Bài 2. Sự thật một số “những Tội ác của Pháp hoặc Mỹ” được Hồ tạo ra như thế nào?

Lời dẫn. Có rất nhiều Cộng sản gộc, trí thức lớn… bị quân Pháp hoặc Mỹ càn qua rồi bắn chết, mổ bụng, moi gan…(Như mẹ Bùi Tín…) có bao nhiêu người bị Pháp, Mỹ thật giết? bao nhiêu người bị Pháp, Mỹ giả (Chính là quân của “Cụ Hồ”) được gọi với cái tên mỹ miều: “Chiến sĩ Việt Nam mới” giết?

            Có bao nhiêu “Chiến sĩ Việt Nam mới” của “Cụ Hồ” khi đã thực hiện xong các phi vụ … Đặc biệt thì đã “Hy sinh anh dũng” hoặc mất tích?

            Khi ta đã biết rõ H là ai? H đã là quỷ sa tăng thì ta không khó để hình dung việc đó là Thật 100%!

I. Hồ thuê người da Trắng, người da vàng về để giả quân Mỹ, Pháp, Nhật.

  1. Số lượng họ là bao nhiêu:

tính đến năm 1954 đã có 208 người Pháp, 338 người Bắc Phi (Ma-rốc, An-giê-ri, Tuy-ni-di), 78 người Trung Phi, 1.373 người Nga, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Tiệp, Đức, Áo, Ba Lan, Tây Ban Nha, Nhật… đã đứng “dưới lá cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

            “Binh sĩ lính lê dương và Bắc Phi trong quân đội Pháp chạy sang hàng ngũ Việt Minh trong thời gian 1945-1954. Số này có khoảng 1300-1500 người

  1. Họ về từ đâu?

Những quân nhân người Châu Âu được đưa về nước qua đường Trung Quốc – Liên Xô trong những năm 1951-1954.

 Ngày 20.2.1950, Erich Honecker, lúc đó là chủ tịch Phong trào Thanh niên Đức (FDJ), đã ra tuyên bố kêu gọi :… hãy đứng sang “phe cách mạng Việt Nam hiện nay đã có nhiều người lính Lê Dương cũ người Đức tham gia”.  Honecker hứa là người nào trở về CHDCĐ sẽ được ân xá và tạo công ăn việc làm [3].  …

  1. Họ là ai?

Loại thứ nhì, cũng là đa số, năm 1945 ở lứa tuổi 17-25, là những thanh niên mất phương hướng sau khi chế độ Đức quốc xã sụp đổ. Vô học, vô gia cư nghề nghiệp, tứ cố vô thân, họ tìm thấy ở đội quân Lê Dương cơ hội giải thoát khỏi cảnh ngộ khốn cùng, một nơi chốn nương tựa.  Họ đào ngũ, chạy sang theo Việt Minh vì nhiều lí do khác nhau, trong đó chính trị là lí do ít quan trọng hơn cả.  Từ 1946 đến 1954, tổng cộng có 1325 lính Lê Dương đã bỏ ngũ theo Việt Minh, trong đó 673 người bỏ ngũ trong thời gian 1946-48. [9]

… Schröder sinh năm 1911 tại Köln (Cologne), mang nặng dấu ấn của quá khứ văn minh La Mã của thành phố này – tính tình ông bay bướm, hưởng lạc, khiếu thẩm mĩ tinh tế, đồng thời say mê tìm hiểu, truy hỏi, khám phá những mâu thuẫn của cuộc sống. Hai mặt đối ngẫu ấy có thể dẫn tới bệnh trầm cảm và bất mãn sâu sắc nếu đương sự  không được trọng thị trong xã hội. Trong bản Lý lịch Đảng viên (có lẽ viết vào tháng ba 1950), Schröder khai thành phần xuất thân của mình là Tư sản.[18]  Thời gian này, ông dùng bí danh Lê Đức Nhân

Borchers, Frey và Schröder cùng mấy ngàn binh sĩ bị Nhật bắt làm tù binh, lúc đầu bị giam trong thành Hà Nội, sau đó bị đưa lên trại “tận diệt” gần Hoà Bình.[41]

  1. Ai chỉ đạo?

… Frey thu xếp với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp để ông và hai bạn Walter Ullrich và Georges Wächter chuyển sang hàng ngũ Việt Nam

  1. Tử hình những người trước đó được giao những… phi vụ Đặc Biệt:

… một chứng nhân của thời kì này, hoạ sĩ kiêm nhà văn Trần Duy, cho tôi biết những người lính lê dương cũ này đã trở thành mối hoạ cho dân chúng địa phương, cưỡng hiếp đàn bà con gái, giết cả trâu cày của nông dân.[54]  Schröder tin chắc là đã xảy ra một cuộc bạo loạn và âm mưu quay về phía Pháp, nên đã thành lập toà án quân sự và cho xử tử hình sáu người mặc dầu trong bản khai lí lịch tháng mười một 1951, ông thừa nhận rằng “quyết định này vượt quá quyền hạn sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam của tôi”.[55]  Ông bị Đảng phê bình. Và đó cũng là nguyên nhân tại sao – hay cũng chỉ là cái cớ – ông không còn được tướng Giáp sủng đãi nữa.

Schröder “cảm thấy bị bỏ rơi như một người làm công bị sa thải vậy”.

…. Trong cuộc gặp ở Ban chấp hành Trung ương ngày 15 tháng tám 1950, anh Thận (tức là Trường Chinh) đánh giá họ là “thiếu bồi dưỡng về mặt tư tưởng, và có biểu hiện… chủ nghĩa sô-vanh.  Schröder coi câu nói đó là một lời Hinauswurf, cho “về chơi xơi nước”.[58” (chủ nghĩa sô-vanh là một chủ nghĩa sùng bái tinh thần bè phái cực đoan, mù quáng)

  1. Việt Nam: “… Trong nhật kí tháng hai 1951, Schröder chua chát ghi lại: “Giả sử bây giờ ông già râu phán một câu: ‘Cái giẻ trắng mà các chú thấy kia màu đen’, mọi người sẽ tin là thế; cán bộ sẽ coi đó là kinh thánh. ..Tự do mà họ ước mong hiện nguyên hình độc tài.
  2. Họ bị thủ tiêu:

… Hàng chục chiến sĩ “Việt Nam mới” (tên gọi các bạn Nhật Bản chiến đấu vì chúng ta) đã nằm lại trên bờ một con rạch nào đó ở Nam Bộ, dưới đèo Hải Vân, ở Nha Trang, trên núi rừng Việt Bắc… Rất tiếc, chúng ta vẫn chưa tìm thấy mộ chí.

  1. Bị lãng quên:

…Có thể là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta còn quá “bận rộn” nên chưa có thời gian nghĩ nhiều về các “thương binh, liệt sĩ quốc tế” chăng?

Cũng đã qua bao nhiêu lần kỷ niệm “Ngày Thương binh, liệt sĩ”, nhưng hình như chúng ta chỉ nhớ tới những Thương binh, Liệt sĩ là người Việt… Có lẽ, điều này là chưa phải “Đạo” nếu đúng là như vậy.

…Và rồi đây, có nên “tích cực” tìm hiểu địa chỉ của mấy chục “chiến sĩ Việt Nam mới” trong đó có thương binh, liệt sĩ người Nhật Bản để mời họ sang Hà Nội để nhận những Huân chương, Huy chương đang được gìn giữ trong kho lưu trữ ở Việt Nam. …

II. Nhận xét:

Số quân đặc biệt này là bao nhiêu? Sẽ chẳng ai có số liệu chính thức, họ từ những nguồn nào thì khó mà xác nhận, ai dám khẳng định khi H là quỷ thì nó không đi thuê lính về để làm?

Nhưng chỉ theo những số liệu trên thì cũng đã đủ để H tạo ra những: “Trận càn của quân Pháp hoặc sau nay là Mỹ!

Bao nhiêu người may mắn đã được hồi hương? Thưa rằng số đó không nhiều, và chắc chắn số đó không được H giao: “Trọng trách” hay “được giao những… phi vụ Đặc Biệt!

Những kẻ “Vô học, vô gia cư nghề nghiệp, tứ cố vô thân” đó thì có ai quản lý? Họ tha hồ… chết mà không phải giải thích gì!

Thế là H tha hồ mà bịt miệng họ khi giao cho họ đi thực hiện các phi vụ… Đặc biệt: “những người lính lê dương cũ này đã trở thành mối hoạ cho dân chúng địa phương, cưỡng hiếp đàn bà con gái, giết cả trâu cày của nông dân.” Rồi H lại chỉ đạo giết phăng (Nếu họ ít) hoặc là: “đã thành lập toà án quân sự và cho xử tử hình sáu người ” (Nếu nhiều)…

Những người bị bịt miệng là bao nhiêu?

Khó biết!

Chỉ biết rằng: “Hàng chục chiến sĩ “Việt Nam mới” ” đã: “nằm lại trên bờ một con rạch nào đó ở Nam Bộ, dưới đèo Hải Vân, ở Nha Trang, trên núi rừng Việt Bắc… ” và Rất tiếc: “chúng ta vẫn chưa tìm thấy mộ chí. ”. Hoặc “mấy chục “chiến sĩ Việt Nam mới” trong đó có thương binh, liệt sĩ ” mà “những Huân chương, Huy chương đang được gìn giữ trong kho lưu trữ ở Việt Nam”. …

Nên chú ý là: Mất mộ – Đây là đặc trưng của những người H đã thủ tiêu như Nguyễn Văn Tố, Phùng Chí Kiên, Hà Huy Tập, Trần Phú… và rất nhiều người khác!

Thật là dã man Vô Cùng tận!

III. Nguồn tài liệu dùng để nghiên cứu:

Những “chiến sĩ Việt Nam mới” (*)

Nhân dân – 08/04/2010

http://www.baomoi.com/Nhung-chien-si-Viet-Nam-moi/121/4098504.epi

ND – Cảm phục tinh thần yêu nước, sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam, nhiều người nước ngoài mang nhiều quốc tịch đã tình nguyện bỏ hàng ngũ địch sang chiến đấu bên cạnh các chiến sĩ Việt Nam…

Theo nguồn tư liệu của phương Tây, tính đến năm 1954 đã có 208 người Pháp, 338 người Bắc Phi (Ma-rốc, An-giê-ri, Tuy-ni-di), 78 người Trung Phi, 1.373 người Nga, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Tiệp, Đức, Áo, Ba Lan, Tây Ban Nha, Nhật… đã đứng “dưới lá cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Nhân dân ta thường quen gọi đấy là “chiến sĩ Việt Nam mới của Bác Hồ” và phần lớn đã lấy họ Hồ Chí Minh cho tên Việt Nam của mình.

Những chiến sĩ Việt Nam mới này được phân công thực hiện nhiều công tác khác nhau: làm báo, địch vận, chiến đấu, xây cầu, đắp đường, tăng gia sản xuất, thợ cơ khí trong binh, công xưởng, ở sân bay…

Trong số này có Ka-xi-út. Năm 1951, … Ka-xi-út được bầu là “chiến sĩ tăng gia giỏi”.

Còn Éc-vin Bốc-se, có tên Việt Nam là “Chiến sĩ”, người thường được gặp Bác trên chiến khu, lúc rời Việt Nam, được Bác tặng một đồng hồ Mô-va-đô. Anh nói:…

* Theo cuốn Bác Hồ với chiến sĩ, Nxb Quân đội Nhân dân, H 1994, Tr 48, 49.

– Đầu đề là của Báo Nhân Dân.

Những thương binh, liệt sĩ, người nước ngoài hy sinh chiến đấu vì Việt Nam

http://tapchihuongnghiep.com.vn/PrintPreview.aspx?ID=3430

…Khi cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra từ những năm 1945 – 1946, có hàng trăm binh sĩ Nhật Bản như Minh Ngọc (Nakahara), Đông Hưng v.v… đã gia nhập hàng ngũ quân đội Việt Nam, làm giáo viên quân sự, nghiên cứu không quân, công nhân, quân giới, bác sĩ đông y, chuyên gia ngân hàng… Hàng chục chiến sĩ “Việt Nam mới” (tên gọi các bạn Nhật Bản chiến đấu vì chúng ta) đã nằm lại trên bờ một con rạch nào đó ở Nam Bộ, dưới đèo Hải Vân, ở Nha Trang, trên núi rừng Việt Bắc… Rất tiếc, chúng ta vẫn chưa tìm thấy mộ chí. Thiếu tá Icaoa, Tư lệnh quân đội Nhật ở Huế, Trung Bộ và Trung Lào có vợ là người Việt, biết tiếng Pháp, trước ngày Huế khởi nghĩa đã “bắt liên lạc” với Việt Minh nhận làm cố vấn cho Tư lệnh Nguyễn Sơn, được Nguyễn Sơn yêu cầu đi kiểm tra chiến đấu, đã hy sinh trên một con đường nhỏ ở An Khê… Con trai ông đã mấy lần trở về quê mẹ, đi tìm những dấu vết người cha liệt sĩ của bộ đội Cụ Hồ mà vẫn chưa được toại nguyện… Còn nhiều các “chiến sĩ quốc tế” khác mang quốc tịch Áo, Bỉ, Đức, Ba Lan, Nga, Tiệp, Ai Cập, Hy Lạp, Angiêri, Trung Quốc… đã trực tiếp cầm súng, ra mặt trận, …

…Có thể là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta còn quá “bận rộn” nên chưa có thời gian nghĩ nhiều về các “thương binh, liệt sĩ quốc tế” chăng?

Cũng đã qua bao nhiêu lần kỷ niệm “Ngày Thương binh, liệt sĩ”, nhưng hình như chúng ta chỉ nhớ tới những Thương binh, Liệt sĩ là người Việt… Có lẽ, điều này là chưa phải “Đạo” nếu đúng là như vậy.

…Và rồi đây, có nên “tích cực” tìm hiểu địa chỉ của mấy chục “chiến sĩ Việt Nam mới” trong đó có thương binh, liệt sĩ người Nhật Bản để mời họ sang Hà Nội để nhận những Huân chương, Huy chương đang được gìn giữ trong kho lưu trữ ở Việt Nam. … chắc không ai quên những Thương binh, Liệt sĩ Việt Nam và quốc tế đã hy sinh vì nước non này?

Thủy Trường

Sự thật về những chiến sĩ “ngoại” xả thân vì độc lập VN

Ngày đăng : 19:15 01/09/2013

http://kienthuc.net.vn/phong-thuy/su-that-ve-nhung-chien-si-ngoai-xa-than-vi-doc-lap-vn-258418.html

(Kienthuc.net.vn) – Chiến thắng của cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ quốc tế.

… kinh nghiệm và kiến thức của những người “Việt Nam mới” đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập

Ông Kostas Sarantidis sinh năm 1927 tại thành phố Athens, Hy Lạp. Năm 1943, ông bị bắt sang Đức làm lao động khổ sai. Đầu năm 1946, ông tham gia trong đội quân lính đánh thuê Lê Dương của thực dân Pháp đưa sang Sài Gòn nhằm đàn áp Cách mạng Việt Nam dưới chiêu bài “giải giáp quân Nhật.”

… Ông đã tự giác bắt liên lạc và gia nhập hàng ngũ quân đội Việt Nam với tên gọi Nguyễn Văn Lập.

Ngay từ tháng 4/1946 ở Mũi Né – Phan Thiết, ông đã cùng 25 cán bộ, đồng bào bị địch bắt với vũ khí trốn sang hàng ngũ Việt Minh. Từ năm 1946 – 1952, ông tham gia chiến đấu anh dũng ở nhiều đơn vị, tiểu đoàn, trung đoàn khác nhau, lập nhiều chiến công xuất sắc.

Từ năm 1953 – 1954, ông nhận nhiệm vụ trực tiếp của Bộ Tư lệnh/Liên khu 5 làm Tổng giám thị trại tù hàng binh số 3 của Liên khu 5. …

Từ năm 1955 – 1965, ông tập kết ra miền Bắc lần lượt nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

…Năm 2010, ông được Nhà nước chính thức công nhận quốc tịch Việt Nam, mang tên Nguyễn Văn Lập. Ngày 30/8/2013, ông đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Schulze – Nguyễn Đức Việt

Schulze – Nguyễn Đức Việt là một hàng binh người Đức trong đội quân Lê Dương của Pháp xâm lược nước ta. … anh trốn sang hàng ngũ quân đội Việt Nam từ mặt trận Nam Trung Bộ năm 1946. …

…Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại, anh trở về Cộng hòa dân chủ Đức, được trọng dụng, phụ trách một sân bay. Đến giữa năm 1969, anh dự định quay lại Việt Nam cùng với phái đoàn của Cộng hòa dân chủ Đức, đồng thời thăm vợ con ở Việt Nam. Nhưng rất tiếc, anh đã hy sinh trong một tai nạn máy bay. …

Nakahara – Minh Ngọc

Trước Cách mạng tháng Tám, Nakahara Mitsuboni là sĩ quan tham mưu quân đội Thiên hoàng tại Bộ tham mưu tướng Ikawa, tư lệnh quân đội Nhật ở miền Trung Việt Nam và Lào. Bấy giờ, anh mới 22 tuổi. Cuối tháng 8/1945, sau những cuộc biểu tình, tuần hành của nhân dân Huế, khi lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trước cửa Ngọ Môn và Thiên hoàng đã ra lệnh đầu hàng, anh cùng với một số sĩ quan Nhật khác đã tận mắt thấy sức mạnh chính nghĩa của một dân tộc. Họ quyết định không trở về Nhật mà xin phép với ủy ban Hành chính Trung Bộ do ông Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, được phép ở lại Việt Nam, đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, tình nguyện làm một chiến sĩ “quốc tế – dân tộc”…

Kazumasa – Phan Lai

Ông Igari Kazumasa quê ở thành phố Sendai vùng Đông Bắc Nhật Bản. Vốn là một bác sĩ, ông bị điều động sang Việt Nam phục vụ cho cuộc xâm lược của phát xít Nhật trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, mang quân hàm trung úy.

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam thành công, quân đội Nhật bị Đồng Minh vào giải giáp, quân Pháp núp sau lưng quân Anh đồng minh đã quay lại gây hấn ở Nam Bộ từ ngày 23/9. Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đã nổ ra ở Nam Bộ, rồi ngày càng lan rộng. Vào thời điểm ấy, Kazumasa cùng một số sĩ quan, binh sĩ người Nhật đã tìm cách bắt liên lạc với Việt Minh, đứng về phía nhân dân Việt Nam cùng chiến đấu chống Pháp.

…Đến năm 1959, sau gần 15 năm gắn bó với Quân đội nhân dân Việt Nam, ông cùng vợ hồi hương về Nhật Bản. …

Những người lính Liên Xô trong hàng ngũ Việt Minh

Theo đài Tiếng Nói Nước Nga, trong cuộc chiến tranh thế giới thứ Hai, khi Đức xâm lược Liên Xô, họ bị Đức quốc xã bắt làm tù binh. …

Ở Việt Nam, có một người lính lê dương là cựu phi công Biblichenko làm việc tại sân bay Gia Lâm. Ở đó, ông đã chiếm chiếc máy bay quân sự của Pháp và bay sang phe du kích ở tỉnh Yên Bái. Một người Nga khác là Fyodor Bessmernyi đã rời hàng ngũ lê dương với khẩu súng của mình, chạy trốn vào rừng, gặp Tiểu đoàn 307 nổi tiếng và bắt đầu tham gia kháng chiến chống Pháp. Những người đồng đội Việt Nam đặt cho ông cái tên mới là Anh.

…Họ có với nhau hai người con và trở về quê hương vào năm 1958. Sau khi ông mất, người vợ và hai con của ông đã về Việt Nam. …

Trong tiểu đoàn đó, cùng chiến đấu chống Pháp còn có một người lính lê dương khác là Platon Skrzhinskiy. Khi Đức quốc xã xâm lược Liên Xô, người lính trẻ Platon bị bắt làm tù binh. Khi Đức thất bại, ông đang ở trên lãnh thổ do người Pháp kiểm soát. Năm 1946, ông gia nhập lê dương và được gửi đến Việt Nam. Ông phục vụ tại Vĩnh Long và sau đó tại Bến Tre – làm tài xế lái xe tải chở nước cho lính lê dương. Tại trạm bơm, ông đã móc nối liên lạc được với du kích Việt Nam và đào ngũ, sang với Việt Minh trong mùa hè năm đó.

Ông được đặt tên Việt Nam là Thành, đảm nhận nhiệm vụ nhân viên liên lạc, xạ thủ và chỉ huy đội công binh. Tám năm liền ông phục vụ trong lực lượng vũ trang miền Nam. Trong thời gian đó, ông gặp một người con gái Bến Tre tên là Mai và kết hôn với cô năm 1948. Năm sau, họ có một con gái đặt tên là Janine.

Năm 1955, trước khi Platon quay về Liên Xô, ông được mời đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch đích thân viết thư cho Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, công nhận sự đóng góp của “đồng chí Thành” đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam….

Hoàng Phương (tổng hợp)

http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_s%C4%A9_%22Vi%E1%BB%87t_Nam_m%E1%BB%9Bi%22

Chiến sĩ “Việt Nam mới” hay người “Việt Nam mới” là tên mà người Việt Nam dùng để gọi những người nước ngoài tình nguyện tham gia hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu trong Kháng chiến chống Pháp 1945-1954.

Những người “Việt Nam mới” đến từ nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu gồm hai nhóm chính:

Binh sĩ trong quân đội Nhật Bản ở lại Việt Nam và tham gia Việt Minh sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc tháng 8 năm 1945. Số này có khoảng 800 người, trong đó có nhiều sĩ quan cao cấp như Đại tá Ikawa, Trung tá Ishii – Nguyễn Văn Thông[1], Đại tá Mukayama – sĩ quan tham mưu của Quân đaòn 38…

Binh sĩ lính lê dương và Bắc Phi trong quân đội Pháp chạy sang hàng ngũ Việt Minh trong thời gian 1945-1954. Số này có khoảng 1300-1500 người, chủ yếu là binh sĩ và hạ sĩ quan lê dương người Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Hy Lạp, Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Ba Lan, Tiệp Khắc, Ukraina, Tunisia, Maroc, Algérie, Hy Lạp… Một nhóm nhỏ trong số này là những người cộng sản (Ernst Frey – Nguyễn Dân, Erwin Borscher – Chiến Sỹ, Rudy Schröder – Lê Đức Nhân…) đã chủ động tham gia Việt Minh ngay từ tháng 9 năm 1945.

Ngoài ra còn có một số ít chiến sĩ tình nguyện người Pháp, Hoa, Lào, Campuchia, Malaysia, Thái Lan

Những người nước ngoài tham gia Việt Minh không phải đều là “hàng binh”, vì vậy để tránh gây ngộ nhận, mặc cảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên chung cho họ là “người Việt Nam mới”.

…như Đại tá Ernst Frey – Nguyễn Dân (Áo), Ishii – Nguyễn Văn Thông (Nhật), Saito – Nguyễn Thanh Tâm (Nhật), Trung tá Erwin Borchers – Chiến sĩ (Đức)…

…. Những người ở Trung Bộ và Nam Bộ tiếp tục chiến đấu cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Những quân nhân người Châu Âu được đưa về nước qua đường Trung Quốc – Liên Xô trong những năm 1951-1954. Quân nhân Nhật về nước trong những năm 1954-1960 theo thoả thuận của Hội chữ thập đỏ hai nước. Quân nhân Bắc Phi về nước trong thời gian từ 1954 đến đầu những năm 1970 sau khi các quốc gia châu Phi giành được độc lập.

Vì nhiều lí do, phần lớn những người châu Âu và Nhật phải để gia đình lại Việt Nam. Sau khi trở về nước, họ cũng gặp nhiều khó khăn từ chính quyền và dân địa phương do đã tham gia quân đội của một nước cộng sản, một số còn bị xét xử vì tội “phản quốc”. Tuy nhiên nhiều người cũng tham gia vào việc giao lưu văn hoá, thúc đẩy quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sau này.

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

Số 3  – Tháng 11/2004

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai3/200403_HSchutte.htm


Những tiến sĩ Đức
trong Việt Minh
1

Heinz Schütte

Để tưởng nhớ Georges Boudarel,2
từ trần ngày 26-12-2003

I – Những trang sử chung

Nói tới những trí thức thuộc những nước sử dụng tiếng Đức đã đi theo Việt Minh, là đụng tới lịch sử Việt Nam giai đoạn 1941-1966, và đụng tới cả lịch sử Pháp, Áo và Đức từ năm 1933 đến nay. Đó là những trang sử chung của chúng ta, nên đó cũng là đề tài chúng ta gặp nhau. Cuộc hội thảo này có mục đích soi rọi một chương đoạn còn ít được biết. Về phần tôi, chỉ có thể làm công việc truy tìm những tư liệu và từ đó, dựng lại những sự kiện. Nhưng chứng từ của những người đã quen biết họ, làm việc với họ cũng rất quý báu và đáng hoan nghênh.

 Tôi đã may mắn tìm ra những tư liệu, đôi khi cả những phông tư liệu trong thư khố của Cộng hoà Dân chủ Đức cũ (CHDCĐ), của Pháp, dưới hầm một ngôi nhà nông thôn không xa thành phố Frankfurt trên sông Main, hay trong một căn phòng chứa vật dụng phế thải ở Paris, hoặc nhờ một bà cụ già ở Vienna. Phải nói là trong các cuộc kiếm tìm năm 2003, đôi khi tôi có cảm giác mình đang làm sống lại những con người đã bị người ta bỏ quên, bỏ quên vì chuyện của họ “có vấn đề”. …

II – Một vấn đề có lợi cho CHDCĐ

 Trước khi đi theo trình tự thời gian và phác hoạ lại một vài hành trình tiêu biểu, tôi muốn nói qua về việc hồi hương của các hàng binh dưới góc độ chính trị CHDCĐ :

 Ngày 20.2.1950, Erich Honecker, lúc đó là chủ tịch Phong trào Thanh niên Đức (FDJ), đã ra tuyên bố kêu gọi “những người lính Đức đang ở Việt Nam trong hàng ngũ đội quân Lê Dương”.  Vì sự tham gia Lê Dương của họ “đi ngược lại tiền đồ và danh dự của dân tộc ta”, ông kêu gọi hãy đứng sang “phe cách mạng Việt Nam hiện nay đã có nhiều người lính Lê Dương cũ người Đức tham gia”.  Honecker hứa là người nào trở về CHDCĐ sẽ được ân xá và tạo công ăn việc làm [3].  …

… Cũng trong thời kì đó, trong những vùng Việt Minh kiểm soát, xì xào tin đồn là đã xảy ra (và rất có thể đã có xảy ra) một cuộc nổi loạn của lính Âu châu đào ngũ. Đó là những người đã nghe theo tiếng gọi của Erwin Borscher, tức Chiến Sỹ, tổng biên tập những tờ báo tuyên truyền địch vận.

 Ngày 6.8.1950, cũng ở Việt Bắc, một người Đức khác, Rudy Schröder (mà người Việt Nam quen biết dưới cái tên Lê Đức Nhân), được ông bạn Trần Văn Giàu cho biết “một tỉ số đáng kể” hàng binh Âu-Phi “sắp được đưa về nước”. Schröder không tài nào hỏi thêm được chi tiết cụ thể hơn và cảm thấy chung quanh mình là sự im lặng và nghi ngờ bao trùm [8].  Đáng chú ý là Trần Văn Giàu dùng chữ tù binh chứ không dùng chữ hàng binh. Sự lỡ lời này cho thấy thâm tâm người Việt Nam coi những đồng minh châu Âu của họ ra sao.

 Họ là ai? Thực ra, phải phân biệt hai loại. Thứ nhất là những người sinh ra khoảng năm 1910, sau tháng giêng 1933, đã phải bỏ nước Đức hay nước Áo sang Pháp tị nạn phát xít, đến tháng 9 năm 1939, khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Pháp đưa họ vào những trại tập trung, sau đó họ đăng kí vào các đơn vị Lê Dương. Họ được đưa sang Đông Dương và cuối cùng, họ đã gia nhập kháng chiến chống thực dân.  Số người này không đông, khoảng một chục, nhưng họ là những người có lí tưởng chính trị, có văn hóa và có học. Những người lính Lê Dương “ngoài khuôn mẫu”.

 Loại thứ nhì, cũng là đa số, năm 1945 ở lứa tuổi 17-25, là những thanh niên mất phương hướng sau khi chế độ Đức quốc xã sụp đổ. Vô học, vô gia cư nghề nghiệp, tứ cố vô thân, họ tìm thấy ở đội quân Lê Dương cơ hội giải thoát khỏi cảnh ngộ khốn cùng, một nơi chốn nương tựa.  Họ đào ngũ, chạy sang theo Việt Minh vì nhiều lí do khác nhau, trong đó chính trị là lí do ít quan trọng hơn cả.  Từ 1946 đến 1954, tổng cộng có 1325 lính Lê Dương đã bỏ ngũ theo Việt Minh, trong đó 673 người bỏ ngũ trong thời gian 1946-48. [9]

Như đã nói trên, chính phủ Việt Nam đã cho binh lính Đức trở về CHDCĐ. Trong số này, có cả tù binh lẫn “hàng binh”.[10]  Từ tháng ba 1951 đến cuối năm 1955, tổng cộng có 761 người, đi làm 7 đợt, từ Việt Bắc, qua Bắc Kinh và Moskva, về đến Berlin.  Mặt khác, Erich Frey, bí danh Nguyễn Dân, và Georges Walter, bí danh Hồ Chí Thọ, về tới Áo vào tháng năm 1951; cũng năm đó, Rudy Schröder và Walter Ullrich tức Hồ Chí Long về tới Berlin vào tháng 11.  Riêng Erwin Borchers còn ở lại Hà Nội đến năm 1965. Dưới đây chủ yếu tôi sẽ nói về Schröder, Frey, và Borchers là ba người đã sống với Việt Minh từ 1945 đến đầu thập niên 1950, để tìm hiểu những động cơ nào đã dẫn họ tới quyết định tham gia kháng chiến Việt Nam, cảnh ngộ của họ lúc ở Việt Nam cũng như khi trở về châu Âu giữa thời kì chiến tranh lạnh.

 … Schröder sinh năm 1911 tại Köln (Cologne), mang nặng dấu ấn của quá khứ văn minh La Mã của thành phố này – tính tình ông bay bướm, hưởng lạc, khiếu thẩm mĩ tinh tế, đồng thời say mê tìm hiểu, truy hỏi, khám phá những mâu thuẫn của cuộc sống. Hai mặt đối ngẫu ấy có thể dẫn tới bệnh trầm cảm và bất mãn sâu sắc nếu đương sự  không được trọng thị trong xã hội. Trong bản Lý lịch Đảng viên (có lẽ viết vào tháng ba 1950), Schröder khai thành phần xuất thân của mình là Tư sản.[18]  Thời gian này, ông dùng bí danh Lê Đức Nhân, cũng có người chỉ biết ông dưới cái tên Đức là Kerkhof(f). Thời sinh viên, ông học xã hội học, tiếng Pháp và văn học Đức, tham gia Phái cộng sản sinh viên …

  … Đến đây, tôi muốn dành đôi dòng để nêu câu hỏi này: Vì sao Schröder và Borchers đã sẵn sàng hợp tác với cuộc kháng chiến của Việt Minh và đã tham gia Việt Minh với “lương tâm yên ổn và hăng hái tin tưởng” [32] ? …

 Hinh 1Hình 1
 Từ trái qua phải:
Ngồi: Phạm Văn Đồng, Erwin Borchers / Chiến Sỹ, Ernst Frey / Nguyễn Dân, Võ Nguyên Giáp, Đặng Bích Hà (vợ tướng Giáp) ; Đứng : Lưu Văn Lợi, X, X, Rudy Schröder / Lê Đức Nhân (Bộ ảnh sưu tầm của H. Schütte)

 …tiến tới đoàn kết cộng hoà & chống thực dân

 Sau ngày 9 tháng ba, một vài người Pháp quy phục Việt Minh vì muốn trốn tránh sự đàn áp của quân Nhật. Borchers, Frey và Schröder cùng mấy ngàn binh sĩ bị Nhật bắt làm tù binh, lúc đầu bị giam trong thành Hà Nội, sau đó bị đưa lên trại “tận diệt” gần Hoà Bình.[41]   Họ bị lao đao vì bệnh kiết lị và thương hàn. Nhật Bản đầu hàng ngày 15 tháng tám, Việt Minh tiến hành Cách mạng tháng Tám như một dòng thác lũ dân tộc chủ nghĩa. Schröder ghi : “Người an-nam-mít đã trở thành người Việt Nam”.[42]  Ngày 2 tháng 9, Hồ chủ tịch tuyên bố độc lập với mục đích xây dựng một quốc gia đoàn kết thành một khối thống nhất và thuần nhất.

 … Frey thu xếp với Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp để ông và hai bạn Walter Ullrich và Georges Wächter chuyển sang hàng ngũ Việt Nam, vì như lời Borchers, “nơi đây, triết học sắp trở thành thực tiễn, và tôi có cảm tưởng họ sẽ cần tới chúng ta”.[44]  Cuộc đào ngũ của họ được nguỵ trang thành một công tác gián điệp cho chính quyền Pháp (như Schröder viết) hay một công tác do Caput-Sainteny giao cho nhằm thuyết phục những người lãnh đạo Việt Minh chịu thương lượng với Uỷ viên Cộng hoà Pháp ở Bắc Kì.  Nhóm đồng chí đi ra khỏi Thành cổ Hà Nội trong một chiêc xe Buick cũ. Tôi mường tượng công cuộc mới này quyến rũ và kích động họ tới mức nào. Họ vừa sống sót sau một cuộc đại chiến, họ còn trẻ tuổi, và chắc mẩm đã tìm ra chính nghĩa…

…Frey đã viết như vậy, còn Schröder thì khẳng định: “cả ba chúng tôi đều coi Việt Nam là tưong lai của chúng tôi, và thật sự đã là đất nước của chúng tôi rồi”.[50]

 hinh 2Hình 2
Từ trái sang phải:
Dương Bạch Mai, Ernst Frey / Nguyễn Dân, Trường Chinh, X,
Georges Wächter / Hồ Chí Thọ, Rudy Schröder / Lê Đức Nhân
(Bộ ảnh sưu tầm của H. Schütte)

 …Đại tướng Võ Nguyên Giáp nguyên là giáo sư sử học. Nghệ thuật quân sự, ông phải học từ A tới Z; tôi ngờ rằng trong quá trình tập sự ấy của tướng Giáp, có phần đóng góp của người bạn ông là Nguyễn Dân. Ernst Frey tham gia Việt Minh, được cử làm cố vấn quân sự cho tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (các bạn của Frey, trong các thư từ trao đổi, thường gọi ông là Gottöberst, tức là người ở bên cạnh Thượng đế) và cho một nhân vật huyền thoại là tướng Nguyễn Sơn, “đối thủ” của Giáp.

… một chứng nhân của thời kì này, hoạ sĩ kiêm nhà văn Trần Duy, cho tôi biết những người lính lê dương cũ này đã trở thành mối hoạ cho dân chúng địa phương, cưỡng hiếp đàn bà con gái, giết cả trâu cày của nông dân.[54]  Schröder tin chắc là đã xảy ra một cuộc bạo loạn và âm mưu quay về phía Pháp, nên đã thành lập toà án quân sự và cho xử tử hình sáu người mặc dầu trong bản khai lí lịch tháng mười một 1951, ông thừa nhận rằng “quyết định này vượt quá quyền hạn sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam của tôi”.[55]  Ông bị Đảng phê bình. Và đó cũng là nguyên nhân tại sao – hay cũng chỉ là cái cớ – ông không còn được tướng Giáp sủng đãi nữa.

 Các cuốn nhật kí viết ở Việt Bắc của Schröder là nguồn tư liệu quý giá giúp ta hiểu nhiều điều, đặc biệt là mối quan hệ giữa hàng binh người Âu và các đồng chí Việt Nam của họ. Schröder “cảm thấy bị bỏ rơi như một người làm công bị sa thải vậy”. …Năm 1953, ông kí hợp đồng làm việt cho cơ quan mật vụ Stasi.[56]

…. Trong cuộc gặp ở Ban chấp hành Trung ương ngày 15 tháng tám 1950, anh Thận (tức là Trường Chinh) đánh giá họ là “thiếu bồi dưỡng về mặt tư tưởng, và có biểu hiện… chủ nghĩa sô-vanh”.  Schröder coi câu nói đó là một lời Hinauswurf, cho “về chơi xơi nước”.[58]  …

… Trong nhật kí tháng hai 1951, Schröder chua chát ghi lại: “Giả sử bây giờ ông già râu phán một câu: ‘Cái giẻ trắng mà các chú thấy kia màu đen’, mọi người sẽ tin là thế; cán bộ sẽ coi đó là kinh thánh. Chuyện ấy đã tững xảy ra đâu đó rồi. Goebbels còn xạo gấp mấy, nhưng người dân Đức có lẽ vì thích tự thôi miên tập thể, đã tin lời Goebbels. Ở đây, người ta còn đi xa hơn nữa: họ tự thuyết phục và xác quyết là từ trước đến nay họ vẫn tin rằng cái giẻ trắng kia màu đen. Điều đó, người Đức làm không nổi. Bởi vì họ ý thức được rằng trước thời quốc xã, mọi sự không như H(itler) và G(oebbel nói”. Tự do mà họ ước mong hiện nguyên hình độc tài…[61]  … Và đời họ thêm một lần tàn tạ.

Heinz Schütte
Paris, 24 décembre 2003

138 rue La Fayette
75010 Paris
tél/fax: 01.42.09.44.75
e-mail: heinzschutte@hotmail.com

(Nguyễn Ngọc Giao biên dịch từ nguyên tác tiếng Pháp)

…Chú thích của Thời Đại Mới: Độc giả có thể xem thêm bài Cha tôi, giữa những quê hương của Claudia Việt-Đức Borchers (http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=1529&rb=0401&von=)

1. Ho rat nhieu 2. Chien si VN moi 3. Vo Hoc - Tu co vo than Hinh 1 hinh 2 nguoi Nhat (1945-1954)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s