Bài 7. Tôn Đức Thắng cũng là giả quỷ giả danh Cộng Sản!

Để làm được việc đó Tôn Đức Thắng giả đã: Giết Tôn Đức Thắng thật, rồi cướp con đem ra Hà Nội để “Tập làm bố”, đầu độc “vợ” xong mới đón “Vợ”! Đi qua nhà không thèm thăm “mẹ”, “mẹ” chết không về chịu tang, “Vợ” chết không ở bên… sau đó vào thăm và… Mắt… đỏ hoe!

Chắc chắn vợ bị đầu độc giống vợ Phạm Văn Đồng không?

                                                                ***

  1. Các điểm lưu ý:

“1 trai 2 gái, đứa con trai chẳng may sớm qua đời”

                “Bác Tôn gái qua đời lúc bốn giờ sáng, ngày 25 tháng 5 năm 1974, tại quân y viện 108. Đến 6 giờ sáng cùng ngày, Bác Tôn nhận được tin buồn, ngồi lặng đi một lúc. Sau đó bác lên xe đến quân y viện, lẳng lặng quỳ xuống hôn vợ, vuốt mắt và má vợ. Hai tròng mắt của Bác đỏ hoe. ”

                “Thời  gian công tác tại Mỹ Tho(quê bác gái), Bác Tôn chỉ tranh thủ ghé về Vĩnh Kim thăm bác gái được có vài giờ đồng hồ.”

“Sau ngày  cách mạng tháng 8 thành công, Bác Tôn đến Vĩnh Kim vào lúc đỏ đèn. Bác gái …buông cả mấy  con gà đã trả tiền rồi đang xách trên tay. Bác Tôn ngồi đó, trên bộ ván dầu, khách khứa đến khá đông. Bác gái nhìn chồng, xa 17 năm, không nói được lời nào, chỉ đứng ôm cột nhà mà khóc”.”

“Sau lần gặp gỡ ngắn ngủi đó, Bác Tôn có lệnh của trung ương điều ra chiến khu Việt Bắc. Thời gian gấp quá, Bác không kịp tạm biệt người vợ thân yêu, chỉ kịp đưa hai người con gái là Tôn Thị Hạnh và Tôn Thị Nghiêm ra Bắc học tập.

Phải  từ năm 1954 trở đi, Bác Tôn và bác gái mới thật sự được sống gần gũi với nhau.”

Năm 1926 bé Tôn Thị Hạnh ra đời

“Song thân của Bác là ông Tôn Văn Đề (1864–1938) và bà Nguyễn Thị Dị (1867-1947). Bác Tôn có 4 người anh em, Bác là con trưởng trong gia đình (Tôn Đức Thắng, Tôn Thị En, Tôn Đức Nhung, Tôn Thị Kiệm).”

Nợ nần chồng chất, …Hạnh lại theo mẹ đi làm mướn, thực ra là đi làm ô-sin như cách gọi hiện nay, cho nhà một viên công chức người Pháp, có vợ là người Việt. (ở Nam Vang)”

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cha Hạnh được đón từ Côn Đảo về đất liền. Trước đó, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn của cha, ba mẹ con Hạnh đã từ  Nam Vang trở về quê sinh sống.

“Cha ông Nguyễn Văn Bảy là Liệt sĩ Nguyễn Xưởng, từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ tại xưởng Ba Son, hy sinh năm 1952

Nguyễn Văn Bảy  – Con trai cũng hy Sinh 1972!

  1. Nhận xét:

Có thật Tôn về “Thăm Vợ” vài tiếng vào lúc đỏ đèn không? Lúc đó “Mẹ” còn sống sao không thấy Trần Hữu Nghiệp kể Tôn gặp “Mẹ”? (Lưu ý: Người kể cũng chỉ là một người giả Trần Hữu Nghiệp thật mà thôi (Xem quyển 26)

Tôn ở Nam 1945 – 1946 mà không về nhà được vài lần à? Chắc chắn là 1944 – 1945 đã đánh cắp 2 đứa con gái 13 – 14 tuổi, mồ côi cha từ nhỏ (Năm 1930 theo khai thì Tôn Đức Thắng “bị bắt” tù sốt 15 năm – Lúc đó Hạnh 4 tuổi, Nghiêm 2 tuổi), lại ở quê cho ra Hà Nội, gặp sự “choáng ngợp” của “Người Cha” Lãnh tụ biết thế nào mà nghi ngờ?

Thế rồi 10 năm sau, khi 2 con gái đã lớn khôn, đã “quen” hơi bến mặt “người cha” Lãnh tụ rồi thì mới đón “Vợ” ra! Lúc đó 2 “Con gái” đã thân “Cha” hơn mẹ! Người mẹ già quê mùa, suốt đời đi ở đợ, sau 24 năm xa cách, nay gặp “Người Chồng” lãnh tụ tỏa hòa quang đầy mình thì có dám nghi ngờ không? Trong con mắt bà đã không có nghi ngờ thì bà được yên thân nếu không thì sẽ có 4 kịch bản giành cho bà: Bị đánh thuốc để “Ngẫn” như “vợ” Phạm Hùng! Hoặc “Không dám ngồi ăn cơm cùng” như “Vợ” Lê Duẩn! Hoặc Bị đánh thuốc nằm một chỗ như “Vợ” Hoàng Đạo Thúy. Còn nếu quá hăng thì sẽ “Tai nạn” mà chết như “Vợ” Võ Văn Kiệt!…

Không biết bà ở vào kịch bản nào, nhưng “TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG SON SẮT ” mà Tôn giành cho bà đó là: Chết mà chồng không ở bên cạnh: “Bác Tôn gái qua đời lúc bốn giờ sáng, … Đến 6 giờ sáng cùng ngày, Bác Tôn nhận được tin buồn”!

Tôn đã đưa 3 mẹ con một người đi ở ở Nam Vang về làm vợ và con!

Tôn kể chuyện Ba Son thì cả nhà Nguyễn Xưởng – người tham dự thật chết ngay! Tât nhiên là còn nhiều nữa nhưng Lịch sử chúng giấu không ghi!

Thế mới thật là:

Tôn kia là Quỷ cao tay

“Con” không cần giết, nhận ngay… con mình!

                Xa “cha” đứa lớn lên tư

Đứa nhỏ bé nữa, nhận nào cha đây.

                Bắt “con” nhận bố xong xuôi

Đón “Vợ” ra nhận, hứ hừ làm sao?

                Kìa xem bức ảnh gia đình

                Vợ đâu chẳng thấy, hay là khòng kheo (1)

     Vợ chồng tình nghĩa sắt son

Vợ chết Bác nhận… tin buồn là sao?

                Đạo Hiếu, Tôn có biết không?

Về “Nhà” gặp “Vợ” lơ ngay “Mẹ” già!

     “Vợ” chết Bác nhận… tin buồn

     “Mẹ” chết Bác chẳng một dòng… tiếc thương!

Bây giờ hỏi nhỏ Tôn đây

Vợ kia- vợ nhặt ở đâu đem về?

Bác Tôn kể chuyện Ba Son

Người tham dự thật … chết ngay cả nhà!

(1) Rất có thể vợ cũng “Ốm” như vợ Hoàng Đạo Thúy!             

Kết tội Tôn thế có oan không? Nếu ai thấy oan hãy xem lại phần HCM sẽ rõ.

  1. Tài liệu:

BÁC TÔN VÀ TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG SON SẮT Hồ Tĩnh Tâm

Saturday, 10th April 2010

 http://hotinhtam.vnweblogs.com/print/1022/224796

…Sắp đến ngày 30 tháng 4, tự nhiên nhớ tới ngày Bác Tôn từ giã thế giới  này ra đi, tôi xin kể ra đây vài mẫu chuyện nhỏ về cuộc đời thường rất bình dân của Chủ tịch  Tôn Đức Thắng, Người mà tôi đặc biệt quý trọng, về những phẩm chất đời  thường rất con người của Bác.

HTT

BÁC TÔN VÀ TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG SON SẮT

Hồ Tĩnh  Tâm

 Bác Tôn vĩnh biệt chúng ta ra đi đã ba mươi năm trời(30/3/1980 – 30/3/2010). Bác để lại cho dân, cho nước biết bao niềm thương nhớ. Trong buổi Lễ trao huân chương Sao Vàng nhân dịp Bác Tôn thọ 70 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một tấm gương đạo đức cách mạng; suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”.

 Cuộc đời Bác Tôn là một mẫu mực về đạo đức cách mạng, mẫu mực cả trong tình nghĩa vợ chồng.

 Theo tài  liệu của đồng chí Lê Hữu Lập, một lần  đi viếng mộ vợ trở về, Bác Tôn có kể cho các đồng chí trong Phủ Chủ tịch nghe về chuyện tình duyên của Bác như sau: “Vào khoảng năm 1916, lúc ấy tôi còn đang ở Pháp, có quen với một người  Việt Nam tên là Đoàn Công Sứ. Lúc đầu chỉ là quen, nhưng càng về sau, tôi và Sứ trở thành người bạn chí cốt. Chẳng bao lâu Sứ ốm và chết. Trước khi nhắm mắt, Sứ có nói với tôi: “tôi có người chị tên là Đoàn Thị Giàu, hiện đang ở quê, là người phúc đức. Anh có thể tìm đến chị và làm quen”. Khi trở về nước, theo đúng lời dặn của Sứ, tôi tìm đến quê Sứ ở Mỹ Tho, quả nhiên tôi đã gặp Đoàn Thị Giàu. Chúng tôi yêu nhau và cưới  nhau. Năm 1929 tôi bị địch bắt. Sau đó, năm 1930, tôi bị chúng đày ra Côn Đảo, với án tù 20 năm khổ sai. Sống trong tù, tôi thấy ngày dài lê thê. Nghĩ mình  đã khổ, vậy không nên để cho người vợ khổ theo. Vì vậy tôi có viết thư gởi vợ, khuyên vợ đi lấy chồng khác. Ít lâu sau tôi nhận được thư của vợ. Thư rằng: “Anh Tôn Đức Thắng thân mến, xin báo để anh biết, tôi đã đi lấy chồng, chồng tôi là Tôn Đức Thắng, người Long Xuyên. Chúng tôi  ăn ở với nhau đã có ba mụn con, 1 trai 2 gái, đứa con trai chẳng may sớm qua đời. Tôi sẽ trọn đời sống cùng chồng tôi, mặc dù anh ấy đang phải tù đày nơi hải đảo xa xôi”. Đọc xong thư, tôi sung sướng đến nỗi cứ áp chặt bức thư vào  ngực mình. Khi mới ra tù, chúng tôi cũng chỉ gặp nhau có một đôi lần. Mãi từ năm 1954 trở đi, chúng tôi mới được hàng ngày sống bên nhau. Trước khi lấy nhau, vợ tôi đã có một thời  phiêu bạt sang Phnôm Pênh, đi ở cho một chủ hiệu. Nhờ có chí, vợ tôi rất chịu khó, giác ngộ cách mạng và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

 Theo tài liệu của đ/c Lê Hữu Lập, chúng ta thấy, tấm lòng của Bác Tôn yêu thương và kính phục người vợ biết dường nào.

 Bác Tôn gái qua đời lúc bốn giờ sáng, ngày 25 tháng 5 năm 1974, tại quân y viện 108. Đến 6 giờ sáng cùng ngày, Bác Tôn nhận được tin buồn, ngồi lặng đi một lúc. Sau đó bác lên xe đến quân y viện, lẳng lặng quỳ xuống hôn vợ, vuốt mắt và má vợ. Hai tròng mắt của Bác đỏ hoe. Từ đó, cứ đúng ngày 25 hàng tháng, bao giờ Bác Tôn cũng đi viếng mộ vợ, thắp nhang và cúi đầu mặc niệm.

 Nghĩa tình đối với vợ, Bác Tôn biểu hiện chu đáo tới mức, đôi khi làm chúng ta xúc động sâu sắc. Theo ông Đức Vượng(“Bác Tôn cuộc đời và sự kiện”- NXB Sự Thật- 1988): “Năm 1950, Bác Tôn sang  Liên Xô nhận giải thưởng Hòa Bình Quốc tế Lê Nin, bạn có đưa cho Bác 10.000 rúp để mua quà về cho gia đình, bè bạn. Các doàn viên đi cùng, mỗi người được 1.000 rúp, ai cũng mua hết số tiền. Riêng Bác Tôn chỉ mua một cái cối xay tiêu đem về cho bác gái, hết 7 rúp, còn 9.993 rúp Bác trả lại cho bạn”.

Chúng ta cũng đã biết rằng, tháng 7 năm 1929, Bác Tôn bị bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Tới  tháng 7 năm 1930, Bác Tôn bị đày ra Côn Đảo. Mãi tới ngày 23 tháng 9 năm 1945, Bác Tôn mới được trở lại đất liền, cùng lúc với tiếng súng kháng chiến vang lên trên khắp các nẻo đường của quê hương Nam Bộ thành đồng. Bởi vậy, vừa thoát khỏi ngục tù, Bác Tôn đã phải lao ngay vào việc tổ chức kháng chiến. Thời  gian công tác tại Mỹ Tho(quê bác gái), Bác Tôn chỉ tranh thủ ghé về Vĩnh Kim thăm bác gái được có vài giờ đồng hồ.

 Bác sĩ Trần  Hữu Nghiệp kể lại chuyện này như sau:

 “Suốt thời gian chồng bị đày ở Côn Đảo, bác gái tần tảo nuôi hai con gái, bằng cách hàng ngày mua trái cây hay gà vịt chở lên Sài Gòn hoặc thị xã Mỹ Tho bán. Sau ngày  cách mạng tháng 8 thành công, Bác Tôn đến Vĩnh Kim vào lúc đỏ đèn. Bác gái đang đi bắt gà ở xóm trên, nghe tin chồng về, bươn bả chạy về nhà, buông cả mấy  con gà đã trả tiền rồi đang xách trên tay. Bác Tôn ngồi đó, trên bộ ván dầu, khách khứa đến khá đông. Bác gái nhìn chồng, xa 17 năm, không nói được lời nào, chỉ đứng ôm cột nhà mà khóc”.

Sau lần gặp gỡ ngắn ngủi đó, Bác Tôn có lệnh của trung ương điều ra chiến khu Việt Bắc. Thời gian gấp quá, Bác không kịp tạm biệt người vợ thân yêu, chỉ kịp đưa hai người con gái là Tôn Thị Hạnh và Tôn Thị Nghiêm ra Bắc học tập. Phải  từ năm 1954 trở đi, Bác Tôn và bác gái mới thật sự được sống gần gũi với nhau.

 Tình nghĩa vợ chồng son sắt thủy chung của Bác Tôn, thật sự là một mẫu mực về hạnh phúc gia đình, là tấm gương nhân nghĩa vợ chồng cho chúng ta noi theo.

 HTT

Giới thiệu

Tượng Bác Tôn trong đền thờ ông

http://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_l%C6%B0u_ni%E1%BB%87m_Ch%E1%BB%A7_t%E1%BB%8Bch_T%C3%B4n_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%E1%BA%AFng

Khu lưu niệm bao gồm ngôi nhà thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (gọi tắt là Bác Tôn, 18881980), đền thờ và nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp của ông [2].

. GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ BÁC TÔN ĐỨC THẮNG

  1. Tiểu sử và quá trình hoạt động Cách mạng của Bác Tôn Đức Thắng:
    http://truonghoc.com.vn/tonducthang/index.php?option=com_content&view=article&id=447:trung-thpt-ton-dc-thng&catid=30&Itemid=586

   Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 28/8/1888 ở làng An Hòa, tổng Định Thành, Tỉnh Long Xuyên nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Song thân của Bác là ông Tôn Văn Đề (1864–1938) và bà Nguyễn Thị Dị (1867-1947). Bác Tôn có 4 người anh em, Bác là con trưởng trong gia đình (Tôn Đức Thắng, Tôn Thị En, Tôn Đức Nhung, Tôn Thị Kiệm)…

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888-20/8/2008)

Chí công vô tư
10:00 AM, 22/08/2008

http://antgct.cand.com.vn/pages/nhanvat/2008/8/52433.cand

Theo lẽ thông thường, con người luôn luôn thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”… Chỉ một số ít những vĩ nhân mới gìn giữ được tâm thế ung dung tự tại, “Giàu sang không làm cho say đắm, nghèo hèn không làm cho đổi dời, uy vũ không làm cho khiếp sợ” theo cách nói của Mạnh Tử. Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng đúng là một vĩ nhân như thế.

…Cũng theo hồi ức của đồng chí Lê Văn Lương, ở Côn Đảo, “Bác Tôn ít nói nhưng đã nói là làm khiến ngay cả tù lưu manh cũng hết sức kiêng nể. Đối với những người tù chính trị, Bác Tôn được biết đến như một người thợ máy giỏi, người cộng sản gắn liền với  phong trào đấu tranh của công nhân. Đối với tù thường, Bác Tôn nổi tiếng từ khi Bác làm thay đổi tình hình ở Hầm Xay lúa”.

…Đồng chí Lê Văn Lương tâm sự: “Trước đây tôi đọc sách có thấy nói “vô sản lưu manh” là những người ngoài vòng pháp luật, ngoài lề xã hội, khó cải tạo được, do đó cũng khó giáo dục cách mạng. Qua cuộc đấu tranh của Bác Tôn và những người cộng sản ở Hầm Xay lúa, tôi hiểu thêm rằng, ngay cả những kẻ bị tha hóa nặng nề vẫn còn lại một phần nhân tính. Nếu có phương pháp đúng để giáo dục, cảm hoá họ, vẫn có thể giúp một số người phục thiện, trở thành người có ích.  Ở Côn Đảo, những người tù cộng sản đã thành công ở một chừng mực nhất định trong việc này, mà thành công của Bác Tôn là một thí dụ…”.

Còn Bác Hồ trong Lễ chúc mừng Bác Tôn thọ 70 tuổi (năm 1958) đã nói: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân…”

  Nguyễn Long

Đòn gánh lưng cong

Thứ Hai, 24/03/2008

http://antgct.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=52142

Không hiểu sao, cứ thấy người phụ nữ nào về già lưng còng như bà nội tôi là tôi lại nghĩ người đó có cuộc đời vất vả. Lần đầu tiên gặp bà Tôn Thị Hạnh, con gái của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, thấy bà lưng cong như chiếc đòn gánh trên vai bà nội tôi ngày nào, tôi lại hơi băn khoăn: Chả lẽ con của Chủ tịch nước mà cũng vất vả hay sao?

Một ngày cuối năm 2007, tôi đến thăm ông bà Dương Văn Phúc. Ông nguyên là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, một người thủ trưởng mà tôi rất kính mến, còn bà là Tôn Thị Hạnh, con gái đầu của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng.

…Không ngờ, buổi đến thăm chiều cuối năm ấy, tôi đã được ông bà kể cho nghe biết bao điều không dễ gì biết được.

“Con có gặp ba thì đừng khóc mà ba buồn”

…Cùng sang Pháp với anh Hai Thắng, có anh Ba Sứ, do quý mến anh Hai nên đã viết thư về gia đình nói cha mình gả người chị gái cho anh. Khi anh Ba Sứ chẳng may lâm bệnh chết, anh Hai Thắng đứng ra lo liệu đám tang cho bạn.

Khi về nước, anh Hai Thắng tìm đến thăm gia đình anh Ba Sứ ở Vĩnh Kim, Mỹ Tho, đưa tấm ảnh chụp hôm lễ tang có anh và một số bạn đứng bên quan tài anh Ba. Để trả cái ơn trên, cha mẹ anh Ba Sứ đã gả con gái của mình là Đoàn Thị Giàu cho anh Hai Thắng.

Năm 1926 bé Tôn Thị Hạnh ra đời, là kết quả của mối tình ân nghĩa sâu nặng theo di nguyện của người cậu ruột để lại…

Trở lại Sài Gòn, anh Hai Thắng xin vào làm công nhân cho một hãng xe ôtô của Pháp và tiếp tục hoạt động bí mật xây dựng cơ sở Công hội trong thành phố.

Năm 1929, anh bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai, đến tháng 6/1930 bị đày ra Côn Đảo.

Trước ngày anh Hai bị bắt, chị Hai sinh con thứ ba, là con trai, đặt tên là Tôn Đức Liêm. …

Gánh chè và vuông lụa ngày cưới

16 năm cha bị giam cầm ở Côn Đảo là 16 năm dài dằng dặc mà mẹ con, chị em Hạnh trải qua biết bao cơ cực, cố sống để chờ ngày chồng, cha được trở về. …

Tuy mới hơn 10 tuổi, hai chị em Hạnh, Nghiêm đã phải giúp mẹ bươn bả, nay làm mướn, mai phụ mẹ buôn bán vặt, kiếm ăn qua ngày. Nợ nần chồng chất, …Hạnh lại theo mẹ đi làm mướn, thực ra là đi làm ô-sin như cách gọi hiện nay, cho nhà một viên công chức người Pháp, có vợ là người Việt. (ở Nam Vang)

Công việc của mẹ con Hạnh là quét dọn, lau chùi nhà cửa, giặt giũ quần áo cho cả nhà, mà nhà lại có tới hơn mười người, làm suốt ngày cũng không hết việc. Tối đến hai mẹ con phải ngủ dưới đất, gần gầm cầu thang, sát bếp. Đã vậy, mỗi khi sơ ý, trễ việc, hai mẹ con lại bị vợ chủ nhà mắng chửi…

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cha Hạnh được đón từ Côn Đảo về đất liền. Trước đó, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn của cha, ba mẹ con Hạnh đã từ  Nam Vang trở về quê sinh sống. Cha Hạnh chỉ kịp về thăm vợ con được một ngày rồi lại lên đường công tác.

Năm 1946, Bác Tôn Đức Thắng trúng cử đại biểu Quốc hội Khóa đầu tiên, được Bác Hồ mời ra Hà Nội làm việc. Lúc này, Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia công tác cách mạng, được theo cha ra Bắc.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cả hai chị em lại theo cha lên chiến khu Việt Bắc, Hạnh làm văn thư, lưu trữ, còn Nghiêm là điện báo viên ở Văn phòng Trung ương.

Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thường trực Quốc Hội, Trưởng Ban Thi đua Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay)…

Năm 1950, gặp lại nhau sau mấy năm xa cách, hai người quyết định tổ chức lễ cưới.

…Ơi những ngày khốn khó, đòn gánh cong lưng theo mẹ bán chè ở Nam Vang, sao bây giờ ngày vui của con mẹ lại không có mặt?… Mẹ ơi, nước mắt lưng tròng.

Mấy ai biết được lời dặn của cha

Sau năm 1954, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cùng cha trở về Hà Nội. Mẹ Giàu cũng từ miền Nam tập kết ra Bắc, sum họp cùng chồng và các con.

Năm 1960, Bác Tôn Đức Thắng được Quốc hội cử giữ chức Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và năm 1969 là Chủ tịch nước.

…Ngày 30/3/1980 Chủ tịch Tôn Đức Thắng qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi. Trước đó, năm 1974 Bác Tôn gái cũng đã đi xa.

Ít năm sau khi cha mất, lần lượt vợ chồng em gái Tôn Thị Nghiêm cũng theo cha mẹ ra đi…

Dương Đức Quảng

III. Sao Phạm Văn Đồng không kết nạp giống Tôn?

Tôn Đức Thắng http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4n_%C4%90%E1%BB%A9c_Th%E1%BA%AFng

Tôn Đức Thắng (18881980), còn có bí danh Thoại Sơn và được người dân Việt Nam gọi với tên thân mật là Bác Tôn, là Chủ tịch nước thứ hai và cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Chủ tịch nước đầu tiên của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ông được Hồ Chí Minh ca ngợi là “gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.” [2]

Thân thế

Ông sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Cù lao Ông Hổ, làng Mỹ Hoà Hưng, tổng Định Thành, hạt Long Xuyên (nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Thân phụ ông tên là Tôn Văn Đề, còn thân mẫu là bà Nguyễn Thị Di. Gia đình đông con, ông là con cả, nên theo thông lệ miền Nam, ông còn có tên là Hai Thắng.

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân khá giả nên từ nhỏ ông có điều kiện học hành. Năm 1906, sau khi tốt nghiệp Sơ cấp tiểu học Đông Dương (Certificat d’Etudes Primaires Complémentaires IndochinoisesCEPCI) tại Long Xuyên, ông rời quê lên Sài Gòn học nghề thợ máy tại Trường Cơ khí Á Châu (L’école des Mécaniciens Asiatiques), dân gian thường gọi là Trường Bá Nghệ. Tốt nghiệp hạng ưu, ông được nhận vào làm công nhân ở Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn.

Hoạt động cách mạng

Năm 1912, ông tham gia tổ chức công nhân bãi công đòi quyền lợi, vì vậy bị sa thải. Năm 1913, ông sang Pháp làm công nhân ở Toulon (Pháp). Năm 1914, ông bị trưng dụng làm lính thợ cho một đơn vị Hải quân Pháp, tham gia phản chiến chống lại cuộc can thiệp của Đế quốc Pháp vào nước Nga Xô Viết tại Hắc Hải năm (20-4-1919), treo cờ đỏ trên chiến hạm tại đây để ủng hộ Cách mạng Nga[3].

Năm 1920, ông về nước, xây dựng cơ sở công hội (tiền thân của Công đoàn Việt Nam), vận động công nhân đấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1925, quyết tâm trì hoãn việc sửa chữa chiếc Đô đốc hạm Jules Michelet trong đoàn tàu chiến Pháp đang trên đường sang Trung Quốc [4]. Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ, bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn (1928), kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo (1930-1945). Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Đảo.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến, giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1945). Ông là Phó ban Thường trực Quốc hội (1946-1955), Quyền Trưởng ban (1948-1955) rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955-1960), tương đương Chủ tịch Quốc hội sau này. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.

Về mặt chính quyền, ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 5 năm 1947-tháng 11 năm 1947); Thanh tra đặc biệt toàn quốc (tháng 8 năm 1947), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960-1969), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1969-1980).

Về mặt Đảng, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1947, và khóa II đến khóa IV.

Về mặt đoàn thể, ông là Phó hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (1946-1951), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951-1955), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1977), Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977-1981). (Kế nhiệm ông tại Mặt trận là ông Hoàng Quốc Việt).

Ông qua đời ngày 30 tháng 3 năm 1980 tại Hà Nội.

Nghiên cứu và nhận định trái chiều

Ngôi nhà sàn kỷ niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên cù lao Ông Hổ (Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên).

Theo ông Christoph Giebel [5], giáo sư khoa Sử tại Đại học Washington, Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng (“Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức” – Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory[6]) cho rằng “không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế chiến thứ nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các hoạt động cách mạng tại Sài Gòn”, ông Tôn không bị bắt lính sang Pháp năm 1914 mà được tuyển mộ. Trong sự kiện ở Hắc Hải năm 1919, Giebel “tin rằng ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kì con tàu nào của Pháp liên quan vụ binh biến ở Hắc Hải”, bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên một trong những con tàu ở Hắc Hải để kết nối cách mạng Việt Nam với Cách mạng tháng Mười Nga. Trong cuộc đình công ở Ba Son năm 1925, theo Giebel không phải là một cuộc đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không “giam chân” được chiến hạm Pháp trên đường đến Trung Quốc[7].

Tưởng niệm

Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng năm 1958, nhâp dịp ông 70 tuổi và là người đầu tiên được tặng Huân chương này.

Cũng trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của ông, đoàn Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ đã trao tặng Chủ tịch Tôn Đức Thắng Huân chương Xukhe Bato – huân chương cao quý nhất của Mông Cổ [cần dẫn nguồn].

Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên nhận được giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin do Chính phủ Liên bang Xô viết trao tặng[8][9].

Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa, Ukraina vì liên quan đến sự kiện phản chiến ở Hắc Hải [cần dẫn nguồn], và cũng là tên của một trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều con đường ở Việt Nam cũng được đặt tên theo tên ông.

LB: Hãy kiểm tra xem có Hồ Sơ tù của Tôn Đức Thắng không?

Không thể một người chưa vào đảng mà bị bắt từ trước khi có đảng: “bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn (1928), kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo (1930-1945).” rồi: “Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Đảo.” thế mà sau 18 năm ở tù ra tù lại: “Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến, giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1945). Ông là Phó ban Thường trực Quốc hội (1946-1955),”…!

Ngờ lắm!

Sao Phạm Văn Đồng không kết nạp giống Tôn?

  1. Người liên quan!

Liệt sĩ Nguyễn Xưởng, từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ tại xưởng Ba Son, hy sinh năm 1952 – Con trai cũng hy Sinh 1972!

http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_B%E1%BA%A3y_%28B%29

Nguyễn Văn Bảy (?-1972), biệt danh Bảy B là một phi công không quân nhân dân, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Văn Bảy quê ở xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Bạc Liêu (đến năm 1956 mới có tên gọi Cà Mau). Cha ông Nguyễn Văn Bảy là Liệt sĩ Nguyễn Xưởng, từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ tại xưởng Ba Son, hy sinh năm 1952. Mẹ là Nguyễn Thị Lư, cũng là quân nhân.

Năm 1954, Nguyễn Văn Bảy và gia đình tập kết ra miền Bắc. Khi Nguyễn Văn Bảy đang học Đại học Nông nghiệp thì trúng tuyển phi công, được đưa đi đào tạo tại Liên Xô.

…Ngày 6 tháng 5 năm 1972, biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Bảy không chiến với hai mươi tư máy bay cường kích Mỹ bao gồm các loại A-6, A-7, F-4 nhằm ngăn chặn không quân Mỹ bắn phá miền Bắc. Sau khi bắn hạ một chiếc A-6, máy bay của Nguyễn Văn Bảy bị rơi trên bầu trời Thanh Hóa. Từ vùng trời huyện Bá Thước, máy bay lao xuống ngọn núi Pu Ví, xã Tân Thành, vùng núi hiểm trở huyện Thường Xuân. Ông được chôn cất anh ở chân núi Lê Lai, sau đó di dời về nghĩa trang huyện Quảng Xương. Sau nhiều năm tìm kiếm, đến những năm 90 với sự giúp đỡ của các bạn chiến đấu cũ như Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Bảy (A), Mai Văn Cương… thi hài của ông được đem về mai táng tại quê nhà.

Năm 1994, Nguyễn Văn Bảy B được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhầm lẫn

Một số nguồn thông tin thường nhầm lẫn Nguyễn Văn Bảy (B), phi công đã ném bom tàu chiến Hoa Kỳ tại Quảng Bình với Nguyễn Văn Bảy (A), một “Ách” của Không quân Nhân dân Việt Nam.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s