha hồ ăn cá, cá ở trỏng đầy kinh rạch”… Trong ký ức tuổi thơ của chúng tôi, miền Nam và Mỹ Tho là nỗi khát khao to lớn. Ruộng của gia đình Nội bạt ngàn. Trái cây, cá, gà vịt ê hề. Rừng dừa xanh mướt. Sông Tiền mênh mông từ bờ này ngó sang bờ kia thấy người ta nhỏ như cây tăm… Với cái tiêu chuẩn thời chiến bốn năm lạng thịt, mười ba ký gạo cho một người lớn một tháng, lâu lâu mới được mẹ mua cho vài trái ổi, trái mận mà bom đạn lại tối ngày ì oàng trên đầu thì quả thật viễn cảnh “miền Nam – Mỹ Tho” còn hơn cả xứ thần tiên. Thế mà miền Nam lại đang bị Mỹ – ngụy chiếm đóng, chán thật. Lũ con nít chúng tôi đem cái ao ước mơ mộng ngây thơ đó hòa vào thời cuộc lúc bấy giờ trong tâm thức của bậc cha chú về một ngày về – về Nam. Cái tiếng “về Nam” khi thốt lên bằng lời mới xao xuyến làm sao vì “về Nam” đồng nghĩa với về quê, về nhà. Sau này, khi đã trưởng thành, hiểu rõ hơn về cuộc đời Nội, tôi mới càng thấm thía nỗi khát khao của hai từ “về Nam” vì đối với Nội không phải chỉ đơn giản là sự ngăn cách của vĩ tuyến 17 năm 1954 mà phải kể từ một ngày vào năm 1927 khi Nội khăn gói tìm đường sang Trung Quốc để ráp mối cách mạng, cũng tức là Nội phải chấp nhận cuộc sống xa gia đình, một cuộc sống đầy giông bão từ ấy.

      Nhà của Nội ở xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Lý lịch mấy chị em tôi trước đây cũng đều ghi quê quán như vậy. Sau ngày giải phóng, mảnh đất có nhà của Nội được cắt về xã Đạo Thạnh, huyện Châu Thành, rồi sau này xã Đạo Thạnh lại nhập vào thành phố Mỹ Tho, tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang. Ba tôi thường kể: Nhà ông cố bây hồi đó lớn lắm, ruộng vườn cò bay thẳng cánh. Ông nội là con trai trưởng nên cưới bà nội về lo giữ hương hỏa. Còn các em của Nội mỗi người khi cưới vợ đều được ông cố chia đất ra ở riêng để lo mần ăn. Có ông được ông cố cắt cho 100 mẫu đất đã khai phá bên Đồng Tháp Mười. Hồi nhỏ đâu có biết Đồng Tháp Mười là như thế nào, chỉ nghe 100 mẫu là chị em chúng tôi đều rụt đầu lè lưỡi. Ông nội tôi có 6 người con, ba tôi là con trưởng được ông nội cho theo học chữ nho với thầy Phan Tòng Am ở cùng xã. Ông Phan Tòng Am tên thật là Phan Đình Viễn, cháu kêu Phan Đình Phùng là bác ruột. Sau khởi nghĩa Hương Khê thất bại, ông Phan Tòng Am bị Pháp bắt đày biệt xứ vào Mỹ Tho. Tại đây ông mở trường dạy chữ nho, học trò theo học rất đông trong đó có ông Bảy Danh tức nhà thơ Bảo Định Giang, nhà thơ Trác Quan Đồ, ông Bảy Hiếu, tức Lê Văn Cư, sau trở thành con rể thầy Phan Tòng Am … Ba tôi – dịch giả Lê Vũ Lang, ở quê gọi là Ba Huỳnh, thường hay rủ nhóm bạn học ấy đi rải truyền đơn do ông nội giao cho. Mỹ Tho hồi đó là đất học chữ Nho. Dân gian đến giờ còn truyền tụng câu Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ. Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu. Anh về học lấy chữ Nhu. Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ. Chữ “Nhu” là đọc trại của chữ “Nho”. Câu ca đó chính là chỉ trường dạy chữ Nho của thầy Phan Tòng Am. Dù chữ Nho lúc bấy giờ đang ở thời mạt nhưng ông bà ta vẫn muốn khuyên con em mình theo học để giữ lấy cái hồn cốt của dân tộc. Lúc còn ở Hà Nội, ba tôi thường hay đọc cho chúng tôi nghe hai cặp câu đối bằng chữ Hán mà ông Phan Tòng Am đề tặng cho gia tộc được chạm nổi sơn son thếp vàng ở cột nhà: “Tông trùng Nùng lãnh Nhị hà, Lê gia cơ sở nguyên cư Bắc – Phái viễn Hành sơn Hương thủy, Nguyễn thị thổ điền cửu tại Nam”“Lê gia chấn chỉnh phu cương, trung hậu thiên thu thành tuấn nghiệp – Nguyễn thị thuận tòng phụ đạo, nhân từ nhất tiết tự vi âm”. Ba tôi giảng giải cho chị em tôi thế nào là núi Nùng sông Nhị, thế nào là “tuấn nghiệp” của gia tộc. Nhìn đám cháu nội cố đọc cho thuộc những từ ngữ trúc trắc, Nội tôi cười có vẻ rất hài lòng. Thế mà sau giải phóng trở về, cái “tuấn nghiệp” của gia tộc ông nội chỉ còn là lau lác mênh mông với miểng bom miểng pháo. Chú Tư, em kế Ba được ông nội cài làm binh vận đã bị bắn chết. Cô Năm, người em gái duy nhất của Ba thì bị hứng trọn mấy băng đạn ngay tại cửa khi trong nhà đang có cuộc họp chi bộ. Trên tay cô lúc đó đang ẵm đứa con hai tuổi và trong bụng đang mang một đứa con nữa. Bà nội đã chết vì điên dại sau một lần bị giặc bắn trọng thương và tưởng là chồng con đã chết hết! Tội nghiệp bà nội, bà đâu có hay ông nội, ba tôi, chú Bảy – người con út và gần chục đứa cháu nội gần trưởng thành sẽ có ngày trở về cùng đoàn quân chiến thắng. Bi kịch của chiến tranh đã chen vào, đã phá vỡ biết bao gia đình, gia tộc. Người ta chết vì bom đạn nhưng bà nội tôi chết vì điên, vì cô độc và tuyệt vọng!

***

Hai nhà cách mạng lão thành Trần Văn Giàu và Ung Văn Khiêm

đi đầu khiêng quan tài tiễn đưa một nhà cách mạng kỳ cựu khác

của Nam Bộ là Lê Quang Sô về nơi an nghỉ cuối cùng

      Sản nghiệp của gia đình Nội chỉ thực sự đi xuống từ sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Trước đó, Nội đã từng hai lần bị Pháp bắt bỏ tù, một lần vào năm 1928 và lần sau là năm 1931 bị kêu án 20 năm khổ sai, 10 năm biệt xứ. Lần ở tù thứ hai, Nội bị đày ra Côn Đảo nhưng chỉ ở 5 năm rồi bị đưa về giam lỏng tại Bà Rịa do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân bên Pháp. Chỉ trừ những ngày tháng trong tù, còn Nội vẫn thường xuyên qua lại nhà, tất nhiên là không thể công khai được. Ba tôi kể, từ Bà Rịa trốn về, ông nội có dẫn về theo mấy người, trong đó có Phan Văn Khỏe mà Nội kêu là Thẹo và Hồ Tri Hạ. Ông Hồ Tri Hạ được Nội bố trí cho ở ngay trong xóm. Các ông thường xuyên gặp gỡ bàn bạc chuyện bí mật của cách mạng. Năm 1940, Ba đã 20 tuổi, được ông nội giao cho nhiều việc chủ yếu là đưa thơ qua lại. Ba kể rằng trước ngày nổ ra cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa long trời lở đất ấy, ông nội đi về liên tục. Rồi Ba thấy Nội và ông Hồ Tri Hạ cứ loay hoay dùng cây vẽ cờ trên mặt đất ở dưới một lùm cây. Lúc đầu Nội vẽ hình chữ nhật có ngôi sao ở trên góc, hai ông bình phẩm nói không đẹp, xóa đi, đưa ngôi sao vào giữa rồi đứng ngắm. Nội kêu Ba lấy vôi trắng xoa vào ngôi sao, nhưng rồi lại bảo màu trắng không có nghĩa gì, lại xóa đi. Lần cuối cùng, Nội kêu Ba đi mua giấy hồng đơn. Ba đạp xe lòng vòng để tránh theo dõi, qua chợ Vĩnh Kim mua về cho Nội mấy cuộn giấy màu đỏ và màu vàng. Nội cùng ông Hồ Tri Hạ cắt dán hình cờ đỏ sao vàng. Làm xong, Nội cuộn lại đem đi.

     Những ngày cận kề cuộc khởi nghĩa, ba tôi bảo thấy ông nội gần như thức trắng hàng đêm dịch tác phẩm Chiến tranh du kích để làm tài liệu huấn luyện cho  quân đội. Dịch được trang nào là bà nội, cô Năm cùng một vài người nữa tổ chức in ngay tại nhà. Sách Địa chí Tiền Giang sau này ghi ông Lê Quang Sô chỉ huy 4000 nghĩa quân bao vây thành phố Mỹ Tho. Rồi tài liệu của một số cuộc hội thảo được công bố ra mới biết Nam Kỳ khởi nghĩa ngày ấy chính là một cuộc tổng khởi nghĩa của toàn xứ thuộc địa Nam Kỳ để thành lập “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc” với đầy đủ cả Quốc hiệu, Quốc kỳ và nội các. Cuộc khởi nghĩa tập hợp được hầu hết các đảng phái chính trị có tinh thần dân tộc ở Nam Kỳ. Có sự tham gia ủng hộ của tầng lớp nhân sĩ trí thức và cả giới thương gia, địa chủ. Nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ đã thất bại, bị Pháp dìm trong biển máu. Ông nội phải lánh vào Đồng Tháp Mười. Còn bà nội ở nhà thì gom góp vòng vàng nữ trang đem bán để trả cho những nơi mà ông nội huy động tiền mua vũ khí cho khởi nghĩa. Khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại nhưng tiếp nối truyền thống bất khuất của Trương Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, một lần nữa người dân Nam Kỳ lại thể hiện tinh thần xả thân vì nước của những người đi mở cõi năm nào. Có thể nói, khởi nghĩa Nam Kỳ chính là cuộc tổng dợt quy mô và toàn diện nhất cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945.

***

      Hai lần chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc là cả hai lần bốn chị em chúng tôi đều được sơ tán cùng với ông nội tại Hà Tây. Lần đầu còn có mẹ đi cùng nhưng đi sơ tán lần hai thì mẹ phải trực chiến ở Hà Nội. Còn ba tôi sơ tán theo cơ quan Nhà Xuất bản Sự Thật ở Sơn Tây. Cứ mỗi cuối tuần, ba mẹ đạp xe tiếp tế đồ ăn đến chỗ ông cháu tôi. Nơi chúng tôi về sơ tán là một cái chùa. Dân địa phuơng gọi là Chùa Trắng. Trụ trì là một bà sư cũng trạc tuổi ông nội, chuyên bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh nan y cho người khắp tứ xứ. Không biết ông nội tôi quen sư cụ như thế nào mà cả hai lần sơ tán sư cụ đều cho cất một căn nhà ba gian vách đất, lợp rạ trên đất chùa để đón ông cháu tôi về ở. Ngay dưới giường ông nội nằm, sư cụ còn cho đào một cái hầm sâu rất kiên cố phòng khi máy bay Mỹ đến gấp quá ông không kịp chống gậy ra hầm chữ A ở ngoài vuờn để tránh bom. Mẹ tôi bảo sở dĩ sư cụ quý Nội là vì được ông “cho” một số bài thuốc đông y chữa bệnh rất hiệu quả. Hầu như trong những năm tháng ở miền Bắc, thú vui hay có thể gọi là sự đam mê của Nội được dành hết cho việc nghiên cứu sưu tầm các bài thuốc đông y. Nội viết sách liên tục, mà toàn là sách thuốc. Những người Nội giao du là các nhà sư, các ông lang. Tôi còn nhớ ở nơi sơ tán có ông Nguyễn Kiều, còn gọi là ông Lang Kiều thường hay tới thăm Nội. Chị em chúng tôi rất “ấn tượng” về ông Kiều vì được nghe Nội kể là hồi còn ở trong Nam, trước khi bỏ nhà đi theo cách mạng, ông Kiều đã trói cha ông vào gốc dừa đánh cho một trận và tuyên bố “Đây là nông dân đánh địa chủ chớ không phải con đánh cha”. Nội giải thích rằng vì mẹ của ông Kiều chỉ là người ở, “bị” đẻ ra ông Kiều, ông địa chủ ấy thường xuyên đánh đập rất tàn nhẫn. Ông Kiều thương mẹ, không chịu nổi cảnh ấy nên mới làm vậy. Chúng tôi vừa thán phục vừa thấy sờ sợ mỗi khi ông Kiều đến nhà.

     Nhờ có hai lần sơ tán về nông thôn mà những đứa trẻ Hà Nội như chúng tôi mới biết đâu là mạ, đâu là cỏ. Mới biết sương muối làm xót rau trồng ra sao. Nhưng trong ký ức của tôi, nơi sơ tán gắn liền với một kỷ niệm mà mỗi khi nhớ lại, đầu tôi như muốn tê đi. Đó là vào một đêm đông cực rét. Tôi đang ngủ thì nghe tiếng Nội gào lên khàn khàn: “Đào, Lệ…”. Tôi và chị Hai bừng tỉnh thấy Nội đang quơ tay, miệng há ra ngáp ngáp như đang ngộp thở: “Mau đỡ ông lên võng”. Tôi lúc đó khoảng mười hai tuổi, chị Hai hơn tôi có một tuổi. Chúng tôi sợ chết khiếp. Nội mặc bộ đồ bông dầy cui, loại quần áo độn bông nguyên bộ của Trung Quốc giống như những người Bắc Cực ở trên phim bây giờ, nặng nề, dềnh dàng. Hai chị em tôi khó nhọc lắm mới đỡ được Nội lăn vào võng. Chị Hai lấy củi đốt bên cạnh. Rồi Nội cũng dần dần thở lại được nhưng tôi thì cứ run rẩy. Nhỡ Nội tôi chết rét thật thì sao. Ba mẹ đang ở xa mà đêm thì tối quá. Cảm giác sợ hãi ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Cái đêm B52 của Mỹ rải thảm ngay chỗ tôi sơ tán, người chết la liệt xếp nằm ở sân kho hợp tác xã, ông cháu tôi sống sót nhưng tôi cũng không có cái cảm giác sợ hãi đó.

     …Nội tôi đam mê các bài thuốc, cây thuốc đông y cho đến cuối đời. Nỗi đam mê ấy đi theo Nội đến cái chết. Đó là năm 1978, lúc đã về Sài Gòn, Nội lên cơn nhồi máu cơ tim lúc đang giảng bài ở Viện Y học dân tộc. Người ta đưa Nội vào bệnh viện Trưng Vương cấp cứu nhưng Nội đã tắt thở trên đường. Ôi Nội ơi, cả đời Nội chỉ nghĩ đến chuyện cứu nước, cứu người. Thế mà khi xa rời cái cõi tạm này, ông trời đã không cho Nội kịp nhìn mặt con cháu mình.

***

 “…gọi là hồi ký của ông Lê Quang Sô …”

     Về xuất xứ của tập tài liệu mà sau này báo chí đề cập gọi là hồi ký của ông Lê Quang Sô thì chị em chúng tôi còn nhớ rất rõ. Đó là vào khoảng năm 1970-73, có một chú thương binh người miền Nam tập kết tên là Sơn, thường xuyên đến nhà tôi ở Hà Nội. Cánh tay trái của chú Sơn bị mất một khúc xương ở phía trên nên nó cứ dặt dẹo, đôi lúc nó lại gồng rút lên trông rất quái đản. Chú Sơn có giọng nói eo éo như đàn bà. Nhưng có lẽ cái khiến lũ nhóc chúng tôi không cảm tình chính là việc chú đến nhà thường xuyên có nghĩa là chúng tôi phải chia sẻ phần ăn mặc dù lần nào đến chú Sơn cũng đem theo ổ bánh mì đưa cho mẹ. Giữa cái thời buổi tem phiếu, thực phẩm khan hiếm, chúng tôi lại đang tuổi ăn chưa no lo chưa tới, chỉ thấy cái trước mắt. Chị Hai tôi ý thức về vấn đề này nhất, chỉ sợ các em đói nên mỗi khi nhìn thấy chú là chị lẩm bẩm “Lại đến”. Sau này mẹ tôi bảo hồi đó chú Sơn tới nhà có đưa giấy của cơ quan trung ương nào đó để làm việc với ông nội. Nhiều ngày liền, rồi có khi cách vài tuần, thậm chí vài tháng, chú Sơn đó cứ đến hỏi hết chuyện này tới chuyện khác. Ông nội tôi lúc thì ngồi ghế trả lời, khi mỏi quá thì nửa nằm nửa ngồi trên giường kể chuyện.

    Những ngày ấy, chú Sơn ghi chép liên tục. … Chuyện ở trong tù Nội dạy chữ Nho cho ông Ngô Gia Tự, đổi lại ông Ngô Gia Tự dạy chữ Pháp cho Nội. Nội biết tiếng Pháp là nhờ vậy. Đặc biệt là chuyện ông đưa ra lá cờ đỏ sao vàng mà có người cực đoan đòi phải xử bắn ông vì họ chỉ công nhận lá cờ đỏ búa liềm…

    Từ ngày đó, gia đình tôi không bao giờ gặp lại chú Sơn nữa. Mãi đến khoảng năm 2000, có một người bà con làm ở tỉnh Tiền Giang chuyển lại cho chúng tôi tập tài liệu đánh máy ghi là Hồi ký của ông Lê Quang Sô. Xem lại nội dung tập tài liệu này, cả gia đình tôi đều nhận ra đó chính là những gì ông nội tôi kể theo yêu cầu cho chú Sơn ghi chép ngày ấy. Mẹ tôi nhíu mày bảo “Ông nội tụi mày có ý định viết hồi ký bao giờ đâu. Danh lợi với ông cũng chỉ là hư ảo”…

***

    Có một sự tình cờ như sắp đặt. Trong chuyến đi thực tế sáng tác tại tỉnh Tiền Giang do Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào đầu tháng Tư năm nay. Khi lên nói cảm tưởng trong buổi lễ bế mạc trại, tôi có đọc hai câu đối của ông Phan Tòng Am. Vừa bước xuống ngồi vào ghế, anh Lê Tư, nhà văn của tỉnh, người mà tôi trò chuyện suốt mấy ngày trước, vội nhào qua bàn hỏi: “Chị vừa nói đến ông Phan Tòng Am. Sao chị lại biết ông ngoại tôi?”. Tôi cũng ngớ ra. Bất ngờ quá. Tối liên hoan đó là bữa cuối nên không nói chuyện được nhiều. Đến ngày 30.4, cả bốn chị em tôi đều về quê. Chúng tôi điện thoại mời nhà văn Lê Tư sang chơi. Anh Lê Tư cho biết mẹ anh – con gái của thầy Phan Tòng Am vẫn khỏe, đến tết này là tròn 100 tuổi. Bà vẫn minh mẫn, còn nhắc lại nhiều chuyện xưa. Bà vẫn nhớ nhà ông Hai Sô là một gia tộc lớn trong vùng…Nhìn anh Lê Tư thắp từng cây nhang lên mộ ông bà nội và mộ ba tôi, tôi thấy bâng khuâng. Hậu duệ của các cụ ở đây, “trên đó” các cụ có còn đang bàn chuyện quốc sự không nhỉ.

    Bây giờ, mỗi lần về quê, đi ngang cống Bảo Định, nhìn nước sông lờ lững trôi, tôi luôn có cảm giác như bên kia của khối nước ấy ông nội, bà nội tôi đang “sống” thong dong, thư thái. Chòm râu trắng của Nội vờn trong sóng nước. Rồi tiếng ba tôi ngân nga: Không quan tước không lợi danh, thanh thảnh về với hư không, chỉ cờ đỏ sao vàng ở lại cùng trời đất Nam Kỳ tươi thắm mãi. Chí thương nước chí vì dân, an nhiên quyện hòa ý chí, kìa mây trắng nước bạc còn đó với linh khí Tiền Giang vẫn trường tồn. Ừ mà có gì phải băn khoăn đâu nhỉ, trời đất Nam Kỳ của Nội vẫn xanh thế cơ mà …

                                                                             Mỹ Tho-tháng Năm năm 2009

———————

Bài này đăng đầu tiên trên tạp chí Hồn Việt số 26 Tháng 8/2009, sau đó đăng lại trên tạp chí Điện Ảnh Thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2009, sau nữa là in trong tập Sóng sông Tiền của Hội Nhà văn TP.HCM

  • Thu, 01/06/2011 – 17:43 — quanghuy

Không phải người cháu nào cũng được như Lê Tú Lệ. Bài viết xúc động lại giúp người đọc thêm tư liệu tham khảo có giá trị. Cảm ơn chị.

Tác giả của lá cờ đỏ sao vàng là ai?

LĐ số 79 Ngày 21.03.2006

http://www1.laodong.com.vn/pls/bld/folder$.view_item_detail%28152006%29

Huỳnh Dũng Nhân
Hẳn mỗi người dân VN đều ghi nhớ: Những năm 40 của thế kỷ 20, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Trong những ngày rực lửa đó, chính quyền nhân dân cách mạng tỉnh Mỹ Tho được đặt trụ sở tại đình Long Hưng, thuộc xã Long Hưng, huyện Châu Thành. Và ngay trong sân đình Long Hưng, ngọn cờ đỏ sao vàng đầu tiên ấy được treo trên ngọn cây bàng trong lễ míttinh ra mắt chính quyền cách mạng trước 3.000 người dân tham dự. Đó là ngày 23.11.1940. Tuy nhiên, sau nhiều năm trôi qua, ai là người sáng tác nên lá cờ đỏ sao vàng – quốc kỳ hiện nay – vẫn còn chưa được khẳng định.

Nhiều nguồn tư liệu về người vẽ cờ
Từ trước đến nay, nhiều nguồn tư liệu đã khẳng định đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là tác giả của lá quốc kỳ. Trong một số cuộc thi tìm hiểu về đất nước và một số tài liệu trong sách vở cho biết nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến là tác giả. Trong tài liệu của nhà văn Sơn Tùng viết rằng, tại cuộc họp ở Tân Hương tháng 7.1940 của Xứ ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, tức Trường Xuân Chính, tức Giáo Hoài đã được giao nhiệm vụ sáng tác và vẽ mẫu lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc khởi nghĩa. Một tài liệu cho rằng: Ông Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1901, mất năm 1941, quê ở Lũng Xuyên – Hà Nam, là đảng viên hoạt động ở Nam Bộ… là người được ghi trong nhiều tài liệu là tác giả vẽ mẫu lá cờ đỏ sao vàng khi ấy.

Nhưng trong nhiều nghiên cứu gần đây, khi tập hợp lại các trang tư liệu cũ về cuộc họp ở Tân Hương, đã cho thấy trong hội nghị Tân Hương họp từ ngày 21 – 27.7.1940, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Thị Minh Khai, Xứ uỷ và Bí thư Thành uỷ Sài Gòn – Chợ Lớn đã không dự. Vì vậy khả năng đồng chí Nguyễn Hữu Tiến được giao vẽ lá cờ là khó có thể có. Chỉ sau cuộc họp 3 ngày, hai đồng chí bị địch bắt ở ngoại ô Sài Gòn – Chợ Lớn với nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có tài liệu hướng dẫn phát động khởi nghĩa (vì vậy có thể không trực tiếp vẽ cờ được).

Một số ý kiến khác lại nghiêng về việc chính Tổng bí thư Trần Phú là người sáng tác nên lá cờ Việt Nam. Nhiều người cho rằng TBT Trần Phú đã vẽ hình lá cờ đầu tiên tại hầm một căn nhà đầu đường Hàng Bông, Thợ Nhuộm. Và sau này, khi Xứ uỷ Nam kỳ họp bàn tổ chức khởi nghĩa, có thảo luận sẽ dùng lá cờ nào đại diện cho Mặt trận. Bí thư Xứ uỷ Võ Văn Tần nói trong hội nghị: “Vào năm 1931, TBT Trần Phú bị địch bắt giam ở khám lớn Sài Gòn. Trong tù, đồng chí có mở nhiều lớp huấn luyện cho cán bộ Đảng. Một lần, giải thích về triển vọng của cách mạng, đồng chí Trần Phú nói: “Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp, chúng ta sẽ thành lập nhà nước cộng hoà dân chủ. Và quốc kỳ có thể là cờ đỏ sao vàng năm cánh”.

Tại hội thảo về vấn đề lá cờ đỏ sao vàng tháng 11.2005 vừa qua, có nhiều tài liệu quan trọng cho thấy nhiều chi tiết khác nhau về tác giả lá cờ đỏ sao vàng. Nhiều ý kiến trong hội thảo cho thấy tác giả vẽ mẫu lá cờ tổ quốc có thể là đồng chí Lê Quang Sô.

Đồng chí Lê Quang Sô sinh ngày 7.7.1894 tại xã Lương Hoà Lạc, huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Trong thời gian khởi nghĩa 1939 – 1940, ông là Huyện ủy viên kiêm éy viên tuyên truyền éy ban Khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho. Theo lời kể của ông Lê Vũ Lang, con trai thứ ba của đồng chí Lê Quang Sô thì đồng chí Hai Sô thường lội bộ lên Tân Hương để họp. Lúc bấy giờ ở bên cạnh Hai Sô có đồng chí Hồ Tri Hạ là đảng viên tỉnh Bà Rịa lánh địch cùng đồng chí Sô về hoạt động ở Mỹ Tho. Đồng chí Hai Sô đã nói với đồng chí Hạ là kỳ họp ở Tân Hương đã phân công cho mình nghiên cứu một lá cờ tiêu biểu, có thể tập hợp mọi tầng lớp dân chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Khoảng tháng 8 – 9.1939, ông Hai Sô cùng Hồ Tri Hạ họp bàn nhau cùng cắt hình mẫu lá cờ tại nhà ông Sáu Vọng. Lúc đầu cắt ngôi sao xanh, cuối cùng đã lấy nền cờ màu đỏ là màu cách mạng, màu vàng là màu phương đông ưa chuộng, nên có ngôi sao vàng năm cánh là sĩ, nông, công, thương, binh. Ông đã mang đi trao đổi với số người thuộc cơ sở như Lê Kiến Đức, Lê Văn Khuê… và họ đều tán thành. Sau đó ông mang mẫu cờ lên Tân Hương để báo cáo.

Đọc lại hồi ký của Lê Quang Sô, chúng ta cũng phát hiện ra những chi tiết tương tự về hoàn cảnh đưa ông đến việc vẽ hình lá cờ tổ quốc. Trong khoảng thời gian ông được cấp trên giao nhiệm vụ vẽ hình lá cờ, ông đã ghi lại như sau: “Có một hôm, anh Thẹo hỏi tôi về lá cờ… Tôi trả lời, chưa có ý kiến gì, suy nghĩ rồi nói thêm, ngọn cờ của mình là cờ đỏ búa liềm, cờ Đảng vẫn để, muốn thêm cờ đỏ nữa cũng nền đỏ còn trong thì vẽ thêm gì đó thì vẽ” (năm 1939).

Tôi cũng về, gặp ông bạn là Lê Kiến Đức, ông nói: “Không biết sao, vẽ thử coi, trong đó đem ý nghĩa nội dung, mỗi nước có ngọn cờ có nội dung của nó, như cờ Pháp, cờ Liên Xô… còn mình lấy cái gì làm nội dung”. Tôi về bảo Hồ Tri Hạ vẽ thử coi và bàn nhau nội dung vẽ gì. Bàn nhau vẽ thử ngôi sao coi, đầu tiên đem gạch dưới đất trước, sau lấy miếng giấy đỏ vẽ ngôi sao bằng bút chì, rồi lấy vôi xoa vào làm ngôi sao trắng, lúc đầu để trên góc, xem xấu, sau đem vào giữa. Vẽ vậy thôi chứ chưa biết ý nghĩa gì. Một hôm đồng chí Thẹo hỏi: “Nay có gì mới không?”. Tôi trả lời có vẽ cờ đỏ có ngôi sao, chứ chưa có ý kiến gì. Từ đây về sau, tôi gặp thì đồng chí Thẹo nói ngọn cờ cần đỏ chứ nội dung chưa có ý kiến”.

Như vậy, từ tháng 3.1940, khi đề cương khởi nghĩa được Xứ uỷ Nam Kỳ triển khai thì cùng lúc đồng chí Phan Văn Khoẻ (tức đồng chí Thẹo) – Uỷ viên thường vụ Xứ uỷ, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho được Xứ ủy giao nhiệm vụ thiết kế mẫu cờ Mặt trận. Đồng chí Phan Văn Khoẻ giao nhiệm vụ này cho đồng chí Lê Quang Sô, người phụ trách công tác mặt trận và cơ sở in ấn của Tỉnh ủy Mỹ Tho lúc ấy.

Cũng theo hồi ký của đồng chí Lê Quang Sô và các hồi ký, lời kể của một số đồng chí khác được ghi lại trong kỷ yếu của hội thảo, thì… lúc đó vải đỏ và vải vàng đều rất hiếm, các đồng chí Huyện ủy Châu Thành đã vận động được một chủ tiệm vải người Hoa và mua 20 mét đủ để may một lá cờ và một khẩu hiệu. Còn vải vàng thì tìm không đâu có, cuối cùng nhờ một gia đình ở xã Long Hưng lấy bức tiền bàn màu vàng trước bàn thờ gia tiên để cắt may ngôi sao vàng.

Người may lá cờ lúc đó là chị Tám Thẩm ( Nguyễn Thị Thẩm), lá cờ rộng hơn chiếc chiếu và may chắc chắn để chịu đựng được gió lớn. Còn người treo lá cờ lên ngọn cây bàng ở đình Long Hưng lúc đó là đồng chí Tư Hiệp cùng hai đồng chí khác. Hiện nay cây bàng này vẫn còn. Theo chúng tôi, các hồi ký được viết khá chi tiết và sinh động, chứng tỏ sự xác thực của người kể và người ghi lại. Hơn nữa, hồi ký lại được viết theo gợi ý của các cơ quan nghiên cứu lịch sử Đảng khi đồng chí Lê Quang Sô tập kết ra Bắc chứ không chỉ là nguyện vọng cá nhân của đồng chí Hai Sô.

Đã có thể kết luận

Tại Hội nghị Xứ uỷ mở rộng tại Tân Hương, Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho từ ngày 21 – 22.7.1940, đã có những quyết định quan trọng về cuộc khởi nghĩa. Và cũng trong đại hội này, hội nghị đã quyết định “Lấy cờ đỏ sao vàng làm cờ tổ quốc”. Mặt trận Việt Minh thành lập tháng 5.1941, đoạn mở đầu của chương trình hành động có ghi: “Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp, Nhật, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm quốc kỳ”. Đó là văn bản đầu tiên quy định quốc kỳ của nước ta. Tháng 10.1945, Quốc hội khoá i đã quyết định lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ của nước VNDCCH, nay là nước CHXHCNVN.

Lá cờ tổ quốc do nhiều người có ý tưởng và có sự chỉ đạo của Đảng, nhưng người vẽ trực tiếp mẫu lá cờ rất nên được khẳng định là con người cụ thể. Đã 65 năm trôi qua kể từ ngày lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện tại đình Long Hưng trong một cuộc khởi nghĩa, chúng ta cần thiết phải làm rõ chi tiết lịch sử này.

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê AÁi Siêm – thành viên Ban tổ chức hội thảo tháng 11.2005 vừa qua ở Tiền Giang cho biết : Tuy rất tự hào và vững tin rằng chính đồng chí Lê Quang Sô của tỉnh nhà là tác giả vẽ mẫu lá cờ tổ quốc, song Tỉnh ủy Tiền Giang vẫn kiên trì chờ kết luận cuối cùng. Trong cuộc hội thảo về khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11.2005, nhà nghiên cứu Lê Minh Đức – Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang một lần nữa nêu lên quan điểm: “Lá cờ đỏ là công trình của nhiều người, từ ý tưởng của đồng chí Trần Phú từ năm 1931, ý tưởng hình thành rõ nét khi Nghị quyết Trung ương 6 khẳng định: “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên”. Xứ uỷ Nam Kỳ mà trực tiếp là đồng chí Phan Văn Khoẻ là người gợi ý và giao việc vẽ lá cờ cho đồng chí Lê Quang Sô.

Đồng chí Lê Quang Sô là người nhận nhiệm vụ và chịu trách nhiệm chính, đồng chí Hồ Tri Hạ là người gần gũi thường xuyên trao đổi. Ngoài ra còn có sự đóng góp ý kiến của ông Lê Kiến Đức và có thể nhiều đồng chí khác nữa”. Ý kiến này được nhiều người đồng tình ủng hộ. Theo chúng tôi, đây là ý kiến xác đáng cần sớm được xem xét và kết luận.

webmaster@laodong.com.vn

Tác giả của lá cờ đỏ sao vàng là ai?

Nền cộng hòa 49 ngày (Kỳ cuối)

http://tuoitre.vn/Pages/Printview.aspx?ArticleID=173930

Tác giả quốc kỳ: vẫn là dấu chấm hỏi

TT – Cho đến nay đã xuất hiện thêm những tình tiết mới, tư liệu mới, kể cả nhân vật mới liên quan đến tác giả cờ đỏ sao vàng. Chúng tôi xin công bố “tờ khai” của con trai đồng chí Lê Quang Sô – người chứng kiến và trực tiếp tham gia việc thiết kế lá cờ.

>> Kỳ 1: Tổn thất trước ngày khởi nghĩa
>> Kỳ 2: Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc
>> Kỳ 3: Báu vật 23-11-1940
>> Kỳ 4: Nguyễn Hữu Tiến hay Lê Quang Sô?

“Cha tôi đã vẽ quốc kỳ!”

Trong số báo trước, nhà nghiên cứu Lê Minh Đức (phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Tiền Giang) đã khẳng định tác giả thiết kế cờ đỏ sao vàng căn cứ vào hồi ký năm 1968 của đồng chí Lê Quang Sô. Tuy nhiên, đó là hồi ký thuật lại nhiều chuyện liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Quang Sô, nên những nội dung liên quan đến việc vẽ cờ đỏ sao vàng chưa được chi tiết lắm.

Nhưng vào tháng 12-2004, con trai đồng chí Lê Quang Sô là ông Lê Vũ Lang đã công bố “Tờ khai liên quan đến những người sáng tác lá cờ đỏ sao vàng”. Ông Lê Vũ Lang sinh năm 1920, vào thời điểm Nam kỳ khởi nghĩa ông tròn 20 tuổi, sau đó ông tập kết ra Bắc và trở thành cán bộ Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. “Tờ khai” này có nội dung như sau:

…Đầu năm 1939, cha tôi là Lê Văn Sô (tức Lê Quang Sô) cùng với ông Hồ Tri Hạ (lớn hơn tôi trên 10 tuổi) loay hoay vẽ thử lá cờ có ngôi sao năm cánh. Lúc đầu vẽ dưới đất, ngôi sao ở góc trên, bên trái.

Khoảng tháng 8-1939, cha tôi có sai tôi đi chợ mua hai tờ giấy hồng đơn màu đỏ và vẽ lên đó ngôi sao bằng bút chì, rồi lấy vôi xoa vào làm ngôi sao trắng, rồi lại bôi đi, thay vị trí ngôi sao, cuối cùng để ở chính giữa. Cuối tháng tám năm đó, đồng chí Thẹo ghé hỏi: có gì mới không? Cha tôi trả lời chỉ xong cờ đỏ có ngôi sao, nhưng chưa ưng ý lắm. Đồng chí Thẹo sau này tôi mới biết rõ tên là Phan Văn Khỏe – bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, thường vụ Xứ ủy Nam kỳ.

Tháng 4-1940, đồng chí Thẹo ghé nhà kiếm cha tôi vào buổi trưa trời nắng chang chang và ngồi nói chuyện rất lâu. Khoảng 3 giờ sáng, đồng chí Thẹo cùng với cha tôi thức dậy đi đâu không rõ. Khi trở về, cha tôi sai tôi in cho ông các loại truyền đơn có nội dung hiệu triệu các nơi ủng hộ tài chính cho cách mạng. Các tờ truyền đơn này đều có vẽ ngôi sao năm cánh.

Đến tháng 7-1940, cha tôi lại sai tôi đi chợ mua giấy hồng đơn màu đỏ và màu vàng. Hồi đó, cả Đạo Thạnh chỉ gia đình tôi là có xe đạp. Tôi đạp xe ra chợ Vĩnh Kim mua cho cha ba tờ giấy hồng đơn, hai tờ màu đỏ, một tờ màu vàng. Ông Hồ Tri Hạ đã vẽ hình ngôi sao lên giấy vàng và cắt theo đường chì vẽ, sau đó để lên tờ giấy màu đỏ, xoay tới xoay lui cho cha tôi coi. Cha tôi ưng ý để ngôi sao ở giữa và kêu tôi dán vào. Sau đó, cha tôi đem lá cờ giấy có nền đỏ sao vàng đi đâu không rõ.

Khi khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp nơi và sau này Đảng và Nhà nước lấy làm cờ Tổ quốc. Cha tôi nói với tôi rằng thật ra ý tưởng về một lá cờ quốc gia đã hình thành từ khi ông ở tù cùng với đồng chí Ngô Gia Tự ở Côn Lôn từ năm 1931-1936. Trong thời gian này, ông học tiếng Pháp của Ngô Gia Tự và dạy lại Ngô Gia Tự chữ Nho. Đồng chí Ngô Gia Tự cho rằng cách mạng Việt Nam cần có một ngọn cờ riêng để tập họp thêm đông đảo lực lượng quần chúng, mặc dù trong chi bộ nhà tù chưa có ai hình dung lá cờ như thế nào…

Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng nói gì?

Như vậy, cơ sở để khẳng định “tác giả quốc kỳ Lê Quang Sô” chính là hồi ký của ông và lời kể của con trai. Cơ sở này có lẽ chắc chắn hơn “lời kể trong rừng của ông Năm Thái” như trường hợp “tác giả Nguyễn Hữu Tiến”.

Nhưng liệu những tư liệu đó có đầy đủ giá trị và cơ sở khoa học để kết luận về một vấn đề lịch sử quan trọng hay không? Hơi khó. Do sau khởi nghĩa Nam kỳ, thực dân Pháp đã đàn áp dã man và khủng bố tàn bạo bằng hải, lục, không quân trên diện rộng nên đến nay chúng ta vẫn không tìm thấy những tài liệu quan trọng: biên bản và nghị quyết hội nghị Tân Hương tháng 7-1940, hội nghị Bến Lức tháng 4-1940…

Vì vậy, mặc dù lãnh đạo tỉnh Tiền Giang và nhà nghiên cứu Lê Minh Đức khẳng định tác giả quốc kỳ là đồng chí Lê Quang Sô, Hội đồng biên soạn công trình nghiên cứu cấp nhà nước về Nam kỳ khởi nghĩa vẫn tỏ ra thận trọng. Chủ nhiệm công trình, nhà nghiên cứu Trần Giang, cho biết: “Hội đồng đã trao đổi về tài liệu do tỉnh Tiền Giang cung cấp, trong đó nêu đồng chí Lê Quang Sô là người vẽ cờ đỏ sao vàng. Nhưng hội đồng cho rằng đó là hồi ký, chưa đủ căn cứ khoa học để kết luận”.

Còn viện trưởng Viện Lịch sử Đảng – tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc – đã “gút” lại như thế nào tại hội thảo Mỹ Tho năm 2005? Sau đây là nguyên văn phát biểu của tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc về vấn đề tác giả quốc kỳ:

…Trong hội thảo các đồng chí đã đưa ra chi tiết đồng chí Phan Văn Khỏe (bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho) trao đổi với đồng chí Lê Quang Sô và sau đó đi đến thiết kế cờ đỏ sao vàng. Thế thì đến nay có hai loại ý kiến: Một là, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến thiết kế. Hai là, đồng chí Phan Văn Khỏe và đồng chí Lê Quang Sô thiết kế. Nhưng cả hai loại ý kiến trên đều chưa có cơ sở vững chắc để khẳng định.

Theo chúng tôi, có một vấn đề chung cần thống nhất khẳng định: lá cờ đỏ sao vàng là từ chủ trương của Đảng, là biểu tượng của Mặt trận Dân tộc thống nhất. Nói chủ trương của Đảng là nói chung, nhưng trực tiếp xây dựng lá cờ là Xứ ủy Nam kỳ. Và thực tế đồng chí Khỏe, đồng chí Tiến và một số đồng chí nữa đều tham gia Xứ ủy Nam kỳ. Do đó có thể kết luận lá cờ đỏ sao vàng là do các đồng chí Xứ ủy Nam kỳ trực tiếp xây dựng, ý tưởng và kết quả công trình cờ đỏ sao vàng là của tập thể chứ không phải của cá nhân nào.

Thống nhất như thế có lẽ sẽ thuyết phục hơn. Bây giờ chúng ta khẳng định một ai đó, nếu thế sau này có một công trình khác chứng minh khác đi thì sẽ rất phức tạp.

Chúng ta khẳng định lá cờ đỏ sao vàng ra đời như thế. Sau này Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941) đã quyết định: lá cờ Nam kỳ khởi nghĩa được chọn làm lá cờ của Mặt trận Việt Minh. Và Quốc dân đại hội Tân Trào quyết định lấy cờ đỏ sao vàng làm lá cờ chính thức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sau đó đến Quốc hội khóa 1 (năm 1946), lá cờ đó chính thức trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

* * *

Như vậy, câu hỏi về tác giả lá cờ đỏ sao vàng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời cụ thể và chính xác. Nhưng hi vọng các nhà nghiên cứu, các sử gia tiếp tục cuộc kiếm tìm. Những cuộc kiếm tìm đó sẽ càng làm sáng tỏ về ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ trong lịch sử cứu nước, về khát vọng độc lập cho dân tộc, khát vọng tự do và dân chủ của nhân dân.

Báo Quân đội Nhân dân thừa nhận: Hồ Chí Minh chỉ là câu chuyện huyễn hoặc – viển vông không có thực

27/05/11

http://www.nuvuongcongly.net/xa-hoi/binh-luan/bao-quan-d%E1%BB%99i-nhan-dan-th%E1%BB%ABa-nh%E1%BA%ADn-h%E1%BB%93-chi-minh-ch%E1%BB%89-la-cau-chuy%E1%BB%87n-huy%E1%BB%85n-ho%E1%BA%B7c-%E2%80%93-vi%E1%BB%85n-vong-khong-co-th%E1%BB%B1c/

…Thì HCM có phải là một người thật đâu. Nguyễn Sinh Sắc học nghề thuốc đông y với những người bạn của ông Lê Quang Sô (Mỹ Tho), tại tiệm thuốc của một lương y người Việt tên Phạm Tấn Lương ở đường Nguyễn Trãi hiện nay, gần nhà thờ Huyện Sĩ. Con đường đi xuống Đồng Tháp của Phó Bảng cũng là con đường đo ông Hai Sô bố tri tạo điều kiện cho Phó Bảng có điều kiện ăn nghỉ dọc đường tại nhà những người bạn của ông Sô như nhà Hương trưởng Trần Văn Hoài (Chợ Gạo, Mỹ Tho), nhà Thầy đồ Nho Phan Đình Viễn, cháu ruột Phan Đình Phùng (Bến Tre), nhà các ông Cư nhân Võ Hoành, lương Y Nguyễn Kiều (Sa Đéc, Đồng Tháp) trong khoảng thời gian sau khi kết thúc thế chiến thứ 1 đến khoảng cuối năm 1920. Và bên cạnh Phó Bảng thời gian này luôn có một người con trai đi cùng để chăm sóc cha lúc này đã cao tuổi, sức yếu. Tại Bến Tre, khi chia tay , người con trai này có gửi tặng người con rể của ông Phan Đình Viễn một con dao người dân tộc Tây nguyên thường dùng để đi rừng, thời ấy thường được gọi là dao con chó. Chính khoảng thời gian này bên Pháp xuất hiện nhân vật NTT (hay Nguyễn Văn Thành ) như trong tác phẩm Hochiminh the missing years . Nói vậy quý vị biết rồi. Lịch sử luôn luôn và bao giờ cũng phải là sự thật. chỉ là vấn đề thời gian mà thôi

2 Người con nữa của Ông Lê Văn Sô!

Lê Bá Ước 12/16/2009 3:05:13 PM

http://lethuy.edu.vn/?u=nws&su=d&cid=362&id=712

Là em ruột của Lê Văn Tuyến, con trai út cụ Lê Văn Sô, theo anh Tuyến ghi tiếp trong gia phả (chi phía Nam) thì … năm 1945 chú (Ước) đang học tập lớp tiếp liên thì có lệnh tản cư, chú về với gia đình bắt cá, bẫy cò và xếp bút nghiên… làm tình báo tại địa phương nhà. Khi hiệp ước 6/3 ký kết, là chú bé 15 tuổi với vài ba tiếng Pháp đã dẫn đầu, đại diện cho đoàn người biểu tình kéo cờ Việt Minh đến nói chuyện với xếp bót Cầu Đúc, đấu tranh được đi qua đồn thắng lợi.

Và rồi giặc tràn đến quê hương ruồng bố, bắn giết dữ dội. Trong một vụ càn, suýt nữa ông cụ bị bắn chết và người chị gái, cán bộ ấy bị lính Tây bắt định đưa xuống tàu, phải cắn lưỡi tự vẫn, nhờ vậy mà thoát. Sau một đêm đi giăng cá kiếm được tiền đủ mua chiếc “nóp” và một khăn rằn quấn cổ, chú viết thư để lại và theo giao liên vào luôn chiến khu rừng U Minh. Từ đó suốt nửa thế kỷ, cả cuộc đời binh nghiệp có mặt trên khắp chiến trường miền Tây thời đánh Pháp. Đến năm 1954 tập kết ra Bắc, Ước có qua trường sĩ quan Lục quân (khi còn ở nhờ bên Nam Ninh – Trung Quốc), lần lượt Ước được qua tất cả các trường quân sự, chính trị như Học viện chính trị, Học viện quân sự cao cấp đều tốt nghiệp hạng ưu. Năm 1965, vượt qua Trường Sơn về Nam, Ước tham gia đánh Mỹ, nỗi danh tại chiến khu Rừng Sác với cương vị Trung đoàn trưởng kiêm chính uỷ Đoàn 10 đặc công và cuối chiến tranh phụ trách chính uỷ Sư đoàn 2 đặc công của R, tham gia chỉ huy đánh thắng nhiều trận vang dội như kho bom thành Tuy Hạ, đốt cháy kho xăng Nhà Bè, đánh tàu trên sông Lòng Tàu lịch sử và kho tàu bến cảng khiến cho quân thù đã phải treo giá đầu Bảy Rừng Sác 2 triệu đồng.

Năm 1975, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm, giải phóng Sài Gòn, Gia Định chú được điều động về Đồng Nai là Chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh với quân hàm cuối cùng là Đại tá, sau chuyển qua mặt trận kinh tế phụ trách Phó giám đốc công ty DONAVIK, được mấy năm đến tuổi nghỉ hưu.

Cái tầm vóc của Bảy Ước không chỉ ở chiến công, từ một chiến sĩ bình thường từng bước trưởng thành không vượt cấp lên đến làm người chỉ huy cấp sư đoàn quân hàm Đại tá, với huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, đã chiến đấu từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, qua Campuchia giúp bạn, mà ở chỗ chú biết dằn nén đau thương, chịu đựng gian khổ, hy sinh những năm tháng của tuổi xuân, cống hiến, giữ trọn vẹn tình yêu đất nước, mà bí danh Lê Lai cũng nói lên ý nguyện theo đường tử tiết trung thành của một tướng lĩnh của vua Lê Lợi thời xưa. Tình cha con, vợ chồng, anh em, đồng chí, xóm làng đều thương yêu quý mến. Với bàn thờ tự lập tại nhà riêng. Ước tưởng niệm 860 đồng chí dưới quyền đã hy sinh trong chiến tranh. Sau khi người vợ trước, Nguyễn Kim Mến hy sinh tại trận địa để lại 3 con, chú đã xây dựng tiếp với đồng đội Thân Thị Vân mà chồng là một cán bộ chỉ huy trinh sát thuộc quyền hy sinh sau hai năm, để lại 3 con. Hai vợ chồng mới này chấp nhận khó khăn, đùm bọc nuôi dưỡng 9 đứa con trong đó 6 đứa là con liệt sĩ, làm tròn nghĩa vụ tình cảm với người đã mất.

Sau chiến thắng 1975, chú về thăm quê nhà ở tận Gò Quao – Rạch Gía sau mấy chục năm xa cách, trên mảnh đất hoang tàn bom đạn cày xới, nhìn cảnh nhớ đến tiếng Mẹ hiền với mấy câu thơ tự lòng:

Tôi đứng lặng thinh nhìn xóm cũ

Bên tai vẳng tiếng Mẹ hiền ru

Chỉ còn góc khế, chòm mai nở

Vẫn chịu hằn sâu vết đạn thù…

… Hôm nay trong ngôi nhà nhỏ của vị Đại tá về hưu ở Biên Hoà đâu đâu cũng thấy bóng dáng Rừng Sác. Gian chính của ngôi nhà đặt bàn thờ 860 anh hùng liệt sĩ của Trung đoàn Rừng Sác anh hùng, trong đó 525 liệt sĩ không tìm thấy hài cốt và sẽ không bao giờ tìm thấy.

Năm 1954, chàng trai tập kết ra Bắc ở tuổi 23. Năm1965, đại uý Lê Bá Ước  vượt Trường Sơn trở về Nam chiến đấu với nhiệm vụ Trưởng ban tuyên huấn đặc khu Rừng Sác. Rừng Sác là đặc khu quân sự của “R” Bộ chỉ huy quân cách mạng miền Nam. Đây là vùng ngập mặn mênh mông, chằng chịt sông rạch gồm một số phần đất thuộc các tỉnh Biên Hoà, Gò Công, Gia Định, Phước Tuy. Mỗi lần triều lên chỉ thấy mênh mông sông nước dưới thảm đước xanh rì của con sông Lòng Tàu uốn khúc nối liền từ Vũng Tàu vào Sài Gòn.

Ngày 15-4-1965, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác ra đời. Sau trận Tổng tiến công và nỗi dậy của quân dân ta vào mùa xuân năm 1968, địch qua ra đánh Rừng Sác ác liệt vào những năm 1969-1970-1971. Chính thời gian này, thiếu tá Lê Bá Ước, Chính uỷ kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác được tôn là “anh cả Rừng Sác”.

Đại tá Ước bùi ngùi …

Lê Văn Khuyên

Lê Bá Ước, vị chỉ huy Rừng Sác anh hùng.

   (Quê gốc ở Lộc An, An Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình)

4 câu chuyện lạ trong một gia đình lính

Thứ bảy, 30/05/2009, 23:37 (GMT+7)

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/nguoiduongthoi/2009/5/192315/

Chuyện lạ thứ 1

Đến thành phố Biên Hòa, ghé thăm ngôi nhà của đại tá Lê Bá Ước, nguyên Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 bộ đội đặc công nước rừng Sác thời chống Mỹ và bà Thân Thị Tuyết Vân, vợ ông – cũng là một cựu binh rừng Sác, thắp một nén nhang lên bàn thờ tổ tiên của gia chủ, bạn sẽ phát hiện ra một điều lạ.

Tít trên cao nơi kệ thờ là ảnh Hồ Chủ tịch, kế tới ảnh ông bà nội ngoại, ở hàng thứ 3 có ảnh 2 liệt sĩ rừng Sác: Nguyễn Kim Mến, quân y sĩ, hy sinh năm 1971, là người vợ đầu của đại tá Lê Bá Ước; Phạm Như Tiếp, cán bộ đại đội, hy sinh năm 1972, là người chồng đầu của bà Thân Thị Tuyết Vân.

Ra thăm khu nghĩa trang liệt sĩ thành phố, bạn sẽ còn gặp điều lạ hơn: ngôi mộ của liệt sĩ Phạm Kế Tiếp nằm cạnh ngôi mộ của liệt sĩ Nguyễn Kim Mến. Hình như đoán được câu hỏi trong mắt tôi, bà Vân nói luôn:

– Thời còn ở rừng Sác chị Mến bên quân y, tôi bên hậu cần. Anh Tiếp chồng trước của tôi là cánh tay mặt của ông Ước. Chúng tôi không chỉ là đồng đội, đồng chí của nhau mà còn thân thiết, nương tựa vào nhau như trong một gia đình.

Đại tá Ước tiếp lời bà Vân:

– Ấy nhưng khi đưa mộ Mến, Tiếp về khu nghĩa trang Biên Hòa, sắp đặt hai ngôi mộ ra sao, tôi và bà Vân phải lấy ý kiến của từng đứa con. May sao sắp nhỏ nhất trí liền.

“Sắp nhỏ” đây là 9 người con – 2 gái, 7 trai đều đã bước qua tuổi phương trưởng, cùng đông đúc dâu rể, nội ngoại. 9 người con ấy – như lời đại tá Ước nói vui, thuộc 3 kênh VTV1, VTV2, VTV3, hay thường được gọi là con anh, con tôi, con chúng ta.

VTV1 gồm Hương, Hùng, Thắng – là kết quả cuộc hôn nhân lần 1 giữa đại tá Ước và quân y sĩ Kim Mến. VTV2 gồm Lê Phạm Thúy, Lê Phạm Hải, Lê Phạm Dũng – kết quả cuộc hôn nhân giữa đại đội trưởng Tiếp và bà Vân. Bà Mến, ông Tiếp hy sinh, ông Ước bà Vân “tác hợp” với nhau sinh thêm Lê Bá Thành, Lê Bá Công và Lê Bá Long.

Trong gia đình này, đã từ lâu cứ theo tuổi tác mà gọi tên Hai Hương, Ba Dũng, Tư Thúy, Năm Hải, Năm Thắng… Quy củ, trật tự ấy đến lượt các chàng rể, các nàng dâu, và đám nội ngoại cứ thế phăm phắp tuân thủ.

Chuyện lạ thứ 2

Bà Nguyễn Kim Mến và ông Lê Bá Ước đều là bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, làm lễ cưới ở Hà Nội. Khi Hương mới lên 4 và Hùng mới được 2 tuổi thì ông Ước vượt Trường Sơn trở về với rừng Sác. 3 năm sau, gửi lại 2 con nhỏ nhờ bà cô trông coi, chị Kim Mến vào Nam với chồng.

Bác sĩ Kim Hương không cầm được nước mắt khi nhớ lại cuộc chia tay với mẹ: “Tôi còn nhớ rõ gia đình có làm bữa cơm để tiễn đưa mẹ tôi. Em Hùng còn nhỏ quá không biết gì. Mẹ con, bà cháu tôi cứ giục nhau ăn nhưng nước mắt ròng ròng không ai có thể nuốt nổi. Năm ấy tôi đã 7 tuổi nên tôi nhớ mọi điều rành rõ như đang xảy ra trước mắt: mẹ tôi vận bộ đồ bà ba, tư trang cá nhân xếp cả trong chiếc ba lô cóc. Trên xe lên vùng tập trung trên Lập Thạch (Vĩnh Phú) mẹ tôi không khóc nữa mà đưa tay vuốt ve mớ tóc, gương mặt, bờ vai tôi rồi tới em Hùng. Mẹ bảo hai chị em tôi, mẹ đi xa phải nghe lời bà, nghe lời thầy cô, học cho giỏi. Mẹ hứa sẽ nhanh chóng trở về với chúng tôi… Thư trong Nam ra Bắc có khi nửa năm, có khi hơn năm mới được một lá. Ở Hà Nội cứ vào giờ tan lớp buổi chiều, nhìn cha mẹ các bạn khác đến đón con họ hoặc đi qua những ngôi nhà gia đình tụ họp vào bữa cơm tối, hai chị em tôi nhớ bố, nhớ mẹ mà dầm dề nước mắt. Mẹ tôi hy sinh, mãi hai năm sau tin mới ra tới Hà Nội”.

Vào tới chiến trường, bà Mến trở thành quân y sĩ tại Trung đoàn 10 do ông Ước chỉ huy. Gian khổ, ác liệt nhưng vợ chồng luôn bên nhau cũng đỡ. Năm 1969 ông bà sinh Lê Toàn Thắng đúng vào những ngày tháng khó khăn, quyết liệt sau Tết Mậu Thân năm 1968. Thắng mới 12 ngày tuổi, bà Mến đã phải ẵm con gửi cơ sở nuôi giùm. Cũng đã có quyết định điều bà lên R tập huấn lớp quân y dài ngày, nhưng bà còn nấn ná ở lại vì không muốn xa ông vào thời điểm cam go ấy. Ba tháng sau Toàn Thắng đã cứng cáp, mập mạp, gia đình cơ sở chụp hình gửi vào rừng Sác cho bà Mến mừng. Ảnh chưa tới, trong một trận địch càn vào rừng Sác, bà Mến trúng đạn, không kịp trăn trối điều gì với chồng, với con…

Nhìn tấm ảnh bà Mến trên bàn thờ gia đình ông Ước, tôi thầm hỏi, liệu trước lúc ngã xuống, người mẹ kia muốn nhắn gửi điều gì cho những đứa con còn quá nhỏ dại cả ở ngoài Bắc lẫn trong Nam?

Chuyện lạ thứ 3

Khi chiến đấu ở rừng Sác, bà Vân và ông Tiếp – chồng bà, gửi đứa con lớn là Thúy về cho bà ngoại nuôi, còn đứa con trai bà phải gửi cơ sở nuôi hộ. Đêm ngày 18 tháng 5 năm 1972, bà Vân trở dạ đúng lúc chồng bà nhận nhiệm vụ đưa anh em đi đánh tàu. Sáng 19 tháng 5, bà Vân sinh Dũng – cậu con trai cũng là thời khắc ông Tiếp hy sinh, nhưng đơn vị giấu không cho bà Vân biết, lo ảnh hưởng tới sức khỏe sản phụ. Năm ấy bà Vân 26 tuổi.

Người đàn bà này bây giờ hạnh phúc sống giữa bày cháu con, dâu rể, nội ngoại nhưng bà cũng dễ mủi lòng mỗi khi nhắc tới những tháng năm chiến tranh.

Bà Tuyết Vân tâm sự, bà đi tới hôn nhân lần hai với ông Ước một phần là do anh em trong đơn vị Đặc công vun vào. Anh em có lý khi nói rằng, chỉ những ai trải qua sống chết ở rừng Sác mới thực lòng thương yêu, cưu mang đám con cái các chiến sĩ rừng Sác. Cái lý, cái tình là như thế, lại còn thêm lý do khác: hai gia đình ông Ước bà Vân đã quá gần gụi, thân tình với nhau, cái lỗ hổng kẻ mất vợ, người mất chồng, dễ ai khác có thể bù đắp được?

Bà Tuyết Vân kể, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, giữa làn sóng di tản ra nước ngoài, ông Ước và bà đã thực hiện một công việc ngược lại: đi gom đàn con từ khắp mọi nơi về sống dưới một mái nhà. Ông Ước ra Hà Nội đón Hương, Hùng. Trở vào, ông bà đáp xe đò đến các gia đình cơ sở đón Thúy, Hải, Thắng, Dũng. Có gia đình nuôi con ông bà lâu quá rồi, nay thành bịn rịn, không muốn trả, phải nài nỉ, thương lượng cả tháng trời mới xong.

Hai cô gái lớn thì Hương mới 13 tuổi, Thúy mới lên 7, phía sau lưng còn lít nhít cả một lũ em 5, 6 tuổi. Lương của ông Ước là bao nhiêu, đồng tiền phụ cấp thương tật của bà bao nhiêu ai mà chẳng rõ. Ông Ước lại ra Hà Nội học tại Học viện quân sự dài ngày. Một mình bà Vân tần tảo, xở xoay, nuôi lợn, nuôi gà, nhận may gia công. Chả bao lâu đến lượt Hương, Dũng nhập ngũ theo cha sang chiến đấu ở Campuchia. Kiếm được đủ hai bữa cơm là may, lũ trẻ đến trường buổi sáng với cái bụng rỗng là chuyện bình thường.

Lựa lúc bà Tuyết Vân thanh thản, vui vẻ tôi hỏi bà bí quyết gì khiến bà không mắc vào sự thiên tư, nghiêng bên này, ngả bên kia một chút, để từng ấy đứa con đều coi bà thực sự là mẹ ruột, bà Vân cười mà hai giọt mắt bỗng lăn trên gò má: “Nói thật anh đừng cười, thử hỏi con Thúy, thằng Hải, thằng Dũng là 3 đứa tôi và anh Tiếp đẻ ra có bao nhiêu ngày sống với bố mẹ, được bố mẹ chăm nom? Ngày mới đón về chúng cũng xa lạ với tôi hệt như đám con của anh Ước và chị Mến xa lạ với ba chúng. Thành thử sao riêng tây được, khi chúng đều là con của những người lính, số phận đám trẻ này y hệt như số phận của đám trẻ kia”.

Chuyện lạ thứ 4

Chín người con của ông Ước bà Vân hiện nay như hình ảnh của một xã hội thu nhỏ. Có người làm bác sĩ, có người đã ra ngoài biên chế nhà nước, góp vốn làm ăn riêng, có ngư dân, có thợ sửa chữa đồ điện gia dụng, có cảnh sát, có sinh viên. Điều mà lân bang, xóm giềng thường ngợi ca hơn thế là cái tình, cái nghĩa, cái cung cách đám anh chị em cùng dâu rể ăn ở, đối xử với nhau.

Ông đại tá lưu ý tôi điều này: Cả chín người con ông bà không một ai ra nước ngoài đi học hay xuất cảnh lao động. Ông nói với tôi, với lý lịch của một gia đình 4 quân nhân, 2 liệt sĩ, lại có mối bang giao rộng, ông bà có thể xin cho cô này cậu kia lên đường xuất ngoại Nhưng ông bà đều chung một tâm nguyện, vì chiến tranh đám trẻ đã chịu thiệt thòi sống xa cha mẹ, xa nhau quá lâu ngày rồi, nay đi xa nữa chúng dễ thành… người thiên hạ!

Bố mẹ nghèo, con đông nhưng ông Ước và bà Vân cũng đã đạt tới cái đích tự vạch ra: tạo điều kiện cho cả 9 người con tốt nghiệp phổ thông trung học. Còn cô cậu nào vượt xa, vươn cao hơn nữa ông bà rất hoan nghênh. Gia đình ông bà nay đã có cả bác sĩ, kỹ sư và sinh viên chưa ra trường.

Bộ đội đặc công nước rừng Sác đã làm điên đầu bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Mỹ – ngụy bởi những trận pháo kích kho xăng Nhà Bè, kho đạn ở Thành Tuy Hạ, khống chế tàu thuyền tiếp tế vũ khí, đạn dược của địch trên khúc sông nối giữa biển Vũng Tàu và Cảng Sài Gòn… Nơi đứng chân của Trung đoàn 10 là những cánh rừng đước ở vùng Cần Giờ – cách Sài Gòn một tiếng xe chạy, ấy thế mà kẻ thù không cách gì nhổ bật được lực lượng đặc công nước khỏi nơi này.

Nhưng cũng đã có hơn 800 cán bộ, chiến sĩ bộ đội rừng Sác anh dũng hy sinh. Trong ngôi nhà của ông Ước, bà Vân tại Biên Hòa dành hẳn một góc để lập bàn thờ hương khói đều đặn cho 800 liệt sĩ ấy. Suốt mấy chục năm sau chiến tranh, dù đang công tác hay đã nghỉ hưu, ông Ước đều dành hết tâm huyết và thời gian để nuôi giữ cho thật bền lâu mối kết bện thâm tình giữa các đồng đội năm xưa với nhau. Ông đi thăm hỏi những người đau bệnh. Ông đứng ra tổ chức phúng điếu, ma chay cho người chết. Ông dẫn đầu những đoàn truy tập hài cốt liệt sĩ. Đại tá Ước còn góp nhiều công sức, tâm lực, mồ hôi cố vấn cho hàng chục bộ phim, vở dựng; viết sách hồi ký, lập khu di tích căn cứ Trung đoàn 10 tại Khu du lịch sinh thái Cần Giờ; kêu gọi mọi người góp công góp sức xây dựng Khu tưởng niệm bộ đội đặc công nước rừng Sác ở huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai…

Qua năm 2010 tới đây, đại tá Lê Bá Ước sẽ bước sang tuổi tám mươi. Tuy không nói ra, nhưng mấy năm nay, thỉnh thoảng qua lại thăm ông, tôi nhận ra dáng đi, nuớc bước của ông đã trở nên chậm chạp, thận trọng; ánh mắt của ông bớt đi vẻ sắc sảo, tinh nhanh, giọng nói đã run run…

Một đêm khuya lắm ngồi lai rai trong khu vườn nhà ông, nghe có ai đó khen ông vì tất cả những gì ông đại tá đã làm để Trung đoàn 10 còn lưu đọng trong ký ức mọi người, ông Ước ắng lặng hồi lâu, sau thủng thẳng:

– Những việc ấy tôi không làm thì cũng có anh em khác đứng ra đảm trách. Điều về già nghiệm ra, mà cũng là điều tôi mừng nhất chính là ở chỗ mình đã gây dựng được một đại gia đình êm ấm, con cái biết yêu thương cha mẹ, chăm nom nhường nhịn nhau và nói chung là đều nên người. Các ông thử tưởng tượng xem, nếu chúng xì ke, tiêm chích, lêu lỏng, vô giáo dục, khinh thường cha mẹ, thử hỏi tôi và bà Vân có nhồi ấn những chuyện chiến đấu hào hùng của bộ đội rừng Sác vào đầu chúng thì cũng là chuyện nước đổ đầu vịt mà thôi!

Tô Hoàng

Phan Văn Khỏe

http://www.moitruongdothidaklak.com.vn/t.aspx?id=1120

Quê Mỹ Tho, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, ông  được bầu làm ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ năm 1939. Năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại ông được cử lên làm Bí thư Xứ ủy thay ông Phan Đăng Lưu bị giặc bắt; Năm 1941 ông bị địch bắt và đày ra Côn Đảo. Sau Cách mạng Tháng 8 ông trở về đất liền tiếp tục hoạt động và hy sinh tại Mỹ Tho năm 1946.

LB: Bạn cùng hoạt động… “Hy sinh”!

Giuse VÕ VĂN PHẢI

Sinh Năm 1900 tai Giáo Xứ Búng, Bình Dương
Từ trần năm 1947 tại Giáo Xứ Búng, Bình Dương
Hưởng Thọ 47 tuổi

Gia đình con út Nhị lập mộ để thương nhớ Cha

One thought on “Phụ bài 2. Hồ Đã giết cha của Lê Minh Quới!”

  1. bài viết xuyên tạc sự thật. Tôi là cháu nội của liệt sĩ Lê Minh Quới và rõ ràng người viết không biết vô tình thiếu hiểu biết hay cố tình gây nhầm lẫn ông cố tôi Lê Văn Sô (Cần Thơ) với đồng chí Lê Quang Sô để đặt điều vu khống.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s