Bài 6. Đỗ Mười – Sống không vợ không con!

Bài 5. Lê Đức Thọ – cũng vợ đầu và con – đã mất!

(Xem quyển 8 – Cai ngục Lê Đức Thọ.)

                “Với người vợ trước, quê Hải Phòng, ông Lê Đức Thọ có một người con trai tên là Phan Đình Dũng, đã mất.”

Bài 6. Đỗ Mười – Sống không vợ không con!

A. Bằng chứng: “Ông Đỗ Mười sống gần như độc thân trong ngôi nhà Tây phía sau Phủ Chủ tịch, vốn là nơi ở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Người gần gũi ông nhất suốt gần ba thập niên tại ngôi nhà này là bà Thuận, người nấu cơm của ông. ” (Văn bản 1)

B. Tài liệu nghiên cứu:

(Văn bản 1)

BÊN THẮNG CUỘC : QUYỀN BÍNH -CHƯƠNG 18

Phần IV: Tam Nhân

Chương 18: TAM NHÂN PHÂN QUYỀN

  1. 2013

http://chauxuannguyen.org/2013/03/03/ben-thang-cuoc-quyen-binh-chuong-18/

…Tiểu sử chính thức của ông Đỗ Mười ghi: “Xuất thân từ một gia đình nông dân, bản thân là thợ sơn”. …

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917, tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chú ruột ông là Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Lao động trong Chính phủ Phạm Văn Đồng. Thuở hàn vi, ông có hai người bạn thân là Hoàng Hữu Nhân và Phạm Viết Đào. Cả hai đều sắc sảo, ông Nhân từng có những ý định đổi mới táo bạo từ khi còn là bí thư Thành uỷ Hải Phòng, sau Đại hội VI làm trưởng Ban Công nghiệp Trung ương nhưng phẫn uất, có lúc phải nhảy lầu, vì bị Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh o ép. Ông Đào thì ngang ngạnh, vui vẻ hưu trí với chức thứ trưởng Bộ Ngoại thương, thậm chí còn “đàn đúm” với Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiên Giang, những người từng ủng hộ Trần Xuân Bách. Ông Đào thường gọi những người được Đỗ Mười trọng dụng như Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình… là lũ “chim ri, chim sẻ”.

Ông Đỗ Mười sống gần như độc thân trong ngôi nhà Tây phía sau Phủ Chủ tịch, vốn là nơi ở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Người gần gũi ông nhất suốt gần ba thập niên tại ngôi nhà này là bà Thuận, người nấu cơm của ông. Năm 1997, ông Đỗ Mười chuyển về sống trong biệt thự số 11 Phạm Đình Hổ. Bà Thuận, lúc này đã có một người con, không về ở cùng. Trong phòng riêng của mình, ông Đỗ Mười cho treo bức ảnh chụp ông và Fidel Castro, cho đặt một chậu địa lan bằng nhựa… Bàn làm việc của ông đầy những tài liệu, bài báo chi chít những nét gạch đỏ. Một chiếc phản cá nhân trải nệm bông gòn, bọc vải hoa màu đỏ sẫm, được kê gần đó. Ông thường đặt lưng trên chiếc giường này sau những giờ xem tài liệu.

So với Lê Đức Anh, lý lịch tham gia cách mạng của ông Đỗ Mười rõ ràng hơn, và so với ông Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười là bậc tiền bối cả về tuổi đời và tuổi Đảng(415). …

(Văn bản 2)

http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%97_M%C6%B0%E1%BB%9Di

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 – sinh tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình trung nông.Lớn lên đi làm thợ sơn tại Hải phòng) nguyên là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 6 năm 1991 đến tháng 12 năm 1997….

Tất cả thông tin gì về tiểu sử của Gia đình chỉ có như sau:

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/274/289/289/135069/Default.aspx

Năm 1936, tham gia Phong trào Mặt trận bình dân.

Năm 1939, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1941, bị địch bắt và kết án 10 năm tù giam tại Hoả Lò (Hà Nội)

Tháng 3-1945, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia Tỉnh uỷ Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông.

Từ năm 1946 đến 1954, giữ các chức: Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam; Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Định; Khu uỷ viên khu III kiêm Bí thư tỉnh uỷ Ninh Bình; Phó Bí thư Liên khuy uỷ Khu III kiêm Phó chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III; …Tháng 12-1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng.

…Tháng 6-1988, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Tháng 6-1991, tại Đại hội Đảng lần thứ VII được bầu lại vào BCH Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng…

                Tham khảo thêm:

Về Nguyễn Thọ Chân – Người thân cũng chết!

                Lúc thì bảo là em trai: “…Nguyễn Thọ Chân (em trai cùa bà Tam)…

                Đỗ Mười: “Chú ruột ông là Nguyễn Thọ Chân”

                Nhưng bà Nguyễn Thị Tam lại kể: “Gia đình tôi gồm bố tôi là Nguyễn Duy Lãm cùng bốn cô con gái là Nhất, Nhì, Tam(1) và Tứ đều được tham gia Hội Tương tế…”

                Như vậy thì Nguyễn Duy Lãm là bố đẻ Nguyễn Thọ Chân và là ông nội Đỗ Mười!

                Điều đó là vô lý!

  1. Bà Tam kể chuyện tù như… Bịa!
  1. Tài liệu nghiên cứu:

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8D_Ch%C3%A2n

Nguyễn Thọ Chân (1922 – ) là một chính khách và Nhà ngoại giao Việt Nam. Ông từng là Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Liên Xô (1967–1971) và kiêm Đại sứ tại Thụy Điển (1969–1971), cựu Bộ trưởng Bộ Lao động Việt Nam; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III.

Sự nghiệp chính trị

Nguyễn Thọ Chân sinh ngày 20 tháng 8 năm 1922, quê ở làng Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, cùng quê với Tổng bí thư Đỗ Mười….

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM QUÊ TÔI

Tưởng niệm hương hồn cụ Phạm Tuấn Phách và cụ Nguyễn thị Tam

http://pmkhoi38.vnweblogs.com/mobile.php?op=ViewArticle&blogId=4845&articleId=86229

…17-08-2008

Phạm Minh Khôi

(1)Ngày 17/8/1945, khởi nghĩa giành chính quyền huyện Thanh Trì

  (2)Huyện lỵ Thanh Trì, đóng ở làng Đông Phù (Đông Mỹ, TT HN)

  (3) Cụ Nguyễn Thị Tam ,lão thành CM, nguyên Trưởng ty Y tế HàĐông

  (4) Tên của tri huyện Thanh Trì 1945

  (5)Cụ Phạm Tuấn Phách, LTCM, Chủ tịch lâm thời đầu tiên ,nguyên   Trưởng ty Thuỷ Lợi tỉnh Hà Đông…

Nguyễn Thanh Cao | 17/08/2008

pmkhoi38 | 17/08/2008 17:13

Cảm ơn anh đã vào thăm nhà.
Bài viết CMT8 quê tôi(cũng là làng quê của nguyên Thủ tướng-Tổng bí thư Đỗ Mười(tên cúng cơm Nguyễn Duy Cống),cố Chủ nhiệm UBKH&KT Nhà nước Lê Khắc, nguyên Bộ trưởng Lao động Nguyễn Thọ Chân (em trai cùa bà Tam),GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Giáo dục,Phó Ban Khoa giáo TƯ…Cụ Tam vừa mất cách đây vài ngày,hưởng thọ 92 tuổi, cụ Đỗ Mười(hàng cháu) có về đưa tang.Riêng cụ ông-bà Nguyễn Thọ Chân, đang ở TPHCM, đau yếu không ra thọ tang được…
Mấy vị LTCM tham gia cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền huyện Thanh trì cứ đần dần ra đi. Cụ PT.Phách (anh con già của tôi) ra đi ở tuổi 83 năm 2006, đại tá CCB Lê Hoàn (Phạm Văn Long) ,anh con bác họ bên mẹ tôi, mất tháng 5/2008 ở tuổi 85… Chi bộ Đảng CSĐD ở quê tôi có từ tháng 5/1930, với 7 ĐV đầu tiên nay chẳng còn ai nữa. Chính vì những sự kiện ấy, đêm qua tôi viết bài thơ này, cũng chỉ nêu được một vài nét về khí thế của quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của MT Việt Minh (Đảng chưa công khai)đã chớp thời cơ đứng lên làm cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền huyện rất nhanh gọn, không có đổ máu (huyện lỵ Thanh Trì đóng ngay ở xóm huyện làng tôi(xóm Đại Đồng)
Chúc anh và gia đình luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc.
PMK

MƯỜI NĂM TÙ CẤM CỐ Ở HỎA LÒ

http://thanglonghanoi.gov.vn/channel/82/2010/09/7135/#ZKfglLJU62NC

Làng Đông Phù thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nộ) có phong trào cách mạng khá mạnh: năm 1929  đã có tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, năm 1930  đã có chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Hà Đông.

Năm 1936, ông Phạm Gia được Pháp phóng thích từ Côn Đảo trở về làng, ba thanh niên học sinh trường Bưởi là Nguyễn Thọ Chân, Nguyễn Duy Nhạc và Phạm Thụy Hưởng hoạt động cách mạng bị lộ cũng trở về làng và cùng nhau thành lập chi bộ cộng sản vào năm 1938. Chi bộ phát triển thêm Nguyễn Duy Cống tức Đỗ Mười, lại tổ chức các hội quần chúng. Gia đình tôi gồm bố tôi là Nguyễn Duy Lãm cùng bốn cô con gái là Nhất, Nhì, Tam(1) và Tứ đều được tham gia Hội Tương tế, Hội Phụ nữ phản đế, Phụ nữ giải phóng… Nhà chúng tôi trở thành cơ sở nuôi giấu cán bộ từ Tỉnh ủy, Xứ ủy đến Trung ương. Và nhà in Xứ ủy Bắc kỳ cũng đóng tại nhà tôi. Hai Xứ ủy viên Trần Đăng Ninh và Phan Trọng Tuệ cử tôi làm giao thông cho Xứ ủy.

Năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời, tôi được cử làm ủy viên ủy ban Mặt trận của huyện Thanh Trì. Đầu năm 1942, Pháp khủng bố trắng phong trào cách mạng nước nhà, các cán bộ bị địch lùng bắt ở nhiều cấp, nhiều nơi đã trốn về Đông Phù. Đồng chí Nguyễn Duy Cống và tôi chịu trách nhiệm bố trí bảo vệ các cán bộ thoát ly của Đảng.

Chị Tạ Thị Câu, cán bộ Xứ ủy, có trách nhiệm chắp nối và đưa số cán bộ đang bị truy lùng, đã hẹn ngày 16 âm lịch 1942 sẽ gặp tôi nhưng ba ngày sau cũng không thấy về. Tôi bàn với đồng chí Nguyễn Duy Cống, Nguyễn Chương, Lê Thu Trà, Nguyễn Thị Hoa Ban rằng đây là tin không hay, cần ứng phó ngay: phải chuyển các cán bộ mà chị Câu biết đi nơi khác, tôi và đồng chí Cống ở lại nhà hộ sinh của huyện. Quả nhiên đúng 12 giờ đêm ngày 1/6/1942 mật thám về bắt tôi và đồng chí Cống và tra tấn ngay tại nhà hộ sinh để tra hỏi về những cán bộ khác đang trốn ở đâu. Chúng tôi không khai. Một giờ sáng hôm đó, mật thám đưa anh Nguyễn Chương đến và đe: “Chúng mày không khai nhưng chúng tao đã bắt được Nguyễn Chương – Bí thư tỉnh Hà Đông”. Sau đó chúng bắt tiếp đồng chí phạm Gia, Nguyễn Thị Tứ và Phạm Hổ. Năm chúng tôi bị mật thám đưa về trụ sở Liêm phóng Trung ương tra khảo: treo hai ngón tay cái để người lơ lửng chân không chạm đất.

Suốt tuần lễ ngày nào tôi cũng bị tra tấn, có bữa suốt ba tiếng đồng hồ. Chúng quay điện, tôi ngất đi, … Đồng chí Diệp là cán bộ phụ trách cơ quan ấn loát của Xứ ủy, bị bắt trước tôi, đã qua thời kỳ tra tấn, lấy cung, được ra khu tập trung, đi lại những giờ ra chơi, lén đưa suất cơm rời và rau đậu của đồng chí cho tôi ăn.

Trước những đòn tra tấn, tôi một mực không khai báo, vì tôi luôn nhớ lời dặn của các đồng chí Trần Đăng Ninh, Phan Trọng Tuệ, Hoàng Quốc Việt khi các đồng chí đó ở nhà tôi: Hoạt động cách mạng có thể bị bắt, bị tra lấn, tù tội, chết chóc, nhưng là đảng viên phải kiên cường bất khuất trước uy vũ, tra tấn của kẻ thù, không khai báo, khai báo là phản lại Đảng, nếu có ai khai báo bắt mình thì hãy chửi vào mặt nó.

Bảy ngày bị tra tấn thấy tôi không khai báo, địch đưa chị Câu lên và nói: “Chị hãy nói cho con Tam biết rằng chị đã khai những gì!”. Chị nói: “Tôi đã khai rằng chị làm giao thông cho Xứ ủy. Nhớ lời các đồng chí Xứ ủy đã ở nhà tôi, tôi liền chửi vào mặt nó: “Tao làm ở nhà hộ sinh, mày đưa người vào đẻ, chứ tao với mày có quen gì nhau. Thế mà cũng đòi làm cộng sản. Không chịu được đòn tra tấn, đã đổ vấy cho người ta, tao bị oan cũng vì mày”.

Sau cuộc đối chất đó, tôi lại bị những trận tra tấn ác liệt. Địch cứ hỏi: “Mày đi làm giao thông ở những đâu? Ở nhà ai?”. Tôi nghĩ chị Câu đã khai như vậy, có chối địch cũng không tin, đành nhận làm giao thông nhưng không cho địch biết địa chỉ. Tôi khai cầm thư đi không đến nhà ai mà chỉ để thư ở các cây dọc đường là chỗ hẹn, còn ai lấy thì tôi không biết.

…Nhà nghèo không được cắp sách đến trường, một tháng nằm xà lim, hai tháng chờ ngày ra tòa, tôi được ở chung với các chị Trương Thị Mỹ, chị Hoa Ban, chị Nguyễn Thị Quang Thái, chị Sửu v.v… được các anh Lâm, Tẩm là sinh viên bách nghệ dạy chữ a, b, c đến khi tôi biết đọc biết viết.

Hàng ngày gần một trăm đồng chí sau thời gian bị tra tấn khai cung, nay được ra khỏi xà lim và ở tập trung, đến giờ ra chơi ở sân Sở Mật thám đã tranh luận với nhau, với số Trôtkít về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc (thực chất bọn Trôlkít là lay sai của địch).

Ra toà

Tháng 8 năm 1942 địch đưa tôi, cô em gái tôi là Nguyễn Thị Tứ và đồng chí Nguyễn Duy Cống ra tòa Nam án Hà Đông để xét xử Quan tòa gọi Nguyễn Thị Tứ ra thẩm vấn trước tiên: “Con gái một chữ không biết mà cũng đòi làm cộng sản?”. Nguyễn Thị Tứ trả lời: “Tôi là đàn bà không biết chữ mà không chịu làm nô lệ, còn các ông biết chữ mà lại ôm đít Tây”.

Hôm đó có nhiều dân chúng ở Vạn Phúc, Cầu Đơ ra dự phiên tòa. Thế là địch hoãn xét xử. Một tuần lễ sau địch đưa chúng tôi ra xử kín, không cho dân chúng dự.

Tuyên án

Tôi không khai, nhưng toà căn cứ lời khai của chị Câu đã tuyên án tôi 10 năm tù, đồng chí Cống 10 năm lù và Nguyễn Thị Tứ 5 năm tù. Chúng tôi đã chống án. Địch đưa chúng tôi giam tại Hỏa Lò và đến phiên tòa thượng thẩm chúng vẫn y án 10 năm tù cấm cố.

Trong Hỏa Lò

Tôi bị giam tại Hỏa Lò được chị Nguyễn Thị Quang Thái (em chị Nguyễn Thị Minh Khai và là vợ đồng chí Võ Nguyên Giáp) cùng bị bắt một ngày với tôi, bị kết án 16 năm tù giam, chị Thái có bằng tú tài, đã dạy văn hóa cho chúng tôi.

…Chị Hoàng Thị Ái đóng vai thằng ngốc, còn tôi đóng vai cô hoa khôi nghèo kia.

Con đầm coi ngục ghé xem cười như nắc nẻ, còn chị Ái đóng vai chàng ngốc khá đạt với diễn xuất khá cao.

Tổ chức đấu tranh

Thời gian tôi ở nhà tù Hà Đông đã hai lần phải tuyệt thực đòi cải thiện bữa ăn vì chúng cho ăn toàn rau muống già và dai như chão nên chúng tôi đấu tranh đòi thay bằng rau non; cá mắm mốc mục, chúng tôi đòi đổi cá tươi v.v… Địch chỉ nhượng bộ là cho ăn rau non.

Còn tại Hỏa Lò chúng tôi nhịn ăn 4 ngày đòi thay cá mục bằng muối vừng, thay đậu phụ bằng đậu rán. Địch đã phải nhượng bộ.

Khi đồng chí Hoàng Văn Thụ bị đưa đi xử bắn, chúng tôi nhịn ăn một ngày để tang đồng chí lãnh đạo thương mến và chúng tôi đã hô khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc tử hình đồng chí Thụ”.

Địch hạn chế nước, từ nước đánh răng, rửa mặt cũng chưa đủ chưa nói đến nước để tắm giặt. Chúng tôi nhịn ăn đòi cung cấp đủ nước sinh hoạt.

Chúng tôi cũng đấu tranh buộc địch không được đánh chị em chậm xếp hàng điểm danh./.

Nguyễn Thị Tam

(1) Đồng chí Nguyễn Thị Tam tức Nguyễn Thị Hoàn, sinh năm 1917 tại Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội. Đồng chí tham gia cách mạng năm 1938, năm 1941  là ủy viên Việt Minh huyện Thanh Trì. Năm 1942, bị địch bắt và giam tại nhà tù Hỏa Lò. Trước khi nghỉ hưu, đồng chí công tác tại Trạm y tế tỉnh Hà Tây.

                LB: 1.Chắc sau này Đỗ Mười (chức trọng quyền cao) bảo khai như thế thì được xét là Lão Thành CM, vừa oai lại được “chế độ”! ai mà không khai!

  1. Không phải chị gái của Nguyễn Thọ Chân!
  2. “Trước khi nghỉ hưu, đồng chí công tác tại Trạm y tế tỉnh Hà Tây.” chứ không phải: “nguyên Trưởng ty Y tế HàĐông”!
  3. Tạ Thị Câu là “Chị Gái” tướng Trần Độ đấy! Chắc chắn bài này viết sau khi Trần Độ đã thất thế! (Xem GD Trần Độ)

                Chuyện của một nữ lão thành cách mạng

Thứ Hai 7:55 19/09/2005

http://hanoimoi.com.vn/Ban-in/Chinh-tri/59871/chuy7879;n-c7911;a-m7897;t-n7919;-lao-thanh-cach-m7841;ng

Trong buổi Giao lưu các nhân chứng tiêu biểu trong di tích nhà tù Hỏa Lò và một số nhà tù khác nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Thị Hoàn, tức Tam (cô của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười). Vóc người  nhỏ bé, mái tóc muối tiêu, hàm răng còn đều đặn… nhanh nhẹn, hoạt bát, không ai ngỡ là cụ đã xấp xỉ tuổi 90. …

Cụ kể: Đau khổ, bi đát nhất trong cuộc đời hoạt động của tôi là đêm 1-6-1942, 6 người thân và họ hàng làm cách mạng sa vào tay giặc, trong đó có dì Tứ (em ruột tôi) và đồng chí Đỗ Mười cháu tôi. Cụ bảo: Khi đi, phải hẹn đồng đội ngày về, nếu không về là có chuyện chẳng lành. Hôm đó bà C-xứ ủy Bắc Kỳ đi công tác, hẹn đến 26-5 năm ấy nếu không thì 1-6 sẽ về, chờ mãi, chờ mãi không thấy, linh tính báo… tôi nói với các đồng chí, trong đó có cả anh Đỗ Mười, sau đó chúng tôi quyết định chuyển các đồng chí ở cơ sở mà bà C biết sang địa điểm khác. Việc chuyển đã xong, không may hôm đó lại mưa rất to, chúng tôi (Tôi – Hoàn và anh Đỗ Mười) phải ngủ lại nhà hộ sinh (nơi tôi làm việc), đồng chí Nguyễn Chương (Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông cũ)  ngủ lại nhà bà Đồ Duy. Bỗng nhiên 12h đêm, bọn mật thám về bắt chúng tôi, hai cô cháu tôi bị đánh và tra tấn tại chỗ, chúng tôi nhất mực không khai. Sau đó chúng dẫn thêm đồng chí Nguyễn Chương làm bằng chứng sống rồi đưa chúng tôi về sở mật thám trung ương (chỗ nay là Công an TP HN). Sau những lần hỏi cung, chúng tôi không khai là những trận tra tấn cực kỳ dã man như “đi tàu bay”, “tàu ngầm”, bó giò, ôm bó củi to rồi bắt nhảy, nếu không nhảy được thì chúng đánh. … Chúng buộc dây vào đầu ngón tay cái, treo lơ lửng chân không chạm đất, chúng cặp dây điện vào đầu vú, vào hai tai rồi quay điện, có những lần tôi bị treo lơ lửng như thế 3 tiếng đồng hồ và trong suốt một tuần 7 ngày liền, đó là “đi tàu bay”. Có những lần chúng dìm chúng tôi vào nước, rồi đem ra, giẫm vào bụng cho nước từ miệng, từ hậu môn phọt ra, chúng gọi là máy phun nước, đó là “đi tàu ngầm”… kể không sao hết được tội ác dã man của địch. Chúng đưa chúng tôi ra xét xử công khai, khi ra tòa, tòa gọi dì Tứ thẩm vấn trước, chúng nói: “Con gái không biết chữ mà cũng đòi đánh Tây”, dì nói: Tôi là đàn bà không biết chữ, nhưng căm thù giặc cướp nước, còn các ông có chữ lại đi ôm đít Tây để hại dân tộc mình”. Thế là địch hoãn ngay phiên tòa rồi tuần sau xử kín, tôi lĩnh án 10 năm tù cầm cố tại Hỏa Lò. Lúc bị bắt con gái đầu lòng của tôi mới gần 3 tuổi. Tôi và dì Tứ cùng bị giam một nơi, dì bị chết trong tù. Sau vụ Nhật đảo chính Pháp, tôi được ra tù, lại trở về  hoạt động cách mạng.

9 năm kháng chiến chống Pháp, cụ Hoàn là tỉnh ủy viên 4 tỉnh Phúc Yên, Bắc Cạn, Vĩnh Phúc, Hà Tây. Được đồng chí Trần Đăng Ninh tin tưởng giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng …

HNM

ANHTHU

TRƯƠNG THỊ MỸ

Năm sinh: 1915

Quê quán: Thành phố Hải Phòng

ĐBQH khóa I

Nơi ứng cử: Tỉnh Hà Đông

Thường vụ Tỉnh ủy Hà Đông

                II.3 Trần Độ k phải Tạ Ngọc Phách!

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_%C4%90%E1%BB%99

Trần Độ (23 tháng 9, 1923 – 9 tháng 8, 2002) là nhà quân sự và chính trị Việt Nam, Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tiểu sử

Ông tên thật là Tạ Ngọc Phách, sinh trưởng trong một gia đình công chức ở xã Tây Giang huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Bố ông là thư ký ở toà thông sứ tại Hà Nội, thường gọi là quan phán.

Năm 1939, ông tham gia làm báo Người Mới cùng với Nguyễn Thường Khanh, tức Trần Mai Ninh ở Hà Nội. Trong cuộc ruồng bố năm đó, ông bị Pháp bắt giữ nhưng không có chứng cứ để buộc tội nên ông lại được thả.

Trần Độ gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940. Cuối năm 1941, ông lại bị bắt[1]. Tòa án tại Thái Bình xử án 15 năm tù giam. Cuối năm 1941, từ Hoả Lò (Hà Nội), Trần Độ bị đầy lên Sơn La. Tại đây, ở tù cùng thời gian này có Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ… Năm 1943, trên đường giải từ Sơn La ra Côn Đảo, Trần Độ đã trốn thoát để ra ngoài tiếp tục hoạt đông cách mạng. Ông lãnh đạo giành chính quyền ở Đông Anh, Hà Nội rồi bước vào cuộc đời binh nghiệp….

Thứ sáu, ngày 27 tháng tư năm 2012

Tìm mộ Chị tôi

http://trandotacpham.blogspot.com/2012/04/tim-mo-chi-toi.html

Tôi có hai bà chị : Chị cả tên là Tạ Thị Thi, sinh năm 1916 lấy chồng sớm và buôn bán làm ăn. Chị thứ hai là chị giáp tôi tên là Tạ Thị Câu, sinh năm 1919, tham gia hoạt động cách mạng từ 1936.

Khi có phong trào dân chủ, năm 1939-1940 là Tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Thái Bình. Tôi sinh năm 1923, từ năm 1938, được chị Câu tôi dìu dắt và tham gia hoạt động cách mạng. Chị Câu tôi giới thiệu tôi vào Ðảng và tôi được kết nạp năm 1940. Tôi còn có một cô em gái sinh năm 1930 tên là Tạ Thị Xuyến. Năm 1940, ở làng tôi có cuộc mít tinh bí mật ở cánh đồng Ðông Lang. Mit tinh bị lộ, tuần phiên và lính phủ (huyện) xông vào đánh và bắt mọi người. Thế là phong trào bị khủng bố. Chị tôi cùng tôi thoát ly gia đình cùng đi làm cách mạng chuyên nghiệp.

Sau khi thoát ly, chị tôi rời xa địa phương và hay xuất hiện ở vùng Bắc Ninh và Hà Ðông. Tôi đoán là chị tôi làm việc cho xứ uỷ Bắc Kỳ và không biết là làm gì ? Khi tôi đã bị bắt, bị kết án 15 năm tù (1941) và bị đầy đi Sơn La (1942) thì tôi được biết chị Câu tôi ở Hoả Lò, hai chị em thường xuyên viết thư thăm hỏi nhau và kể chuyện. Thỉnh thoảng chị tôi còn gửi quà cho tôi. Chị tôi xé áo của mình ra khâu những chiếc khăn tay gửi cho tôi. Chị tôi ở Hoả Lò, ở tù chung với nhiều người, trong đó có chị Nguyễn Thị Minh Thái là vợ trước anh Võ Nguyên Giáp, chị Trương Thị Mỹ sau là Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam, và chị Nguyễn Thị Hằng sau là vợ tôi. Chị Câu tôi bị bắt khoảng năm 1941, tôi không nhớ rõ ngày tháng, chỉ nhớ rằng những năm tôi ở Sơn La (1942-1943 đến đầu năm 1944) chị em tôi vẫn liên lạc với nhau bằng thư từ.

Thế rồi đầu năm 1944 trên đường bị giải từ Sơn La về Hoả Lò để bị đầy đi Côn Ðảo, vào sau Tết đầu năm 1944, thì tôi được Chi bộ nhà tù tổ chức cho trốn thoát để tiếp tục hoạt động cách mạng, tôi không được gặp chị tôi ở Hoả Lò như đã hẹn.

* * *

Sau đó chị tôi ốm chết ở Hoả Lò vào ngày 29/09/1944 (ngày này được ghi trong giấy báo tử của chính quyền Pháp gửi cho mẹ tôi, sau khi chị tôi chết, và người làm gia phả họ tôi ghi nhận như vậy)

Sau Cách mạng tháng 8/1945, tôi được bạn bè gửi cho 3 bức ảnh chân dung của ba người, đó là tôi, chị Câu và chị Hằng – vợ tôi. Ba ảnh này các bạn thu được trong hồ sơ của Sở Mật thám Hà Nội. Tôi vẫn giữ được đến bây giờ.

Chị Câu là chị sát tôi, hơn tôi 4 tuổi …

Bây giờ tôi không còn nhớ rõ là tôi biết tin chị tôi chết từ bao giờ (ngày nào, tháng nào). Tôi chỉ biết sau Cách mạng tháng Tám, tôi luôn ngậm ngùi thương nhớ chị tôi, và mỗi khi về nhà gặp mẹ tôi và em gái tôi thì đều nhắc đến chị tôi với lòng thương cảm và xót xa. Tôi rất thương xót chị tôi vì chị tôi không được biết tí gì mùi vị của thắng lợi và đã chết khi còn quá trẻ, chưa có gia đình. Tôi cũng không biết chị tôi đã yêu ai và có người yêu chưa ? Có nhiều người hỏi tôi chuyện ấy, nhưng tôi chỉ trả lời : Không biết !

Thế rồi sau Cách mạng tháng Tám, cả nước lại đi vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và tôi bị cuốn vào đó, không có dịp nghĩ gì đến chị tôi nữa. Sau năm 1954, tôi tiếp tục ở quân đội, tôi vẫn say sưa công việc cũng không có ấn tượng gì về gia đình, thỉnh thoảng về thăm mẹ tôi, cũng chỉ biết ngậm ngùi thương nhớ chị, mà cũng không lúc nào nghĩ đến mồ mả của chị. Sau đó, từ 1964 tôi chuẩn bị đi B và đi B, tham gia chiến đấu cho đến năm 1974. Sau năm 1975, trong tôi hình thành một sự hiểu biết và một tâm lý là : chắc chị tôi bị đau ốm chết trong tù thì chỉ bị chính quyền Pháp chôn cất qua quýt ở đâu đó. Và cái nơi “đâu đó” chắc chắn là ở vùng Hoàng Mai, ở khu vực trường bắn của Pháp mà anh Hoàng Văn Thụ bị bắn ở đó. Tôi không biết và cũng không đến trường bắn đó bao giờ. Nhưng cái địa danh Hoàng Mai đối với tôi rất gần gũi, vì khi anh Hoàng Văn Thụ bị bắn tôi đang làm việc ở báo Cờ Giải phóng của Ðảng. Do anh Trường Chinh gợi ý, tôi có làm một bài thơ “Khóc anh Hoàng Văn Thụ“. Bài thơ lúc ấy được truyền tụng và được học thuộc rất nhiều. Tôi được biết bài thơ đó được có người viết lên một bức tường ở trường bắn nơi anh Hoàng Văn Thụ hy sinh. Sau này tôi được biết thêm, xã có cái trường bắn đó được mang tên xã (sau này là phường) Hoàng Văn Thụ. Tên đó gắn liền với cái chết của chị tôi.

* * *

Ðến những năm đầu của thập kỷ 90, tôi liên tục được nghe chuyện về các cuộc tìm kiếm mồ mả mà phần lớn là những cuộc tìm các mộ liệt sĩ hoặc là người thân của các gia đình cách mạng. Tôi có được đọc bài viết của anh Nguyễn Thọ Chân, của anh Nguyễn Hùng Phong và nhất là bài viết của anh Trần Phương kể lại quá trình anh nhờ các nhà ngoại cảm và gọi hồn để tìm mộ của người em gái là nữ du kích chết cách đây hơn 50 năm. …

Thế là từ đó trong tôi hình thành một ý muốn, một hy vọng tìm thấy mộ của chị tôi. Trong nhà, em gái tôi cũng là một người gắn bó nhiều kỷ niệm với chị Câu tôi và các con tôi chúng nó đều sinh ra sau khi chị tôi chết, nhất là con trai lớn tôi sinh ra năm 1947, có sống một thời gian ở quê với bà và các kỷ niệm của bác nó là chị Câu tôi, nó rất thương xót bác và rất tận tụy trong việc tìm kiếm.

Tôi nghe nhiều về các nhà ngoại cảm, mà tôi chưa được tiếp xúc trực tiếp bao giờ. Tôi vẫn nhận thức trìu tượng rằng: Ðó là những người có những khả năng đặc biệt, nhìn thấy được những gì mà người thường không thấy, nghe được những âm thanh mà tai người thường không nghe được. Khi Ðỗ Bá Hiệp về quê tôi xác minh mộ bố tôi, tôi cũng không có mặt. Chỉ có em gái tôi trực tiếp và xác nhận những điều Ðỗ Bá Hiệp nói là chính xác.

* * *

… Tôi nói : “Tôi có một bà chị bị tù ở Hỏa Lò và ốm chết trước Cách mạng tháng Tám, không biết bây giờ mộ ở đâu ?” Anh Liên thì nói “Còn mộ đấy, có thể tìm được”. …

… Tóm tắt, những thông tin thu được là :

Bà Câu là một người con gái trẻ đẹp, to béo, bị ốm, phù rồi chết. …

Bà Câu chết vào năm Giáp Thân, tức 1944, vào mùa thu, tháng 8, vào đêm 26 rạng ngày 27 (âm lịch).

Về ngày tháng chết này thì ở trong gia phả họ Tạ ở Tây Giang ghi là 29/9/1944 (theo giấy báo tử của chính quyền thực dân Pháp gửi về cho bà mẹ bà Câu).

… Theo trí nhớ của vợ tôi là Nguyễn Thị Hằng, lúc đó cùng ở tù với chị Câu, thì bà Hằng nói : Một buổi sáng, bà Hằng đến làm vệ sinh ở chỗ bà Câu thì thấy bà Câu đã chết cứng. Tức là bà Câu chết vào lúc gần sáng. Bà Hằng có nói, bà Câu chết năm trước thì năm sau Nhật đảo chính Pháp, và tiếc rằng bà Câu không sống thêm mấy tháng nữa để trốn khỏi nhà tù. Năm sau là 1945, vậy năm trước đúng là năm 1944 (Giáp Thân). Hài cốt bà Câu còn được một chứng tích đó là hàm răng đen của bà, bị gãy mất một cái. Bà rất đồng ý cho bốc hài cốt của bà và đưa về quê hương. Hùng hai lần hỏi bà câu này và hai lần đều nói lại với chúng tôi là bà gật đầu.

…5. Ngày 13/12/2000, con cả tôi là Trần Thắng, sinh năm 1947, sinh sống ở Tp Hồ Chí Minh. Tôi gọi cháu ra để làm chủ lực trong cuộc tìm kiếm này thay tôi, tôi đau ốm không đi lại được. Hồi đầu tháng 11/2000, Thắng đưa tôi từ Tp Hồ Chí Minh ra Hà Nội đã biết có cuộc tìm kiếm này, và rất quan tâm hỏi han nhiều. Thắng cũng tỏ ra rất thương xót bà bác ruột của mình.

…6. Có một việc thu hút người tham gia nữa là : anh Chu Phác giới thiệu và gia đình tôi có cô em gái tôi và cháu Thắng là hai người ruột thịt của bà Câu tìm đến bà Lương Thị Thanh Hà, người có khả năng gọi hồn, nhờ gọi giúp chị Câu về để gia đình nói chuyện.

Ngày 15/12/2000, cô Xuyến và Thắng đã đến gặp bà Thanh Hà. Qua cuộc bà Hà tiếp xúc với vong hồn chị Câu và cho biết : chị Câu bị chết trong một hoàn cảnh đau đớn và khổ nhục lắm. Chỗ mộ đang tìm là đúng mộ bà Câu rồi, cần phải gấp rút tìm cách đưa về quê. Việc đưa về quê phải tiến hành long trọng đầy đủ. Bởi vì khi sống là cán bộ quan trọng, nay cũng là người quan trọng ở dưới âm. Việc đưa đón không được sơ xuất.

…Vậy là hài cốt chị Câu còn gần như nguyên vẹn. Xương sọ còn nguyên và rất to (lúc ở nhà chị tôi là người cao lớn và béo tốt) hai hàm răng còn gần như đủ và là răng đen.

Những người đào khi bốc hài cốt, có nhận xét là xương chân tay to thế này là xương của người to lớn. Và khi đưa ảnh của chị Câu cho họ xem họ đối chiếu với xương sọ, thì họ bảo là rất khớp và đúng đây là mộ bà Câu.

…Gia đình tôi hoàn thành được việc quy tập các hài cốt Bố tôi, Mẹ tôi, Chị tôi về quê ở làng xã quê quán. Chị tôi được chấm dứt 56 năm bơ vơ đất khách….

Ngày 30/12/2000 (tức ngày 5 tháng Chạp Canh Thìn)

Kỳ 14: HÀNH TRÌNH TÌM MỘ CHỊ GÁI CỦA GIA ĐÌNH TƯỚNG TRẦN ĐỘ
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php?topic=2451.190

“Bác Câu tôi hy sinh được 13 năm, tôi mới cất tiếng khóc chào đời. Nhưng hình ảnh của bác, cuộc đời hoạt động cách mạng đầy chông gai và cả cái chết đầy thương cảm của bác vẫn mãi sống trong tâm trí tôi qua lời kể của bà, của cha. Tôi vẫn nhớ như in hồi còn nhỏ ở với bà, vào những đêm trăng sáng, bà thường kể cho tôi nghe về bác Câu. Có những chuyện, bà kể đi kể lại nhiều lần như một niềm thôi thúc. Và lần nào cũng thế, câu chuyện đều bị bỏ giữa chừng vì tiếng khóc tắc nghẹn của bà. Bà vừa nghẹn ngào khóc, vừa xót xa kể lể: Bác Câu tôi từ lúc sống cho đến lúc chết, chưa một ngày được an nhàn, sung sướng. Mới tẹo tuổi đầu đã phải lam làm suốt ngày để giúp mẹ nuôi các em. Lớn lên đi theo cách mạng rồi biền biệt không về. Rồi tù đày, bị đánh đập, tra tấn dã man. Đến lúc chết cũng cô độc một mình trong tù. Mồ mả mất tích nơi nào chẳng ai rõ. Khổ thân bác, không chồng con, chẳng ai hương khói. Tiếng khóc tắc nghẹn của bà khiến tôi cũng sụt sùi khóc theo. Nghĩ mà thương bà, xót thương cho bác Câu quá. Tôi an ủi bà: “Bà ơi! Bà đừng khóc nữa. Sau này lớn lên, cháu sẽ đi tìm mộ bác Câu về cho bà”. Thế mà, cũng phải ngót 50 năm sau, lời hứa ấy, tôi mới thực hiện được”.

Câu chuyện về hành trình đi tìm mộ nữ liệt sĩ Tạ Thị Câu được bắt đầu bằng những dòng hồi ức buồn, đầy tâm trạng của ông Trần Toàn Thắng, con trai cả của tướng Trần Độ.

Bà nội tôi sinh hạ được 4 người con. Cha tôi, tướng Trần Độ (tên thật là Tạ Ngọc Phách – PV), thứ 3. Chị thứ hai giáp cha tôi là bác Tạ Thị Câu. Cô Tạ Thị Xuyến là út. Ông nội mất sớm, bà ở vậy, một nách nuôi 4 con. Bác Câu hơn cha tôi 4 tuổi, thường đi buôn bán các chợ xa phụ giúp bà. Bác Câu yêu quý cha tôi lắm, thường mua quà và kèm cặp cha học hành. Bác hay khoe với bạn bè về cha với một niềm tự hào rất lớn. Ngay từ năm 17 tuổi, khi phong trào dân chủ vừa nổ ra, bác đã tham gia hoạt động cách mạng. Cho đến năm 1939, bác đã là Tỉnh uỷ viên tỉnh Thái Bình. Chính bác là người đã dìu dắt cha tôi đến với cách mạng, trực tiếp thử thách, khuyến khích rồi giới thiệu cha tôi vào Đảng. Năm 1940, ở làng tôi (thôn Thư Điền, xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, Thái Bình) nổ ra cuộc mít tinh ở cánh đồng Đông Lang. Bị lính phủ và tuần phiên khủng bố đẫm máu, Bác Câu và cha tôi nửa đêm vượt cánh đồng đi làm cách mạng chuyên nghiệp. Nghe đâu, bác làm việc cho xứ uỷ Bắc Kỳ nhưng cụ thể làm gì thì tôi không được rõ.

Năm 1941, cha tôi bị giặc bắt, chịu án 15 năm tù rồi bị đày lên Sơn La. Cũng thời gian đó, bác Câu bị bắt. Giặc giam bác ở nhà tù Hoả Lò cùng với nhiều chiến sĩ kiên trung, trong đó có bác Nguyễn Thị Minh Thái (Vợ trước của Đại tướng Võ Nguyên Giáp), bác Trương Thị Mỹ (sau là chủ tịch liên đoàn lao động Việt Nam) và bà Nguyễn Thị Hằng (sau này lấy cha tôi). Trong suốt mấy năm trời, hai chị em vẫn thường xuyên liên lạc thư từ. Và bác Câu, vẫn là người chị thảo hiền, yêu em hết mực, thỉnh thoảng vẫn gửi quà và xé áo của mình khâu những chiếc khăn gửi lên cho cha để chống trọi với cái giá lạnh miền sơn cước. Thế rồi, năm 1944, trên đường bị giặc giải từ Sơn La về Hoả Lò (Hà Nội) để đầy đi Côn Đảo, cha tôi được Chi bộ nhà tù tổ chức cho trốn thoát. Từ đấy, hai chị em bặt tin nhau. Sau này, cha tôi nghe mọi người kể lại, bác Câu bị ốm chết trong nhà tù Hoả Lò. Giấy báo tử của chính quyền Pháp gửi cho bà nội tôi ghi: bác mất ngày 29 tháng 9 năm 1944. Cái chết của bác khiến cả nhà khóc thương, nhất là cha tôi. Ông xót xa bảo: Nếu bác Câu sống thêm mấy tháng nữa, bác sẽ được chứng kiến ngày cách mạng thành công. Bác chết trẻ quá, 25 tuổi đầu, hình như trong đời chưa một lần được yêu. Càng xót xa hơn khi không biết hài cốt bác giặc chôn ở nơi nào?

Chưa kịp đi tìm mộ bác thì cả nước lại bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, bụi trường chinh cuốn cha đi. Thỉnh thoảng, cha về, cả nhà lại sụt sùi khóc nhớ thương bác. Cha bảo: “Bác Câu bị ốm đau chết trong tù, chắc là Pháp chôn qua quýt ở đâu đó. Rất có thể là ở khu vực trường bắn của Pháp ở Hoàng Mai, nơi bác Hoàng Văn Thụ bị bắn”.

…Gần mộ bà Câu có một cây hoa râm bụt đỏ, một cây hoa trinh nữ trắng, cạnh một bãi phẳng như sân bóng. Bà Câu chết vào năm Giáp Thân (1944), vào mùa thu, tháng 8, đêm 26 rạng ngày 27 âm lịch. Cứ như trí nhớ của mẹ tôi (bà Nguyễn Thị Hằng – PV), người đã ở tù cùng bác Câu thì một buổi sáng, mẹ đến làm vệ sinh cho bác đã thấy bác nằm chết cứng. Có thể, bác chết lúc gần sáng. Bác chết năm trước thì năm sau Nhật đảo chính Pháp. Vì thế, mẹ cứ tiếc bác Câu tôi không sống thêm mấy tháng để trốn khỏi nhà tù. Năm sau là năm 1945, vậy năm trước đúng là năm 1944 (Giáp Thân).

Anh Hùng cho biết thêm: Hài cốt của bác Câu còn có một chứng tích, đó là hàm răng đen của bác bị gãy mất một cái. Bác đồng ý cho gia đình tôi bốc hài cốt bác đưa về quê. Anh Hùng hai lần hỏi bác câu này và cả hai lần, bác Câu gật đầu….

                LB: Vậy là con cả Trần Độ sinh 1957! Khi đó Trần độ 35 tuổi!

http://hodovietnam.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=248&Itemid=33

…Chiếc tiểu đựng hài cốt bác Câu tôi có tuổi thọ khá tốt. Vùi sâu dưới lòng đất mấy chục năm rồi mà thành tiểu vẫn rắn như đanh. Khi mở nắp tiểu, tôi đã bật khóc vì xúc động và sung sướng khi thấy hài cốt của bác gần như còn nguyên vẹn. Xương sọ còn nguyên. Những người thợ đào nhận xét, xương chân tay to thế này chứng tỏ người mất rất cao lớn. Cha tôi gật đầu xác nhận. Và khi đưa ảnh của bác Câu cho họ xem để đối chiếu với xương sọ, họ bảo rất khớp. Đây đúng là mộ bác Câu. Riêng tôi, có một bằng chứng khiến tôi hoàn toàn tin tưởng đây chính là hài cốt của người bác ruột mình. Đó là hai hàm răng đen còn gần như nguyên vẹn, chỉ thiếu duy nhất một chiếc, đúng tín hiệu mà nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng đã cung cấp.

22h30′, việc chuyển hài cốt bác tôi sang tiểu mới, có rửa nước thơm, ướp trà thơm

Họ Tạ gốc Thư Điền

Bà Tạ Thị Câu (1919 – 1944)

http://www.phahe.vn/FamilyTree/Pages/ViewFunctionContent.aspx?id=797&FamilyTreeID=1437

Bà Tạ Thị Câu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936, khi mà phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo phát triển mạnh mẽ ở Thư Điền. Thời gian này, bà Câu phụ trách tổ chức phụ nữ Tương tế ở Thư Điền. Bà là một phụ nữ trẻ tuổi (năm đó bà mới 17 tuổi), bà là con một viên chức nghèo nhưng lại rất giàu lòng yêu nước hăng hái hoạt động, thông minh hoạt bát, nên khi được đồng chí Trần Mạnh Lưu tuyên truyền giác ngộ, bà đã nhanh chóng đứng vào hàng ngũ của những người cách mạng cốt cán của Thư Điền. Bà được giao nhiệm vụ phụ trách Hội phụ nữ Tương tế của cả Trình Phố và Thư Điền. Tháng 8/1939, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Thư Điền – Bát Điếu được thành lập, khi đó Chi bộ có 5 đảng viên trong đó có bà Tạ Thị Câu do ông Tạ Tiếu (tức ông Tạ Xuân Thu) là bí thư chi bộ, bốn tháng sau, khi ông Tiếu được tổ chức điều đi công tác khác, bà Câu thay làm bí thư. Cũng thời điểm này bà được giao nhiệm vụ Tỉnh uỷ viên Thái Bình. Bà là một trong những đảng viên lãnh đạo, chủ trì và tham gia diễn thuyết trong cuộc mít tinh lịch sử lúc 21 giờ ngày 10/11/1940 tại Đông Lang với danh nghĩa kỷ niệm người anh hùng dân tộc Phạm Ngũ Lão nhưng nội dung chính là tuyên truyền đấu tranh cách mạng, giáo dục truyền thống yêu nước, vạch mặt phản động của bọn thực dân thống trị và bọn tay sai phong kiến cường hào gian ác, động viên khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân, nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Khi cuộc mít tinh gần kết thúc, bị địch kéo đến đàn áp bắt bớ hơn 50 người. Các đảng viên bị địch tra tấn dã man, nhưng không khai báo, sau bị chúng đưa lên tỉnh Thái Bình giam giữ và kết án tù. Nhiều đảng viên khác được Xứ uỷ điều đi phụ trách những công tác quan trọng khác, bà Câu được tổ chức điều đi hoạt động ở các địa phương khác như Hà Đông, Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh. Năm 1943, khi đang dự họp với Xứ uỷ, bị Pháp vây bắt. Trong nhà tù đế quốc, kẻ địch dùng nhiều cực hình tra tấn, nhưng bà vẫn giữ được khí tiết, bị kết án 25 năm tù khổ sai. Bà hy sinh tại nhà tù Hoả Lò (Hà Nội) vào sáng ngày 29/9/1944 . Bà được chôn cất tại nghĩa địa gần khu vực đình Hoàng Mai (Hà Nội). Tháng 12/2000, gia đình đã tìm thấy và đưa hài cốt về mai táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Tiền Hải, Thái Bình. Trong gia đình, bà đã dìu dắt em trai là Tạ Ngọc Phách (tức ông Trần Độ) và em gái là Tạ Thị Xuyến (lão thành cách mạng) tham gia cách mạng từ khi còn trẻ tuổi.

(Sách “Từ điển Thái Bình”, Tỉnh uỷ – UBND tỉnh Thái Bình ; “Lịch sử đảng bộ và nhân dân xã Tây Giang” và tư liệu của gia đình)

Những tấm gương cộng sản Chi 4 họ Tạ

http://www.phahe.vn/FamilyTree/Pages/ViewFunctionContent.aspx?FamilyTreeID=1437&id=903

Cụ Tạ Ngọc Giản

Cụ Tạ Ngọc Giản tức Vũ Trọng Kiên, đời thứ 12, thuộc Chi 4 họ Tạ. Cụ tham gia cách mạng từ năm 1937 tại Thư Điền trong phong trào thanh niên Dân chủ do ông Tạ Ngọc Phách phụ trách. Sau khi bị khủng bố mạnh, cụ lưu lạc làm ăn tại Nam Định và Hà Nội. Khi ở Hà Nội, cụ được Xứ uỷ Bắc kỳ phái về phục hồi cơ sở cũ để gây dựng lại các tổ chức Việt Minh ở Thư Điền. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, cụ tổ chức lại và phụ trách Đoàn thanh niên cứu quốc Thư Điền, ngoài việc tổ chức học tập, tuyên truyền các tài liệu cách mạng, cụ còn tổ chức và tham gia việc treo cờ đỏ sao vàng ở trước tam quan Đình Chính, rải truyền đơn, dán áp phích khắp nơi trong Huyện, v.v… Trong thời gian này, cụ cùng các Đảng viên Cộng sản chuẩn bị khởi nghĩa. Khi lệnh trên phát ra, cụ tham gia chỉ huy lực lượng khỏi nghĩa. Ngày 22/8/1945 , khởi nghĩa giành chính quyền huyện Tiền Hải thành công, cụ được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời.  Tháng 01-1946, cụ được kết nạp vào Đảng Cộng sản, tháng 6-1946 là Huyện uỷ viên, Chủ nhiệm mặt trận Việt Minh huyện. Đầu năm 1947, cụ làm Bí thư huyện uỷ huyện Tiền Hải, rồi Phó trưởng ban Đảng vụ tỉnh Thái Bình (lúc ấy gọi là Ban Tổ-Kiểm) và được cử vào Tỉnh uỷ Thái Bình. Tháng 02-1949, cụ thoát ly đi công tác ở Trung ương. Sau này, qua các chức vụ Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương rồi Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ của Chính Phủ (nay là Bộ Nội vụ), đến tháng 6-1988, cụ được nghỉ hưu.

Cụ được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, … Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng (2006).

Bà Tạ Thị Xuyến

Bà Tạ Thị Xuyến, sinh ngày 14/5/1930 thuộc đời thứ 13, thuộc Chi 4 họ Tạ. Bà là cán bộ tham gia hoạt động cách mạng trước tháng Tám 1945. Từ năm 1940, bà được chị ruột là Tạ Thị Câu giao nhiệm vụ làm liên lạc cho tổ chức cách mạng ở địa phương, khu vực hoạt động lan rộng cả vùng Hà Nội, Phúc Yên, Bắc Ninh, … Năm 1945, bà tham gia cướp chính quyền ở huyện Tiền Hải, là cán bộ Việt Minh phụ trách khu đông Tiền Hải. Năm 1946, bà đi thoát ly và là Thường trực Hội Phụ nữ Huyện. Tháng 10 năm 1947, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam , được phân công là Phó Bí thư huyện Đoàn Thanh niên Tiền Hải. Sau đó, bà tham gia các công tác ở địa phương trong suốt thời gian hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đến khi nghỉ hưu. Bà đã gánh vác trách nhiệm gia đình, chăm sóc mẹ già để cho anh, chị ruột đi thoát ly hoạt động cách mạng.

Bà đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng II, Huy hiệu Kháng chiến hạng II, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng,

http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A1_Xu%C3%A2n_Thu

Thiếu tướng Tạ Xuân Thu (1916-1971) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên là Tư lệnh đầu tiên Quân chủng Hải quân.

Tiểu sử tóm tắt

Tạ Xuân Thu tên thật là Tạ Tiếu; quê xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1961.

Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I và II.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.

Tư lệnh đầu tiên – Đồng chí Tạ Xuân Thu

09:48 | 10/08/2012

http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZPHbuNADIafZR_A0KhY5TiqozZqHlmaiyDH

Thiếu tướng TẠ XUÂN THU

(Tạ Tiến)

(1916 – 1971)

Quê quán: xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Tham gia cách mạng: 1937

Nhập ngũ: tháng 12/1944

Cấp bậc: Thiếu tướng (1961)

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam: từ năm 1938.

Quá trình công tác

Năm 1940: bị thực dân Pháp bắt giam;

Tháng 9/1944: vượt ngục, tham gia Cứu quốc quân ở Chiến khu Việt Bắc;

Tháng 3/1945: chỉ huy một đội của giải phóng quân đánh chiếm các đồn Chợ Chu, Chiêm Hóa, Sơn Dương và tham gia Ủy ban Giải phóng Hà Tuyên, trực tiếp chỉ huy chiến đấu giải phóng Tuyên Quang;

Tháng 10/1945 – 1950: Chính trị viên Khu 1, Chính ủy Khu 10, phụ trách mặt trận Tây tiến, kiêm Ủy viên kiểm tra của Quân ủy Trung ương và Thanh tra quân đội;

1950 – 1953: phái viên QS của chính phủ Việt Nam sang giúp chính phủ Lào, trực tiếp chỉ huy bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Thượng Lào;

1954 – 1955: Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ đội Biên phòng; Chính ủy Sư đoàn 335;

Tháng 11/1955 – 1963: Chính ủy kiêm Cục trưởng Cục Phòng thủ bờ biển;

1964: Tư lệnh Quân chủng Hải quân;

1965 – 1971: Chính ủy Quân chủng Hải quân, Binh chủng Pháo binh, Học viện Quân sự;

Đại biểu Quốc hội khóa I, II.

Phần thưởng cao quý

– Huân chương Quân công hạng Nhất;

– Huân chương Chiến công hạng Nhất;

– Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

(Cổng TTĐT BQP)

1. K vo K con

Advertisements

One thought on “Bài 6. Đỗ Mười – Sống không vợ không con!”

  1. Ho chi minh, vo nguyen giap and many more communists are real ass_holes. They kill so many innocent Vietnammese. They are the son
    of a thousand fathers , they have to pay for their crimes very soon.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s