ĐẠI TÁ THAM NHŨNG TRẦN DỤ CHÂU (NHÂN VẬT NGOÀI ĐỜI CỦA VỞ KỊCH NỔI TIẾNG: “ĐÊM TRẮNG”) LÀ NGƯỜI VIỆT HAY TÀU?

Lời dẫn. Trần Dụ Châu bị xử tử do tham nhũng là câu chuyện về việc chống tham nhũng nổi tiếng ở Việt Nam. Trần Dụ Châu bị giết là thật! Tuy nhiên, sự thật là gì? Có thật Trần Dụ Châu bị xử tử do tham nhũng – hay bị giết bởi vì là “Cộng sản Nguyễn Ái Quốc” còn sót? Hay hắn ta là một tên người Tàu do Hồ tuyển lựa mang sang để làm người Việt Nam như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn… rồi hắn có nguy cơ làm lộ tung tích mà Hồ phải giết đi để bịt đầu mối? (Tức là: Trần Dụ Châu bị xử tử do tham nhũng chỉ là cái vỏ bề ngoài.)

Đâu là sự thật?

“Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung…Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung…” (Văn bản 1)

Vậy đích thực “một tỉnh miền Trung” là ở tỉnh nào, huyện, xã, thôn nào? Con ông bà nào? Hậu duệ bây giờ là ai? Ở đâu?

Đâu là sự thật?

                Phải chăng “Bác” là người Tàu, nên tay chân thân cận của “Bác” cũng chỉ có thể có quê là “một tỉnh miền Trung”! (Như Võ Nguyên Giáp được bảo là con một gia đình ở Quảng Bình thì cả 2 bên “gia đình nội” và “gia đình vợ” đều có người bố chết và chết rất nhiều người thân! Như Phạm Văn Đồng được bảo là con một gia đình ở Quảng Ngãi thì sau 1975 – khi Đồng thăm anh trai, thì anh trai đau quặn ruột mà chết… – xem thêm: QUYỂN 6. VÕ NGUYÊN GIÁP, PHẠM VĂN ĐỒNG – THÁNH NHÂN HAY ÁC QUỶ?. (suthatdangcsvn.org/tai-lieu))

Đâu là sự thật?

  1. Trần Dụ Châu, Lê Sỹ Cửu tham nhũng bao nhiêu?
  1. Trần Dụ Châu tham nhũng bao nhiêu?

“Châu lấy cắp của công quỹ một số tiền lớn : 57.959 đồng Việt Nam, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng Việt Nam. Giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn năm 1950 là 50 đồng/một kg…”(Văn bản 1)

Nhận xét: Nếu câu chuyện là đúng như trên thì Trần Dụ Châu chỉ ăn cắp tối đa là 4 tấn gạo và 149 đô la! Khép tội chết vẫn đúng!

  1. Lê Sĩ Cửu tham nhũng bao nhiêu?

“Lê Sĩ Cửu khai trước Ban Kiểm tra của Bộ Quốc phòng : Mỗi khi đi mua vải về cho Ban Thế phẩm, Cửu cho tăng giá thêm từ 20 đến 25 đồng mỗi tấm để lấy tiền đút túi. Trong một chuyến mua vải mộc và vải diềm bâu, Cửu lấy được 50 vạn đồng. Khi xuất kho vải giao cho cơ sở nhuộm, Cửu chỉ tính số tấm, không tính số vuông; cho xẻ đôi những tấm vải dài để nhuộm, khi nhận về kho số vải đã nhuộm, dôi ra 1.225 tấm vải, bỏ túi riêng được 66 vạn đồng. Người bán vải giao hàng tận kho, không tính tiền vận chuyển, nhưng Cửu lại tính với Ban phải trả phí vận chuyển. Khi nhà thầu lĩnh hàng thì phải cung cấp đầy đủ khuy cúc, nhưng Cửu tính với Ban tiền khuy cúc riêng. Với hai thủ đoạn trên, Cửu cũng lấy được 4 vạn đồng.” (Văn bản 1)

                Nhận xét: Nếu câu chuyện là đúng như trên thì chỉ một chuyến Lê Sĩ Cửu đã “Trong một chuyến mua vải mộc và vải diềm bâu, Cửu lấy được 50 vạn đồng.” Tức = 10 tấn gạo!

                Chỉ 3 câu chuyện ví dụ ở trên Lê Sĩ Cửu đã tham nhũng 120 vạn đồng! Tức = 24 tấn gạo!

                Vậy nhiều “chuyến” là rất nhiều so với số liệu tham nhũng của Trần Dụ Châu ở trên!

  1. Trần Dụ Châu viết thư vu cáo?

“Tối ngày 27/5/1950, Châu gọi một nhân viên tay sai đến nhà, cho uống rượu, ăn cơm. Rồi Châu đọc cho nhân viên đó viết một bức thư gửi Đại tướng Tổng Tư Lệnh, báo cáo rằng “trong Nha Quân Nhu có một tổ chức gây chia rẽ và phá hoại quân đội ta”.” (Văn bản 1)

Nhận xét: “Châu đọc cho nhân viên đó viết một bức thư gửi Đại tướng Tổng Tư Lệnh, báo cáo rằng …” Có đúng là Châu đã làm vậy? Hay chính là Hồ đã làm vậy để có bức thư của Đoàn Phú Tứ như sau đây, rồi Hồ lại vu cho Châu như vậy?

III. Đoàn Phú Tứ – 1950 là người “Đại Yêu Nước”! NhưngNhưng ông đã đào nhiệm từ năm 1951“!

Đoàn Phú Tứ từ một người đại biểu Quốc hội khóa 1, một người “Đại Yêu Nước” – đến “kẻ đào tẩu” chỉ cách nhau vài tháng!

  1. Đoàn Phú Tứ từ một người Đại Yêu Nước

Một đêm hè 1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi lên cho Bác. Bác đã đọc kỹ lá thư này và rất đau lòng!”.

Rồi Bác giao cho Thiếu tướng khẩn trương điều tra vụ việc. Khi đó ông là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra quân đội.

Thư có ghi: “Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu gần đây đã gây nhiều dư luận bất bình trong anh em binh sĩ quân đội. Châu đã dùng quyền lực “ban phát” ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp. Cứ mỗi cái màn lính, Châu ăn cắp mất hai tấc vải nên hãy ngồi lên là đầu chạm đỉnh màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào. Nhiều người biết đấy nhưng không ai dám ho he…

Cháu cùng với một đoàn nhà văn đi thăm và úy lạo các đơn vị bộ đội vừa đi đánh giặc trở về. Cháu đã khóc nấc lên khi thấy các chiến sĩ bị thương thiếu thuốc men, bông băng và hầu hết các chiến sĩ đều rách rưới “võ vàng đói rét”, chỉ còn mắt với răng mà mùa đông tiết thời chiến khu lạnh lắm, lạnh tới mức nước đóng băng…”.

Sau đó, nhà thơ kể đã được Châu mời dự tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu tổ chức ngay chiến khu: “… Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên. Ban nhạc Cảnh Thân được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt. Trần Dụ Châu mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới…”.

Ngạo mạn hơn, Châu mời nhà thơ đọc thơ mừng hôn lễ. Đoàn Phú Tứ với lòng tự trọng của mình đã dũng cảm xuất khẩu: “Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay được dọn bằng xương máu của các chiến sĩ”. ” (Văn bản 2)

  1. Đến “kẻ đào tẩu”

“Cái khó ló cái khôn. Trong đầu tôi chợt lóe lên “sáng kiến”: Nghe nói Đoàn Phú Tứ đã từng là đại biểu Quốc hội khóa I, vậy mình sẽ lên thẳng Quốc hội xin tiền làm ma cho ông. ” (Văn bản 5)

“Bức thư gửi lên đồng chí Lê Quang Đạo được anh Thọ đọc to lên cho tất cả cùng nghe. Vụ trưởng Vụ Chính sách trạc năm mươi tuổi, người cao gầy, ánh mắt sắc sảo, nói: “Trước khi bàn bạc cách giải quyết, chúng ta phải cần kiểm tra xem ông Đoàn Phú Tứ có phải là đại biểu Quốc hội không đã…” Ông đứng lên ra khỏi phòng họp một lúc rồi trở vào, tay cầm cuốn sổ dày cộp, bìa bọc vải có chữ mạ vàng. Ông đặt cuốn sổ trước mặt tôi, giới thiệu: “Đây là Kỷ yếu danh sách đại biểu Quốc hội từ khóa I đến nay. Tên đại biểu được xếp theo vần A, B, C. Đoàn Phú Tứ, ta tra vần T. Ông lật giở kỷ yếu tìm vần T. Chúng tôi cùng chụm đầu trên ba trang vần T. Không có tên Đoàn Phú Tứ. Tôi tái mặt… Dò tìm lại lần nữa. Có tên Nguyễn Đình Thi, Phan Tứ… nhưng Đoàn Phú Tứ thì không. Tôi hoảng sợ thật sự. Thật ra, việc Đoàn Phú Tứ là đại biểu Quốc hội khóa I thì tôi cũng chỉ nghe nói vậy thôi, chứ chưa bao giờ hỏi thẳng ông… Nếu Đoàn Phú Tứ không phải là đại biểu Quốc hội thì những con người sắc sảo này sẽ nhận ra ngay sự gian dối của bức thư. Như vậy thì tôi đã tự chuốc lấy một hoàn cảnh hết sức lố bịch. Tôi chợt nghĩ: vẫn còn một tia hy vọng. Tôi nói: “Nhưng nhà thơ Đoàn Phú Tứ chi là đại biểu có mấy năm, sau đó ông bỏ thành…” Vụ trưởng Chính sách nói: “Đây là Kỷ yếu. Trong số này có cả tên Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh”.

Lúc này tôi chỉ muốn chui xuống đất. Tôi lắp bắp, ấp úng: “Việc này tôi nghe các anh ở Hội Nhà văn nói chắc lắm. Có lẽ để tôi về hỏi lại anh Nguyễn Đình Thi xem sao. Anh Thi cũng là đại biểu Quốc hội khóa I…”. Miệng nói, chân tôi dợm đứng lên, cốt làm sao rút được ra nhanh khỏi gian phòng họp. Bất chợt tôi nhìn thấy trong sổ Kỷ yếu có mục: Những đại biểu Quốc hội đào nhiệm. Tôi hồi hộp nói: “Thử tra cứu mục này xem có tên ông Tứ không?”

Ngón tay trỏ tôi lần dọc theo các hàng tên… “Đoàn Phú Tứ đây rồi!” – Tôi nói gần như reo. Vụ trưởng Chính sách xem xét lại lần nữa, rồi gật đầu: “Qua khâu kiểm tra, ông Đoàn Phú Tứ đúng là có danh sách trong đại biểu Quốc hội. Nhưng ông đã đào nhiệm từ năm 1951… “(Văn bản 5)

Nhận xét: Có thể nào “Đoàn Phú Tứ từ một người “Đại Yêu Nước” – đến “kẻ đào tẩu” chỉ cách nhau vài tháng”?

Tại sao Đoàn Phú Tứ từ một người đại biểu Quốc hội khóa 1, một người “Đại Yêu Nước” – đến “kẻ đào tẩu” chỉ cách nhau vài tháng?

“Bức thư” có là thật hay chúng đã bịa ra?

Liệu có thật “lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ” Hay là “Bác” đã tạo ra một “bức thư” theo đúng kiểu người ta đã gán cho Trần Dụ Châu bịa thư như ở phần II?

  1. Tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu” hay của “Bùi Minh Chân”?
  2. Nhà thơ Đoàn Phú Tứ – dựtiệc cưới của Lê Sĩ Cửu“!

“Sau đó, nhà thơ kể đã được Châu mời dự tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu tổ chức ngay chiến khu: “… Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng…”.” (Văn bản 1)

“Thế còn chú rể Lê Sĩ Cửu?”. Tôi hỏi. “Hắn tự sát trong nhà tù để khỏi phải phơi mặt trước vành móng ngựa”. ” (Văn bản 5)

  1. Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn lại đi dự đám cưới: Chú rể là Bùi Minh Chân.”!

“Đến đây tôi xin nói rõ về ba nhân vật chính trong đám cưới ngày 4-4-1950 tại làng Lang Tạ:

Chú rể là Bùi Minh Chân.

– Chủ hôn là Trần Dụ Châu.

– Trưởng ban lễ cưới là Lê Sỹ Cửu.

Sau khi luận tội là hết sức nghiêm trọng, tòa đã tuyên án tử hình Trần Dụ Châu về tội tham nhũng. Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân mỗi người 10 năm tù giam. …” (Văn bản 3)

Nhận xét: Trong vụ án này có 2 đám cưới?

Trong tiệc do quá chén thách đố và khích bác nhau có xảy ra xô xát giữa nhà văn Đ.P.T. với một đại biểu bạn thân của ông chủ hôn.” (văn bản 3) như vậy “nhà văn Đ.P.T” dự cả đám cưới của Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân? Và đám cưới nào Nhà văn Đoàn Phú Tứ cũng phản ứng (Đám của Lê Sỹ Cửu thì: “Ngạo mạn hơn, Châu mời nhà thơ đọc thơ mừng hôn lễ. Đoàn Phú Tứ với lòng tự trọng của mình đã dũng cảm xuất khẩu: “Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay được dọn bằng xương máu của các chiến sĩ”… ” (Văn bản 2)

  1. Thời gian dự đám cưới của “Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.

“với bài báo ngắn gọn Ăn cắp hay buôn lậu ở mục “Thi phát biểu ý kiến” trên số báo 1.548 ra ngày 15-5-1950 của Hữu Danh, bút danh của cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.

Nhân ngày giỗ đầu của cụ Nguyễn Đình Tốn (2-7-2005 – 2-7-2006), chúng tôi xin được giới thiệu lại nguyên vẹn bài báo có tính lịch sử đó …”

“Tôi thì không xin được vào cơ quan nên mở quán giải khát ở phố Mỏ Chè gần thị xã Thái Nguyên. Một hôm anh Mưu đi qua vào uống nước, nhận được bạn cũ mừng quá!

Anh mời tôi đến ngày 4-4-1950 dự lễ cưới một người bạn thân, anh còn dặn tôi là nên ăn mặc kha khá, càng sang càng hay. Tôi đã phải đi mượn cái quần kaki để khỏi làm xấu đám cưới của người ta.” (văn bản 3)

  1. Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.” viết báo ngay sau khi dự đám cưới.

Từ giã đám cưới ra về, tôi cảm thấy nhức nhối vì thấy đấy là một ổ sa đọa, trụy lạc, tham ô, hủ hóa móc ngoặc được ô dù cao cấp che chở.

… Do chướng tai gai mắt, mấy hôm sau tôi viết bài gửi báo Cứu Quốc để phê phán. Tôi viết dưới dạng châm biếm nhẹ nhàng nhưng báo đã sửa chữa, thêm bớt thành một nhát búa lớn bổ vào đầu kẻ làm bậy. Tít bài báo cũng đổi thành Ăn cắp hay buôn lậu. Dư luận ở Việt Bắc ầm lên, bàn tán suy luận về các nhân vật trong đám cưới.

Độ một tuần sau bỗng nhiên anh Phạm Mạnh Tân đến chơi thăm tôi và gợi ý hỏi tôi về việc đi dự đám cưới này. Anh Tân đã đến tòa báo để khai thác tên thật và địa chỉ của tôi.

Kể rõ về đám cưới cho anh Tân nghe vì anh cũng là bạn đồng hương nên tôi cho đây chỉ là chuyện bình thường, không ngờ một tuần sau, một công văn do ông trưởng Ty Công an tỉnh ký mời tôi lên ty để khai nhân chứng về đám cưới hôm nọ…(văn bản 3)

Nhận xét: Như vậy, Công an đã điều tra ngay sau bài báo củaCán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.khi dự đám cưới ngày 4-4-1950 – Đám cưới có chú rể là “Bùi Minh Chân“! Thì chắc hẳn Lê Sỹ Cửu chẳng dám tổ chức một đám cưới linh đình sau đó để Đoàn Phú Tứ phải tố cáo bằng một bức thư “Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ” vào “Một đêm hè 1950” nữa!

Tức là chỉ có 1 đám cưới!

Vậy tại sao “đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ” thì nói “dự tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu ” còn “Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.” thì lại dự tiệc cưới mà có chú rể là “Bùi Minh Chân“?

Đâu là sự thật? Ai đúng? Ai sai? Hay cả hai đều là láo toét?

Đoàn Phú Tứ” viết thư là thật? Hay người ta đã bịa ra thư của ông? Nếu thư là bịa thì “Đoàn Phú Tứ” thấy nói như vậy thì lại nhận vơ vào mình mà kể cho Phùng Quán để rồi Phùng Quán viết “Ba Phút Sự Thật” (Văn bản 5) hay là do Phùng Quán bịa ra?

Phùng Quán bịa ra hay khi xuất bản thì nhà xuất bản đã được ai đó chỉ đạo mà thực hiện thêm bớt theo kiểu của bài báo Ăn cắp hay buôn lậu ở mục “Thi phát biểu ý kiến” trên số báo 1.548 ra ngày 15-5-1950 của Hữu Danh, bút danh của cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn?

Hãy nghe “Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn” kể đây: “Tôi viết dưới dạng châm biếm nhẹ nhàng nhưng báo đã sửa chữa, thêm bớt thành một nhát búa lớn bổ vào đầu kẻ làm bậy.

  1. Mô tả đám cưới.
  2. Mô tả đám cưới của bài báo đứng tên “Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn”.

“Chiều ngày 4-4-1950 tôi đến đầu làng Lang Tạ gần phố Cò hỏi thăm vào làng thì người ta chỉ ngay là “đồng chí cứ đi đến chỗ nào thấy một cái nhà to mới cất, cạnh đấy có nhiều người đang mổ gà, mổ lợn ở bờ sông”.

Một cái nhà bảy gian kiểu hội trường mới toanh tách rời xóm làng là phòng cưới dã chiến. Giữa nhà kê một bàn dài rộng trải khăn bàn bằng vải trúc bâu trắng, phía đầu bên phải là dãy bàn ngang tạo thành chữ T. Bàn này dành cho dàn nhạc kèn đồng giúp vui cho bữa tiệc. Phía bên trái nối liền với một nhà năm gian để cho khách ngủ lại đêm và là nơi sửa soạn cỗ bàn.

Bắt đầu vào tiệc, tôi hoa cả mắt vì các bát đĩa sứ, cốc pha lê mới khuân ở Hà Nội ra qua cửa khẩu Chợ Me.

Nhìn quanh phòng không thấy có đèn măngsông mà toàn là nến to ta quen gọi là nến nhà thờ gắn tứ phía sát vách, tôi đã đếm được ngót trăm cây. Một ông trong ban tổ chức trả lời thắc mắc của tôi: “Tại các tiệc lớn trên thế giới người ta đều thắp nến thay đèn điện vì nến tạo ra ánh sáng lung linh, ngoạn mục”. Thì ra đây là một đại tiệc văn minh quí tộc lần đầu tiên xuất hiện ở VN.

Đúng bảy giờ tối, ban tổ chức khai mạc lễ cưới, chủ yếu là giới thiệu ông chủ hôn, cô dâu, chú rể và một số quan khách cao cấp.

Cô dâu ăn mặc lộng lẫy, áo gấm Thượng Hải màu nhạt, tay đeo hai ba nhẫn kim cương, dây chuyền ngọc thạch trước ngực, chân đi hài công chúa. Chú rể mặc bộ comlê títso xoa, tay đeo đồng hồ Lông-din. Bề ngoài cặp này rất đẹp đôi!

Vào tiệc là những tiếng bốp bốp của rượu sâm banh và cốt-nhát (cô nhắc) khiến cho nhiều quan khách giật mình. Về phần tôi thì xin thú thật là lần đầu tiên được uống. Cũng có vài thứ rượu nhẹ hơn như canh-ki-na, vang. Các món ăn nhậu thì có chim, gà, vây bóng, tôm, cua bể và ít món nữa tôi không nhớ hết.

Để có được bữa tiệc rượu sơn hào hải vị này, ban tổ chức đã phải thuê một tốp đầu bếp giỏi ở Hà Nội ra phục vụ với giá công rất cao. Có người hỏi tiệc nhiều món thế thì ăn sao hết? Xin giải thích luôn là họ đã khéo bố trí ăn theo kiểu vừa Âu vừa Á và kéo dài đến nửa đêm.

Cứ độ một giờ họ lại thay đổi món, xen kẽ hoa quả quí như lê, táo Trung Quốc và bánh ngọt Bôđêga. Trong bữa tiệc, có tiếng thì thầm của khách là bốn năm nay mình mới lại được thưởng thức các đồ này.

Thuốc lá thì toàn là ba con 5. Quan khách vừa ăn uống vừa nghe nhạc sống của tốp nhạc gánh xiếc Long Tiên ở khu Ba vừa lên do ông L.X.T. làm nhóm trưởng. Ông T. đã được trả một số tiền khá lớn về công phục vụ đêm liên hoan này.

Ban tổ chức lại rất tâm lý, đã cho bê cà phê sữa lên lúc nửa đêm do đó khách lại tỉnh như sáo và trò chuyện hát hò, ngâm thơ, nghe nhạc đến gần 2 giờ sáng mới giải tán. Trong tiệc do quá chén thách đố và khích bác nhau có xảy ra xô xát giữa nhà văn Đ.P.T. với một đại biểu bạn thân của ông chủ hôn.

Sáng hôm sau tôi được ban tổ chức nhờ tiêm pênixilin cho vài người, có cả nữ giới. Trong khi chờ cơm sáng, tôi cứ thấy họ xì xào mời mảnh người này người khác sang nhà hàng xóm làm gì không biết.

Tự nghĩ tại sao mình cũng là khách mà không được mời, họ phân biệt đối xử bất lịch sự ! Để dò la, tôi giả vờ đi tiểu để nhìn qua khe cửa thì té ra bọn này kéo nhau luân phiên sang hút thuốc phiện. Biết tôi không hút nên họ đã không mời, còn mấy người vừa được tôi tiêm hộ thì sau đó anh Mưu cho biết đó là mấy chàng và nàng trong băng buôn lậu dan díu với nhau mắc bệnh kín.” (Văn bản 3)

  1. Mô tả đám cưới của theo bức thư của Đoàn Phú Tứ.

“… Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên. Ban nhạc Cảnh Thân được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt. Trần Dụ Châu mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới…”.

Nhận xét:

Hãy nghe Cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.kể đây: “… Do chướng tai gai mắt, mấy hôm sau tôi viết bài gửi báo Cứu Quốc để phê phán. Tôi viết dưới dạng châm biếm nhẹ nhàng nhưng báo đã sửa chữa, thêm bớt thành một nhát búa lớn bổ vào đầu kẻ làm bậy.

                Đúng thôi, cách làm “Tôi viết dưới dạng châm biếm nhẹ nhàng nhưng báo đã sửa chữa, thêm bớt thành một nhát búa lớn bổ vào đầu kẻ làm bậy.” đã tồn tại đến tận hôm nay! Chắc độc giả còn nhớ khi PMU18 chưa bị “Đánh” tham nhũng thì Bùi Tiến Dũng và Nguyễn Việt Tiến luôn luôn là “cháu ngoan Bác Hồ!” và “Đảng viên ưu tú loại I”! Nhưng khi bị “Đánh” thì họ viết: “nhà hàng Phố Núi, là nơi thường xuyên lui tới của nhiều quan chức thuộc PMU18, đặc biệt là Bùi Tiến Dũng và Nguyễn Việt Tiến. Hai quan chức này không chỉ đến đây ăn uống mà còn có những trò sa đạo về đạo đức ngay tại căn phòng ngủ của vợ chồng chủ nhà hàng. Ít nhất đã có 2 câu chuyện sa đoạ được đăng tải trên một số báo. Câu chuyện thứ nhất, đó là Bùi Tiến Dũng đã dùng phòng riêng của chủ nhà hàng làm nơi đánh bạc, có 4 “hầu gái” sinh viên trong trang phục “eva” đứng 4 góc, mỗi một ván bài, người thua cuộc lại phải ngậm nhũ hoa của tiếp viên trước mặt tất cả mọi người. Chuyện thứ 2 đó là nhân dịp lên chức thứ trưởng, ông Nguyễn Việt Tiến đã tổ chức bữa tiệc mừng “hoành tráng” tại nhà hàng Phố Núi. 4 cô nhân viên nude ngồi trong một chiếc thùng to đổ đầy bia, khách đến cứ việc tưới bia vào bất cứ chỗ nào họ thích và sau đó múc bia uống…” (“Căn phòng sa đọa “ của Bùi Tiến Dũng – Báo Thanh Niên ngày 11-04-2006)

                Đúng là thầy nào trò nấy!

                (Lưu ý, ở đây không có ý cải chính cho Bùi Tiến Dũng, mà chỉ nói lên một sự thật là: khi chưa lộ thì “Đảng viên CS” rất tốt – khi lộ thì… ngang với cục phân!)

  1. Bị cáo Lê Sỹ Cửu, Bùi Minh Chân bị án 10 năm hay tử hình? Vụ án có 2 hay 3 bị cáo?
  2. Lê Sỹ Cửu bị án “tử hình vắng mặt” và vụ án có 2 bị cáo!

“Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng.” (Văn bản 1)

“Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu.

Thiếu tướng chánh án đứng lên tuyên án:

– Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: tử hình; tịch thu ba phần tư tài sản.

– Lê Sĩ Cửu can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn lậu, giả mạo giấy tờ; tử hình vắng mặt.

Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác. Một cán bộ đọc to bức công điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin giảm tội của Châu…” (Văn bản 1)

                “Kết thúc phiên tòa, hai bị cáo trong vụ án này là Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu bị tuyên phạt với mức án cao nhất – tử hình.” (Văn bản 4)

Nhận xét: Văn bản 1 và 4 là 2 bài của Báo Công an nhân dân, văn bản 1 viết năm 2005, văn bản 2 viết năm 2010 (Cách nhau 5 năm) như vậy thì không thể có sai sót!

Bài của báo Công an Nhân dân thì chả lẽ không đáng tin ư?

  1. Lê Sỹ Cửu tự sát.

“Một tuần sau tòa án quân sự được thiết lập cũng tại khu vực hội trường đó. Trần Dụ Châu bị điệu ra trước vành móng ngựa, cúi đầu nhận hết mọi tội lỗi, và lãnh án tử hình vì tội tham nhũng. Hồ Chủ Tịch đã tự tay ký vào bản án tứ hình. ĐÓ là bản án tử hình đầu tiên mà Người đã ký, kể từ ngày Người lên nhậm chức Chủ tịch nước (2).

…”Thế còn chú rể Lê Sĩ Cửu?”. Tôi hỏi. “Hắn tự sát trong nhà tù để khỏi phải phơi mặt trước vành móng ngựa”. ” (Văn bản 5)

Nhận xét: Đây là lời kể lại của Đoàn Phú Tứ – người viết thư tố cáo gửi đến “bác Hồ”, hẳn là cũng rất đáng tin! (Một đêm hè 1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi lên cho Bác. Bác đã đọc kỹ lá thư này và rất đau lòng!)

  1. Lê Sỹ Cửu, Bùi Minh Chân bị án 10 năm.

Theo (Văn bản 3) – ghi theo hồi ký của Cụ Nguyễn Đình Tốn thì: “…Cuối năm ấy, tôi nhận được giấy mời sang Thái Nguyên dự phiên tòa xử bộ ba:

  1. Trần Dụ Châu, cục trưởng Cục Quân nhu; 2. Lê Sỹ Cửu, trợ lý của Trần Dụ Châu; 3. Bùi Minh Chân, bí thư của Trần Dụ Châu – can tội tham ô làm thất thoát những số tiền lớn của công quĩ.

Tôi không sang dự được vì đường sá quá xa, giao thông không thuận tiện.

Đến đây tôi xin nói rõ về ba nhân vật chính trong đám cưới ngày 4-4-1950 tại làng Lang Tạ:

– Chú rể là Bùi Minh Chân.

– Chủ hôn là Trần Dụ Châu.

– Trưởng ban lễ cưới là Lê Sỹ Cửu.

Sau khi luận tội là hết sức nghiêm trọng, tòa đã tuyên án tử hình Trần Dụ Châu về tội tham nhũng. Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân mỗi người 10 năm tù giam.

Đây là hồi ký của cụ Nguyễn Đình Tốn hẳn là cũng rất đáng tin!

Cụ Nguyễn Đình Tốn là ai? Bài báo trên báo Tuổi trẻ ngày 18/12/2009 viết: “với bài báo ngắn gọn Ăn cắp hay buôn lậu ở mục “Thi phát biểu ý kiến” trên số báo 1.548 ra ngày 15-5-1950 của Hữu Danh, bút danh của cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.

Nhân ngày giỗ đầu của cụ Nguyễn Đình Tốn (2-7-2005 – 2-7-2006), chúng tôi xin được giới thiệu lại nguyên vẹn bài báo có tính lịch sử đó và một đoạn trích trong hồi ký Một đám cưới năm 1950 cũng do cụ viết để tặng ông Lưu Quang Hà, tác giả vở kịchĐêm trắng đã được công diễn nhiều lần ở Hà Nội, một vở kịch dựng phỏng theo câu chuyện của đám cưới mà cụ đã phê phán trên báo Cứu Quốc và tường thuật, miêu tả trong hồi ký…”

Như vậy, bản án của Lê Sỹ Cửu thì chỉ có 1! Mà cả 3 nội dung khác nhau trên lại được viết bởi các báo của Đảng CSVN – trích nguồn đều rất đáng tin!

Vậy là có 3 cái “rất đáng tin” cho một sự thật! Cái “rất đáng tin” nào mới là sự thật?

Bùi Minh Chân ” chỉ là “Chú rể là Bùi Minh Chân” không thấy nói tới tham nhũng bao nhiêu thì chắc hẳn không phải tội đến mức Tử Hình hay Tự sát như Lê Sỹ Cửu! Vậy ít nhất là “Bùi Minh Chân ” phải còn sống! Như vậy trong 3 cái “rất đáng tin” thì tài liệu của cụ Nguyễn Đình Tốn là đáng tin hơn!

VII. Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu là người Việt hay Tàu?

  1. Lý lịch của Trần Dụ Châu.

Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung, Châu bước vào đời bằng đi làm thư ký toà sứ Pháp. Thấy Châu vừa đi làm, vừa viết báo “Thanh – Nghệ – Tĩnh”, e lộ chuyện công sở, toà sứ cho Châu thôi việc. Châu chuyển sang làm nhân viên quận Hoả xa Bắc Trung Kỳ.

Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương tháng 3/1945, Châu được cử làm Trưởng phòng Kế toán Hoả xa Bắc Trung Kỳ. Nhờ quen biết người Nhật Bản, Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong, bán đi có tiền tậu một biệt thự ở Đà Lạt.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Châu hiến cho Nhà nước một phần tài sản của mình, rồi hoạt động trong Uỷ ban Công sở Nha Hoả xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hoả xa. Ngày toàn quốc kháng chiến, Châu ra Bắc, được giao việc chạy một kho hàng lớn hơn ngàn tấn gạo, muối ở Vân Đình, Hà Đông, đưa lên Việt Bắc cho bộ đội.

Là người tháo vát, năng động, có đầu óc kinh doanh, Châu được vào làm ở Cục Quân Nhu. Sau một thời gian làm tốt việc cung cấp lương thực, trang bị cho bộ đội, Châu được phong tặng quân hàm Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu.(Văn bản 1)

“Có địa vị cao, quyền hành rộng, nắm trong tay hàng trăm triệu đồng, cơ chế kiểm tra, kiểm soát lại lỏng lẻo, không biết tự kiềm chế, Châu đi dần vào con đường sa ngã.” (Văn bản 1)

Nhận xét: Điều vô lý ở đây là gì?

Vô lý là: Chỉ có chưa đầy 4 năm mà một viên “thư ký toà sứ Pháp” đã lên tới chức “Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu?

Rõ ràng đây không phải lý lịch thật của Trần Dụ Châu!

Ít nhất đây cũng là một sự tuyên truyền bôi gio trát trấu cho Trần Dụ Châu. (Một phương pháp tuyên truyền thường thấy của CsVn tồn tại cho tới tận ngày nay – xem vụ PMU 18 và các vụ án lớn – tội phạm thường là “ăn chơi trác táng”!

  1. Lý lịch của Lê Sỹ Cửu.

                “Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung, kém Châu 10 tuổi. Cửu mồ côi cha mẹ từ năm 8 tuổi. Năm 12 tuổi, hắn ra Móng Cái, đi làm cho một nhà buôn Hoa Kiều; lớn lên tham gia buôn thuốc phiện lậu trên đường Móng Cái – Hải Phòng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cửu trở về miền Trung, vào làm công an, nhưng được ít lâu thì bị đuổi, liền quay ra Bắc. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cửu gặp và được Châu giới thiệu vào làm ở Ban Vận tải quân giới. Một thời gian sau, lại bị đuổi việc, Cửu lần mò lên Cao Bằng kiếm ăn. Tại đây, tháng 8/1947, gặp lại Châu, Cửu được Châu đưa vào Cục Quân Nhu, làm nhân viên tiếp liệu ở Cao Bằng. Vừa xa Nhà, vừa được Châu che chở, Cửu lộng hành làm bậy, lấy cắp tiền công, ăn tiêu bừa bãi, thường xuyên lui tới các nhà hàng, tiệm hút vùng Cao Bằng.”

Nhận xét: Điều vô lý ở đây là gì?

Vô lý là: Chỉ có chưa đầy 5 năm mà một kẻ “tham gia buôn thuốc phiện lậu trên đường Móng Cái – Hải Phòng.” rồi “Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cửu trở về miền Trung, vào làm công an, nhưng được ít lâu thì bị đuổi” rồi “Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cửu gặp và được Châu giới thiệu vào làm ở Ban Vận tải quân giới. Một thời gian sau, lại bị đuổi việc” rồi “tháng 8/1947, gặp lại Châu, Cửu được Châu đưa vào Cục Quân Nhu, làm nhân viên tiếp liệu ở Cao Bằng.” rồi “Vừa xa Nhà, vừa được Châu che chở, Cửu lộng hành làm bậy, lấy cắp tiền công, ăn tiêu bừa bãi, thường xuyên lui tới các nhà hàng, tiệm hút vùng Cao Bằng”

Không lẽ quân đội của Hồ lại như cái chợ thế sao?

Rõ ràng đây không phải lý lịch thật của Lê Sỹ Cửu!

Ít nhất đây cũng là một sự tuyên truyền bôi gio trát trấu cho Lê Sỹ Cửu. (Một phương pháp tuyên truyền thường thấy của CsVn tồn tại cho tới tận ngày nay – xem vụ PMU 18 và các vụ án lớn – tội phạm thường là “ăn chơi trác táng”!

Câu hỏi đặt ra là: Lý lịch thật của Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu là gì?

Ai cũng biết Hồ không thể dùng “viên chức Pháp” và kẻ “buôn thuốc phiện lậu” và 2 lần bị đuổi như vậy được! (1 lần Công an đuổi và 1 lần Quân đội đuổi)

Chỉ có thể hiểu họ là Cộng sản thật, Cộng sản của Nguyễn Ái Quốc đã bị Hồ phát hiện ra và khép tội để thủ tiêu! Hoặc bọn chúng là những tên người Tàu do Hồ tuyển lựa mang sang để làm người Việt Nam như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn… rồi hắn có nguy cơ làm lộ tung tích mà Hồ phải giết đi?

  1. Có thật Đêm trắng?

                “…Vở kịch Đêm trắng kể chuyện Bác Hồ xem xét án tử hình một cán bộ có chức vụ cao trong quân đội – đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu. Đây là một câu chuyện có thật trong những năm toàn dân và toàn quân ta dồn hết sức người, sức của kháng chiến chống thực dân Pháp (những năm 50 của thế kỷ 20). ” (Văn bản 6)

“…Với cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ đã dành nhiều thời gian đọc lại các văn bản của vụ án, gặp gỡ những người thụ lý, gặp gỡ các thân nhân liên quan trong vụ án. Bác lật giở từng trang ghi chép của điều tra viên, đọc kỹ lời khai, đơn kháng án của Hoàng Trọng Vinh.

…Sau khi đã chuẩn y bản án, Bác phê bình nghiêm khắc một đồng chí cán bộ Trung ương đã lợi dụng cương vị để bao che, dung túng cho Hoàng Trọng Vinh. Bác nói: “Từ ngày mai, đồng chí thôi công tác ở cơ quan Trung ương mà đi về cơ sở để được gần dân, có thực tế nhiều hơn trong công tác”. Bác quay sang chỉ thị cho đồng chí lãnh đạo quân đội có mặt ở đó: “Ngày mai thi hành ngay bản án, đồng thời triệu tập các nhà báo thông báo quyết định đối với bản án, cho in báo kịp thời, cần thiết tăng số lượng phát hành rộng rãi đến nhân dân, nhất là vùng địch hậu để nhân dân, kể cả kẻ địch biết là Đảng ta, Chính phủ ta xử rất nghiêm đối với hành vi tham nhũng, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của nhân dân”. Nói đến đây Bác quay sang hỏi một đồng chí bảo vệ:“Bây giờ là mấy giờ rồi chú?”. Đồng chí bảo vệ: “Thưa Bác, đã gần năm giờ sáng rồi ạ“.

Đêm ấy Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã thức trọn Đêm trắng“…” (Văn bản 7)

Nhận xét: Điều vô lý ở đây là gì?

Vô lý là: Chỉ có chưa đầy 4 năm mà một viên “thư ký toà sứ Pháp” đã lên tới chức “Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu” trong khi lại ăn chơi phè phưỡn như trên, vậy Hồ mù à? Vậy mà để tử hình hắn thì một vị Chủ tịch nước có cần phải thức Trắng đêm?

  1. Tòa án nhân dân hay một tổ chức Mafia?

“Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y… ” (Xã luận báo Cứu quốc ngày 27/9/1950) (Văn bản 1)

Tại sao không cho chống án? mà lại: “Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn…”?

VIII. Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu, Bùi Minh Chân quê ở tỉnh nào? Có bố mẹ, anh chị em, vợ con làm gì? Ở đâu?

  1. Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu sinh ra ở tỉnh nào?

“Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung” (Văn bản 1)

“Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung…” (Văn bản 1)

Nhận xét: Cả nước có 63 tỉnh thành, miền Trung có 18 tỉnh! Nói như trên thì 2 người này thuộc tỉnh nào, huyện, xã, thôn nào?

  1. Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân khi hết án 10 năm tù thì họ về đâu?

Có lẽ báo Tuổi trẻ ngày 18/12/2009: “giới thiệu lại nguyên vẹn bài báo có tính lịch sử đó và một đoạn trích trong hồi ký Một đám cưới năm 1950 cũng do cụ viết ” thì đáng tin hơn! Như vậy “Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân mỗi người 10 năm tù giam.” thì khi hết án họ về đâu? Gia đình của họ ở đâu?

Quãng đời sau khi hết án 10 năm của họ ra sao?

Hỏi thật, chỉ mình Trần Dụ Châu bị giết hay cả 3 đã bị giết? Nếu chỉ mình Trần Dụ Châu bị tử hình thì 3 người kia phải có cuộc sống sau thời điểm thụ án chứ?

Họ là ai?

Hỏi thật, họ người Việt hay Tàu?

Nếu người Việt thì rõ ràng họ phải thuộc tỉnh nào, huyện, xã, thôn nào? Chết năm bao nhiêu?

Bùi Minh Chân ” chỉ là “Chú rể là Bùi Minh Chân” không thấy nói tới tham nhũng bao nhiêu thì chắc hẳn không phải tội đến mức Tử Hình hay Tự sát như Lê Sỹ Cửu! Vậy ít nhất là “Bùi Minh Chân ” phải còn sống! Như vậy trong 3 cái “rất đáng tin” thì tài liệu của cụ Nguyễn Đình Tốn là đáng tin hơn!

Vậy sau khi mãn án thì “Bùi Minh Chân ” về sống ở tỉnh nào, huyện, xã, thôn nào? Chết năm bao nhiêu? Có thực hiện chế độ quản thúc như các “tù nhân” viết báo hiện nay? Ai, địa phương nào thực hiện quản thúc ông ta?

  1. Cô dâu – nhân vật trong “đám cưới năm 1950”.

Cô dâu – nhân vật trong “đám cưới năm 1950” sau này sống ở tỉnh nào, huyện, xã, thôn nào? Chết năm bao nhiêu? Người thân là ai?

  1. Vợ con của Trần Dụ Châu, Lê Sỹ Cửu sau này ra rao?

Trong mỗi chúng ta không ít người đã được nghe hoặc xem vở kịch “Đêm trắng” của tác giả Lưu Quang Hà. Đây là vở kịch dựng lại câu chuyện lịch sử có thật xảy ra vào …năm 1950.Đầu tiên Bác cho gọi chị Hiền-vợ của bị cáo Hoàng Trọng Vinh. Hình ảnh của Hiền bước ra gặp Bác thật cảm động. Chị nghẹn ngào chào Bác và nói: “Thưa Bác, mặc dù khi có chức có quyền, có tiền, anh ấy ruồng rẫy mẹ con cháu…” …Bác nghiêm nét mặt nói: “Khi có chức, có quyền thì chú quên vợ con, bây giờ lại lấy vợ con ra như là một cái bình phong để che chắn cho mình. Hành động và tội lỗi của chú không thể có ở một người chiến sĩ cách mạng” và Bác quyết định ký chuẩn y bản án tử hình đối với Đại tá-Cục trưởng Cục Quân nhu Hoàng Trọng Vinh.”

Nhận xét: Đó là kịch! Nhưng ngoài đời thường thì Trần Dụ Châu, Lê Sỹ Cửu hẳn là cũng có vợ có con chứ? Họ đâu? Hậu duệ đến giờ là ai?

  1. Số phận người nhận lệnh của “Bác” để “điều tra vụ án”.(Hay chuyện: Trần Tử Bình – nhận việc lớn – chết đột ngột.)
  1. Trần Tử Bình – nhận việc lớn

Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư … Rồi Bác giao cho Thiếu tướng khẩn trương điều tra vụ việc. …

Một đêm hè 1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi lên cho Bác. Bác đã đọc kỹ lá thư này và rất đau lòng!”.

Rồi Bác giao cho Thiếu tướng khẩn trương điều tra vụ việc. Khi đó ông là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra quân đội.” (văn bản 2)

Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo ủy viên

Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Tòa án Binh tối cao mở phiên tòa đặc biệt xử Trần Dụ Châu. Chưa đến giờ khai mạc nhưng trong, ngoài đã chật ních người. Tại cửa có căng khẩu hiệu “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử án treo 2 khẩu hiệu “Quân pháp vô thân!” và “Trừng trị để giáo huấn!”.

Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội, Tòa án Binh tối cao có mặt. Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án cùng 2 Hội thẩm viên: Phạm Học Hải – Giám đốc Tư pháp Liên khu Việt Bắc và Trần Tấn – Cục phó Cục Quân nhu.

Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo ủy viên. Tới dự còn có ông Nguyễn Khang – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu Việt Bắc, Võ Dương – Liên khu hội trưởng Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung – Giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn cùng đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.” (văn bản 2)

  1. Trần Tử Bình – chết đột ngột.

                “Những ngày giáp Tết Đinh Mùi 1967, cha tôi về họp Trung ương, không may bị cảm lạnh phải cấp cứu vào Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Chiều 30 tết, mẹ tôi và em gái Hạnh Phúc đang ngồi chơi với cha thì thấy Bác và chú Vũ Kỳ đến thăm.

                …Ai ngờ, chỉ 3 ngày sau, sớm mùng 3 Tết, cha tôi chuyển bệnh và vĩnh viễn ra đi.” (Văn bản 8)

                Phải chăng là giết người diệt khẩu?

(Tất nhiên, Trần Tử Bình không chỉ có việc lớn đó, ông ta còn nhận một việc trọng đại khác là Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc từ 1959 đến khi chết!)

(Ngoài ra nhân vật “Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án” về cuối đời cũng bị quản thúc đến khi chết!)

Rõ ràng đây là một bí ẩn lịch sử không nhỏ!

(Nên nhớ, giai đoạn 1947 – 1957 Hồ Chí Minh đã phát động Cải Cách Ruộng Đất và Chỉnh Huấn, Chỉnh Quân… giết hại rất nhiều người trong đó không hiếm người thuộc Đảng CS của Nguyễn Ái Quốc và người tay chân của Hồ nhưng có nguy cơ lộ – xem suthatdangcsvn.org)

  1. Tài liệu nghiên cưu.

(Văn bản 1)

55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu

08:15 24/08/2005

http://cand.com.vn/Khoa-hoc/55-nam-nhin-lai-vu-an-Tran-Du-Chau-9093/

Vụ án Trần Dụ Châu là vụ án tham nhũng nổi tiếng những năm 50 của thế kỷ trước. Vụ này đã được nhà báo Hồng Hà viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kỳ liền, từ ngày 20/9/1950, trên báo Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày. Đây là một bài học về kiên quyết chống tham nhũng trong bất cứ thời kỳ nào.

Từ một viên thư ký toà sứ Pháp

Mùa hè năm 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thủy, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, Đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân Nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.

Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra nghị quyết chấn chỉnh tổ chức, kiện toàn bộ máy các cơ quan Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh. Sau đó, ngày 11/ 7/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh lập ba cơ quan : Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Các Nha trước đây đảm nhiệm việc sản xuất quân trang, quân dụng nay sáp nhập vào các Cục. Nha Quân Nhu sáp nhập vào Cục Quân Nhu trực thuộc Tổng cục Cung cấp, do đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, làm Chủ nhiệm Tổng cục.

Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung, Châu bước vào đời bằng đi làm thư ký toà sứ Pháp. Thấy Châu vừa đi làm, vừa viết báo “Thanh – Nghệ – Tĩnh”, e lộ chuyện công sở, toà sứ cho Châu thôi việc. Châu chuyển sang làm nhân viên quận Hoả xa Bắc Trung Kỳ.

Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương tháng 3/1945, Châu được cử làm Trưởng phòng Kế toán Hoả xa Bắc Trung Kỳ. Nhờ quen biết người Nhật Bản, Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong, bán đi có tiền tậu một biệt thự ở Đà Lạt.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Châu hiến cho Nhà nước một phần tài sản của mình, rồi hoạt động trong Uỷ ban Công sở Nha Hoả xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hoả xa. Ngày toàn quốc kháng chiến, Châu ra Bắc, được giao việc chạy một kho hàng lớn hơn ngàn tấn gạo, muối ở Vân Đình, Hà Đông, đưa lên Việt Bắc cho bộ đội.

Là người tháo vát, năng động, có đầu óc kinh doanh, Châu được vào làm ở Cục Quân Nhu. Sau một thời gian làm tốt việc cung cấp lương thực, trang bị cho bộ đội, Châu được phong tặng quân hàm Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu. Lúc đó, Cục Quân Nhu chỉ phụ trách việc quản lý, quản trị, còn Nha Quân Nhu mới có nhiệm vụ trực tiếp sản xuất quân trang, quân dụng. Có địa vị cao, quyền hành rộng, nắm trong tay hàng trăm triệu đồng, cơ chế kiểm tra, kiểm soát lại lỏng lẻo, không biết tự kiềm chế, Châu đi dần vào con đường sa ngã.

Châu lấy cắp của công quỹ một số tiền lớn : 57.959 đồng Việt Nam, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng Việt Nam. Giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn năm 1950 là 50 đồng/một kg, còn chiến sĩ ta mỗi ngày chỉ được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn. Ngoài ra, Châu còn nhận hối lộ khá nhiều tiền, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ. Uỷ ban Tiếp liệu Thu – Đông 49, các kho số 1, 4, 10 thường xuyên nộp cho Châu tiền tiêu, rượu, đồ hộp, hải sản khô, thuốc lá, quần áo, chăn len… Tuyển người, thải người theo sở thích cá nhân, vung tiền bao gái; có lần dùng ôtô công đưa gái đi chơi ở Bắc Cạn. Châu dan díu với một nữ nhân viên xinh đẹp, bổ nhiệm làm “bí thư văn phòng” của Nha, làm việc cùng buồng, ăn ở cùng nhà với Châu. Các cán bộ điều tra có trong tay cuốn nhật ký của nữ “bí thư văn phòng” cùng gần 100 kiểu ảnh lãng mạn chụp với Châu. Giữa lúc nữ bí thư đi dự lớp huấn luyện thì Châu đưa từ Phú Thọ về cơ quan một cô gái giới thiệu là em nuôi, suốt ngày ở trong buồng riêng của Châu. Nữ bí thư từ lớp học về bất chợt bắt gặp và đã xảy ra một cuộc đánh ghen ầm ĩ.

Tiếng tăm ăn chơi của Châu nổi như cồn ở Hanh Cù, Phú Thọ, một thị trấn sầm uất, tối đến cả đường phố dài  rực sáng ánh đèn măng sông, với nhiều hiệu ăn sang trọng và cửa hàng đầy ắp hàng tiêu dùng nước ngoài. Mỗi lần về công tác ở Liên khu 10, gồm các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang…, Châu đều đưa bạn bè đến chè chén ở đây, nhất là ở nhà hàng Ba Đình. Cũng tại thị trấn này, Châu tổ chức đám cưới cho Bùi Minh Trân, Trưởng ban Mậu dịch của Quân giới liên khu Việt Bắc, tiêu tốn hàng vạn đồng. Báo Cứu Quốc đã có bài phê bình kịch liệt đám cưới này mà nhân dân Phú Thọ thì nói rằng “đã làm váng đục cả một khúc sông Thao”. Chính từ thị trấn Hanh Cù, đã bắt đầu có những bức thư tố cáo Trần Dụ Châu gửi đến các cơ quan có liên quan.

Thầy nào trò nấy

Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung, kém Châu 10 tuổi. Cửu mồ côi cha mẹ từ năm 8 tuổi. Năm 12 tuổi, hắn ra Móng Cái, đi làm cho một nhà buôn Hoa Kiều; lớn lên tham gia buôn thuốc phiện lậu trên đường Móng Cái – Hải Phòng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cửu trở về miền Trung, vào làm công an, nhưng được ít lâu thì bị đuổi, liền quay ra Bắc. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cửu gặp và được Châu giới thiệu vào làm ở Ban Vận tải quân giới. Một thời gian sau, lại bị đuổi việc, Cửu lần mò lên Cao Bằng kiếm ăn. Tại đây, tháng 8/1947, gặp lại Châu, Cửu được Châu đưa vào Cục Quân Nhu, làm nhân viên tiếp liệu ở Cao Bằng. Vừa xa Nhà, vừa được Châu che chở, Cửu lộng hành làm bậy, lấy cắp tiền công, ăn tiêu bừa bãi, thường xuyên lui tới các nhà hàng, tiệm hút vùng Cao Bằng.

Nghe được nhiều tiếng xấu về Cửu, Châu vội rút Cửu về Nha, lập ra một tổ chức mới gọi là “Ban Thế phẩm Đay” giao cho Cửu làm trưởng ban. Châu tuyên truyền ầm ĩ rằng, Ban này lo các đồ mặc mùa đông cho bộ đội, từ nay các chiến sĩ ta không phải lo đến cái rét ở rừng núi nữa. Nhưng đây chỉ là một mánh khoé tham ô của Châu : lấy ba phần tư số tiền cấp trên phát cho Ban Thế phẩm Đay, Châu giao cho Cửu đi buôn lậu.

Lê Sĩ Cửu khai trước Ban Kiểm tra của Bộ Quốc phòng : Mỗi khi đi mua vải về cho Ban Thế phẩm, Cửu cho tăng giá thêm từ 20 đến 25 đồng mỗi tấm để lấy tiền đút túi. Trong một chuyến mua vải mộc và vải diềm bâu, Cửu lấy được 50 vạn đồng. Khi xuất kho vải giao cho cơ sở nhuộm, Cửu chỉ tính số tấm, không tính số vuông; cho xẻ đôi những tấm vải dài để nhuộm, khi nhận về kho số vải đã nhuộm, dôi ra 1.225 tấm vải, bỏ túi riêng được 66 vạn đồng. Người bán vải giao hàng tận kho, không tính tiền vận chuyển, nhưng Cửu lại tính với Ban phải trả phí vận chuyển. Khi nhà thầu lĩnh hàng thì phải cung cấp đầy đủ khuy cúc, nhưng Cửu tính với Ban tiền khuy cúc riêng. Với hai thủ đoạn trên, Cửu cũng lấy được 4 vạn đồng.

Cửu cho khắc một con dấu giống dấu của Nha quân nhu để cấp cho một số người buôn lậu, mỗi lần được 2 vạn đồng. Cửu giàu lên nhanh chóng, ăn chơi sa đoạ, sắm được một chiếc thuyền đẹp để gia đình du ngoạn và tổ chức những cuộc dạ hội trên sông. Cửu hối lộ đều đặn theo từng vụ cho Châu, tổng cộng khoảng 40 vạn đồng và nhiều tài sản có giá trị.

Trong Nha, cán bộ nhân viên gọi Châu là “Châu Hổ”, sợ Châu như cọp. Một số cán bộ, đảng viên trong Nha không chịu  để Châu lôi kéo, đã mạnh dạn phê bình Châu. Có người do nói thẳng đã bị Châu đẩy khỏi cơ quan. Những điều tiếng xấu về Châu ngày càng nhiều. Châu gọi đó là “những câu chuyện hàm hồ, soi mói vì ghen ghét”. Tối ngày 27/5/1950, Châu gọi một nhân viên tay sai đến nhà, cho uống rượu, ăn cơm. Rồi Châu đọc cho nhân viên đó viết một bức thư gửi Đại tướng Tổng Tư Lệnh, báo cáo rằng “trong Nha Quân Nhu có một tổ chức gây chia rẽ và phá hoại quân đội ta”.

Nghe tin Cửu bị bắt, Châu chạy đến Cục Quân pháp để “minh oan”, xin cho Cửu tự do. Châu còn báo cáo với Bộ Quốc phòng: “Tôi xin cam đoan nhân viên Lê Sĩ Cửu không ăn cắp một xu nhỏ”. Bộ bác đơn của Châu.–PageBreak–

Quân pháp nghiêm minh

Lê Sĩ Cửu tiếp tục khai với Ban Kiểm tra:

– Những tội lỗi của tôi kể trên một phần do đại tá Châu xúi dục. Sở dĩ tôi làm như vậy vì tôi yên trí rằng đã có đại tá Châu bênh vực, mọi việc không sợ gì cả!

Đến lượt Trần Dụ Châu cũng thú nhận trước Ban Kiểm tra:

– Tôi quả là người không liêm khiết.
Cán bộ kiểm tra hỏi Châu:
– Đã lấy của Lê Sĩ Cửu những gì ?
Châu trả lời:
– Tôi lấy nhiều lắm, không thể nhớ là bao nhiêu. Nhưng lần nào Cửu đến tôi thì cũng có ít nhiều tiền đưa tôi.

Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Toà án binh tối cao mở phiên toà đặc biệt xử vụ Trần Dụ Châu. Còn lâu mới tới giờ khai mạc mà trong và ngoài toà đã chật ních người. Cửa vào phòng xử án có một bảng khẩu hiệu: “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử, trên tường đối diện nhau có hai khẩu hiệu: “Quân pháp vô thân” và “Trừng trị để giáo huấn”. Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội và Toà án binh tối cao tới, đi giữa hàng rào bộ đội bồng súng.

Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế chánh án giữa hai ông hội thẩm viên Phạm Học Hải, giám đốc Tư pháp Liên Khu Việt Bắc và Trần Tấn, Phó cục trưởng Cục Quân Nhu. Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo uỷ viên. Tới dự phiên toà còn có các ông: Nguyễn Khang, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc; Võ Dương, Liên Khu Hội trưởng Liên Việt Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung, giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn, đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.

Tiếng gọi các bị cáo vang trong phòng họp. Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng. Thiếu tướng chánh án hỏi các bị cáo. Trần Dụ Châu bước ra trước vành móng ngựa, nói nhiều về những công lao và thành tích cách mạng của mình, cho rằng do nhân viên làm bậy là chính mà mình không kiểm soát được.

Thiếu tướng Công cáo uỷ viên, đại diện Chính phủ, đứng lên đọc bản cáo trạng:

“Thưa toà, thưa các vị,

Trong tình thế ta gấp rút chuẩn bị Tổng phản công, mọi người đang nai lưng buộc bụng tích cực phục vụ kháng chiến trước tiền tuyến, quân đội ta đang hy sinh để đánh trận căn bản mở màn cho chiến dịch mới, thì tôi thiết tưởng mà cũng là lời yêu cầu Toà dùng những luật hình sẵn có để xử Trần Dụ Châu và theo chỉ thị căn bản của vị Cha già dân tộc là cán bộ phải cần kiêm liêm chính. Việc phạm pháp của Trần Dụ Châu xảy ra trong không gian là Việt Bắc, nơi thai nghén nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã làm vẩn đục thủ đô kháng chiến…

… Để đền nợ cho quân đội; để làm gương cho cán bộ và nhân dân; để cảnh tỉnh những kẻ đang miệt mài nghĩ những phương kế xoay tiền của Chính phủ; để xử tử vắng mặt những lũ bầy ra mưu nọ kế kia, lừa trên bịp dưới; để trừ hết loài mọt quỹ, tham ô dâm đãng; để làm bài học cho những ai đang trục lợi kháng chiến, đang cậy quyền, cậy thế để loè bịp nhân dân;

Bản án mà toà sắp tuyên bố đây phải là một bài học đạo đức cách mạng cho mọi người; nó sẽ làm cho lòng công phẫn của nhân dân được thoả mãn, làm cho nhân dân thêm tin tưởng, nỗ lực, hy sinh cho cuộc toàn thắng của nước nhà.

Vì vậy, tôi yêu cầu toà xử phạt:

1- Trần Dụ Châu: tử hình
2- Tịch thu ba phần tư tài sản
3- Tịch thu những tang vật hối lộ trái phép
4- Phạt tiền gấp đôi những tang vật hối lộ và biển thủ”.

Trần Dụ Châu tái mặt, cất giọng yếu ớt xin toà tha thứ. Thiếu tướng chánh án tuyên bố toà nghỉ để họp kín.

15 phút sau, toà trở ra tiếp tục họp. Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu.

Thiếu tướng chánh án đứng lên tuyên án:

– Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: tử hình; tịch thu ba phần tư tài sản.

– Lê Sĩ Cửu can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn lậu, giả mạo giấy tờ; tử hình vắng mặt.

Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác. Một cán bộ đọc to bức công điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin giảm tội của Châu…

11 ngày sau, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân nhu tận tuỵ và anh dũng của chúng ta đã kịp thời đưa ra mặt trận hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm, quân trang… phục vụ tốt trận đánh tiêu diệt địch ở Đông Khê, mở đầu chiến dịch quy mô lớn và dài ngày giải phóng biên giới.

Hồng Hà

Nhân vụ án Trần Dụ Châu

(Xã luận báo Cứu quốc ngày 27/9/1950)

Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y.

Trong tình thế kháng chiến và trong giai đoạn quyết liệt hiện nay, vụ án Trần Dụ Châu có một ý nghĩa lớn lao. Nó làm toàn thể nhân dân bằng lòng và thêm tin tưởng ở chính quyền và đoàn thể nhân dân. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa. Vụ án này còn làm vui lòng tất cả những cán bộ Quân nhu ngay thẳng, chí công vô tư, đã không để Trần Dụ Châu lôi cuốn.

Nó đã cho chính quyền và đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ.

Có người e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ nhưng tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của Chính quyền, đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ.

Cái chết nhục nhã của Trần Dụ Châu còn là một lời cảnh cáo những kẻ lén lút đang tính chuyện đục khoét công quỹ của Chính phủ, trục lợi của nhân dân. Tất cả những bọn ấy hãy coi chừng dư luận sắc bén của quần chúng và luật pháp nghiêm khắc của Nhà nước nhân dân!

Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng.

Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của đoàn thể mà đấy là bổn phận của tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”.

C.Q

(Văn bản 2)

Tướng Trần Tử Bình xử án tham nhũng Trần Dụ Châu

18/12/2009

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=155781

Thiếu tướng Trần Tử Bình, khi đó đang là Phó Tổng thanh tra quân đội, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, đã được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ điều tra vụ tham nhũng của Trần Dụ Châu. Ngày 5/9/1950, Trần Dụ Châu đã bị tuyên án tử hình.

Bức thư tố cáo của nhà thơ Đoàn Phú Tứ

Một đêm hè 1950, tại Chiến khu Việt Bắc, Thiếu tướng Trần Tử Bình được triệu lên gặp Bác. Bác trao cho ông lá thư của đại biểu Quốc hội Đoàn Phú Tứ: “Đây là bức thư của một nhà thơ gửi lên cho Bác. Bác đã đọc kỹ lá thư này và rất đau lòng!”.

Rồi Bác giao cho Thiếu tướng khẩn trương điều tra vụ việc. Khi đó ông là Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra quân đội.

Thư có ghi: “Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu gần đây đã gây nhiều dư luận bất bình trong anh em binh sĩ quân đội. Châu đã dùng quyền lực “ban phát” ăn mặc, nên Châu đã giở trò ăn cắp. Cứ mỗi cái màn lính, Châu ăn cắp mất hai tấc vải nên hãy ngồi lên là đầu chạm đỉnh màn. Còn áo trấn thủ, Châu ăn cắp bông lót rồi độn bao tải vào. Nhiều người biết đấy nhưng không ai dám ho he…

Cháu cùng với một đoàn nhà văn đi thăm và úy lạo các đơn vị bộ đội vừa đi đánh giặc trở về. Cháu đã khóc nấc lên khi thấy các chiến sĩ bị thương thiếu thuốc men, bông băng và hầu hết các chiến sĩ đều rách rưới “võ vàng đói rét”, chỉ còn mắt với răng mà mùa đông tiết thời chiến khu lạnh lắm, lạnh tới mức nước đóng băng…”.

Sau đó, nhà thơ kể đã được Châu mời dự tiệc cưới của Lê Sĩ Cửu tổ chức ngay chiến khu: “… Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bò thui, rượu tây, cốc thủy tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Hoa Ngọc Hà dưới Hà Nội cũng kịp đưa lên. Ban nhạc Cảnh Thân được mời từ Khu Ba lên tấu nhạc réo rắt. Trần Dụ Châu mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới…”.

Ngạo mạn hơn, Châu mời nhà thơ đọc thơ mừng hôn lễ. Đoàn Phú Tứ với lòng tự trọng của mình đã dũng cảm xuất khẩu: “Bữa tiệc cưới của chúng ta sắp chén đẫy hôm nay được dọn bằng xương máu của các chiến sĩ”.

Tổng Thanh tra quân đội vào cuộc

Ngay hôm sau, Tổng Thanh tra quân đội Lê Thiết Hùng triệu tập cuộc họp “Điều tra vụ tham ô của đại tá Cục trưởng Quân nhu Trần Dụ Châu”. Tới dự có ông Xuân Thủy và nhà báo Hồng Hà.

Thiếu tướng đọc lại bức thư. Cả hội nghị im lặng. Ông nói tiếp: “Trong hoàn cảnh hiện nay, cách mạng đang đứng trước những thử thách gay go. Địch tập trung phá hoại kinh tế… Trong thời điểm nóng bỏng này, Trần Dụ Châu và đồng bọn lại mặc sức sống phè phỡn, trác táng… Đọc thư này, Bác yêu cầu chúng ta phải điều tra gấp, làm rõ từng vụ việc”.

Ngay hôm sau, cán bộ trong Thanh tra quân đội tỏa về các liên khu.

Trực tiếp Thiếu tướng khoác ba lô xuống đơn vị. Ông gặp gỡ từng cán bộ, chiến sĩ để trò chuyện về đời sống của bộ đội, về cấp phát quân nhu của Châu. Chưa rõ ông thuộc cán bộ cấp nào, nhưng cũng là dịp được bộc bạch nỗi niềm bức xúc bấy lâu…

Tài liệu từ Khu Bốn gửi ra, từ Khu Ba gửi lên, rồi Chiến khu Việt Bắc… Trần Dụ Châu hiện nguyên hình một kẻ gian hùng, trác táng, phản bội lại lòng tin của Đảng, lợi ích Quốc gia.

“Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ”

Trước vụ việc này, Bác Hồ dứt khoát: “Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan nguy hiểm”.

Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Tòa án Binh tối cao mở phiên tòa đặc biệt xử Trần Dụ Châu. Chưa đến giờ khai mạc nhưng trong, ngoài đã chật ních người. Tại cửa có căng khẩu hiệu “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử án treo 2 khẩu hiệu “Quân pháp vô thân!” và “Trừng trị để giáo huấn!”.

Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội, Tòa án Binh tối cao có mặt. Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh án cùng 2 Hội thẩm viên: Phạm Học Hải – Giám đốc Tư pháp Liên khu Việt Bắc và Trần Tấn – Cục phó Cục Quân nhu.

Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo ủy viên. Tới dự còn có ông Nguyễn Khang – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu Việt Bắc, Võ Dương – Liên khu hội trưởng Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung – Giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn cùng đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.

Tiếng gọi các bị cáo vang trong phòng họp. Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng.

Thiếu tướng Chánh án hỏi các bị cáo. Trần Dụ Châu bước ra trước vành móng ngựa, nói nhiều về công lao với cách mạng và đổ cho lính làm bậy, còn mình không kiểm soát được.

Trước chứng cứ rành rành, Công cáo ủy viên Trần Tử Bình đứng lên đọc bản cáo trạng:

“Thưa Toà, thưa các vị,

Trong tình thế gấp rút chuẩn bị Tổng phản công, mọi người đang nai lưng buộc bụng, tích cực phục vụ kháng chiến. Trước tiền tuyến, quân đội ta đang hy sinh để đánh trận căn bản mở màn cho chiến dịch mới, thì tôi thiết tưởng (mà cũng là lời yêu cầu) Toà dùng những luật hình sẵn có để xử Trần Dụ Châu, và theo chỉ thị căn bản của vị cha già dân tộc là cán bộ cần phải “Cần – Kiệm – Liêm – Chính”.

Việc phạm pháp của Trần Dụ Châu xảy ra trong không gian là Việt Bắc, nơi thai nghén nền Độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã làm vẩn đục thủ đô kháng chiến…

Để đền nợ cho quân đội, để làm tấm gương cho cán bộ và nhân dân, để cảnh tỉnh những kẻ đang miệt mài nghĩ những phương kế xoay tiền của Chính phủ, những lũ bày ra mưu nọ kế kia, lừa trên bịp dưới, để trừ hết bọn mọt quỹ tham ô, dâm đãng, để làm bài học cho những ai đang trục lợi kháng chiến, đang cậy quyền, cậy thế để loè bịp nhân dân.

Bản án mà Toà sắp tuyên bố đây phải là một bài học đạo đức cách mạng cho mọi người, nó sẽ làm cho lòng công phẫn của nhân dân được thoả mãn, làm cho nhân dân thêm tin tưởng nỗ lực hy sinh cho cuộc toàn thắng của nước nhà.

Tôi đề nghị…”

Trần Dụ Châu tái mặt, cất giọng yếu ớt xin tha tội.

Thiếu tướng Chánh án tuyên bố: “Toà nghỉ 15 phút để nghị án”.

Khi Toà trở ra tiếp tục làm việc, Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh: Tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu.

Sau đó, Thiếu tướng Chánh án đứng lên tuyên án:

  • Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: Tử hình, tịch thu ba phần tư tài sản. Lê Sĩ Cửu, can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn bán lậu giả mạo giấy tờ: Tử hình vắng mặt.

Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam.

Hồ Chủ tịch bác đơn xin giảm tội của Châu. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan…

(Văn bản 3)

Một đám cưới năm 1950

02/07/2006

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20060702/mot-dam-cuoi-nam-1950/147909.html

TT – Nhà báo Thái Duy có kể lại việc “Bác Hồ đã kiên quyết xử lý vụ tham nhũng của đại tá Trần Dụ Châu” và “ra lệnh phải tường thuật trên báo Cứu Quốc và Đài Tiếng nói Việt Nam đầy đủ, tỉ mỉ về vụ án này”. Báo Cứu Quốc đã nghiêm chỉnh thực hiện lệnh của Bác, liên tục có bài trong sáu kỳ, “trong đó có bốn kỳ đăng trang nhất kèm xã luận”.

Thật ra, báo Cứu Quốc đã vào cuộc sớm hơn nhiều – so với thời điểm nhà báo Thái Duy nhắc tới – với bài báo ngắn gọn Ăn cắp hay buôn lậu ở mục “Thi phát biểu ý kiến” trên số báo 1.548 ra ngày 15-5-1950 của Hữu Danh, bút danh của cán bộ lão thành cách mạng Nguyễn Đình Tốn.

Nhân ngày giỗ đầu của cụ Nguyễn Đình Tốn (2-7-2005 – 2-7-2006), chúng tôi xin được giới thiệu lại nguyên vẹn bài báo có tính lịch sử đó và một đoạn trích trong hồi ký Một đám cưới năm 1950cũng do cụ viết để tặng ông Lưu Quang Hà, tác giả vở kịch Đêm trắng đã được công diễn nhiều lần ở Hà Nội, một vở kịch dựng phỏng theo câu chuyện của đám cưới mà cụ đã phê phán trên báoCứu Quốc và tường thuật, miêu tả trong hồi ký.

Ngày ấy thuộc năm thứ tư của cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Gia đình tôi cũng như hàng nghìn các gia đình khác đã bỏ làng bồng bế con cái lên Việt Bắc nguyện chỉ trở về khi giặc rút hết.

Ngót bốn năm thiếu thốn mọi bề, từ cái ăn, cái mặc hết sức đơn giản hóa. Cơm thường độn sắn, có khi là sắn ba mùa đã hoe vàng, quần áo nhuộm nâu vừa cho bền hơn, vừa để phòng không vì người ta rất sợ màu trắng của quần áo phơi ngoài sân nhỡ tàu bay địch trông thấy.

Trẻ con học trong các túp nhà lụp xụp tối om hay học ban đêm với những ngọn đèn hoa kỳ lập lòe như đom đóm.

… Tôi có hai bạn học cũ đồng hương cũng tản cư lên Việt Bắc: anh Nguyễn Đức Mưu làm báo và anh Phạm Mạnh Tân làm thơ lại ở huyện Mỹ Hào, nay là cán bộ Tòa án Thái Nguyên sau chuyển sang trưởng ban tư pháp công an Ty Công an tỉnh.

Tôi thì không xin được vào cơ quan nên mở quán giải khát ở phố Mỏ Chè gần thị xã Thái Nguyên. Một hôm anh Mưu đi qua vào uống nước, nhận được bạn cũ mừng quá!

Anh mời tôi đến ngày 4-4-1950 dự lễ cưới một người bạn thân, anh còn dặn tôi là nên ăn mặc kha khá, càng sang càng hay. Tôi đã phải đi mượn cái quần kaki để khỏi làm xấu đám cưới của người ta.

Chiều ngày 4-4-1950 tôi đến đầu làng Lang Tạ gần phố Cò hỏi thăm vào làng thì người ta chỉ ngay là “đồng chí cứ đi đến chỗ nào thấy một cái nhà to mới cất, cạnh đấy có nhiều người đang mổ gà, mổ lợn ở bờ sông”.

Một cái nhà bảy gian kiểu hội trường mới toanh tách rời xóm làng là phòng cưới dã chiến. Giữa nhà kê một bàn dài rộng trải khăn bàn bằng vải trúc bâu trắng, phía đầu bên phải là dãy bàn ngang tạo thành chữ T. Bàn này dành cho dàn nhạc kèn đồng giúp vui cho bữa tiệc. Phía bên trái nối liền với một nhà năm gian để cho khách ngủ lại đêm và là nơi sửa soạn cỗ bàn.

Bắt đầu vào tiệc, tôi hoa cả mắt vì các bát đĩa sứ, cốc pha lê mới khuân ở Hà Nội ra qua cửa khẩu Chợ Me.

Nhìn quanh phòng không thấy có đèn măngsông mà toàn là nến to ta quen gọi là nến nhà thờ gắn tứ phía sát vách, tôi đã đếm được ngót trăm cây. Một ông trong ban tổ chức trả lời thắc mắc của tôi: “Tại các tiệc lớn trên thế giới người ta đều thắp nến thay đèn điện vì nến tạo ra ánh sáng lung linh, ngoạn mục”. Thì ra đây là một đại tiệc văn minh quí tộc lần đầu tiên xuất hiện ở VN.

Đúng bảy giờ tối, ban tổ chức khai mạc lễ cưới, chủ yếu là giới thiệu ông chủ hôn, cô dâu, chú rể và một số quan khách cao cấp.

Cô dâu ăn mặc lộng lẫy, áo gấm Thượng Hải màu nhạt, tay đeo hai ba nhẫn kim cương, dây chuyền ngọc thạch trước ngực, chân đi hài công chúa. Chú rể mặc bộ comlê títso xoa, tay đeo đồng hồ Lông-din. Bề ngoài cặp này rất đẹp đôi!

Vào tiệc là những tiếng bốp bốp của rượu sâm banh và cốt-nhát (cô nhắc) khiến cho nhiều quan khách giật mình. Về phần tôi thì xin thú thật là lần đầu tiên được uống. Cũng có vài thứ rượu nhẹ hơn như canh-ki-na, vang. Các món ăn nhậu thì có chim, gà, vây bóng, tôm, cua bể và ít món nữa tôi không nhớ hết.

Để có được bữa tiệc rượu sơn hào hải vị này, ban tổ chức đã phải thuê một tốp đầu bếp giỏi ở Hà Nội ra phục vụ với giá công rất cao. Có người hỏi tiệc nhiều món thế thì ăn sao hết? Xin giải thích luôn là họ đã khéo bố trí ăn theo kiểu vừa Âu vừa Á và kéo dài đến nửa đêm.

Cứ độ một giờ họ lại thay đổi món, xen kẽ hoa quả quí như lê, táo Trung Quốc và bánh ngọt Bôđêga. Trong bữa tiệc, có tiếng thì thầm của khách là bốn năm nay mình mới lại được thưởng thức các đồ này.

Thuốc lá thì toàn là ba con 5. Quan khách vừa ăn uống vừa nghe nhạc sống của tốp nhạc gánh xiếc Long Tiên ở khu Ba vừa lên do ông L.X.T. làm nhóm trưởng. Ông T. đã được trả một số tiền khá lớn về công phục vụ đêm liên hoan này.

Ban tổ chức lại rất tâm lý, đã cho bê cà phê sữa lên lúc nửa đêm do đó khách lại tỉnh như sáo và trò chuyện hát hò, ngâm thơ, nghe nhạc đến gần 2 giờ sáng mới giải tán. Trong tiệc do quá chén thách đố và khích bác nhau có xảy ra xô xát giữa nhà văn Đ.P.T. với một đại biểu bạn thân của ông chủ hôn.

Sáng hôm sau tôi được ban tổ chức nhờ tiêm pênixilin cho vài người, có cả nữ giới. Trong khi chờ cơm sáng, tôi cứ thấy họ xì xào mời mảnh người này người khác sang nhà hàng xóm làm gì không biết.

Tự nghĩ tại sao mình cũng là khách mà không được mời, họ phân biệt đối xử bất lịch sự ! Để dò la, tôi giả vờ đi tiểu để nhìn qua khe cửa thì té ra bọn này kéo nhau luân phiên sang hút thuốc phiện. Biết tôi không hút nên họ đã không mời, còn mấy người vừa được tôi tiêm hộ thì sau đó anh Mưu cho biết đó là mấy chàng và nàng trong băng buôn lậu dan díu với nhau mắc bệnh kín.

Từ giã đám cưới ra về, tôi cảm thấy nhức nhối vì thấy đấy là một ổ sa đọa, trụy lạc, tham ô, hủ hóa móc ngoặc được ô dù cao cấp che chở.

… Do chướng tai gai mắt, mấy hôm sau tôi viết bài gửi báo Cứu Quốc để phê phán. Tôi viết dưới dạng châm biếm nhẹ nhàng nhưng báo đã sửa chữa, thêm bớt thành một nhát búa lớn bổ vào đầu kẻ làm bậy. Tít bài báo cũng đổi thành Ăn cắp hay buôn lậu. Dư luận ở Việt Bắc ầm lên, bàn tán suy luận về các nhân vật trong đám cưới.

Độ một tuần sau bỗng nhiên anh Phạm Mạnh Tân đến chơi thăm tôi và gợi ý hỏi tôi về việc đi dự đám cưới này. Anh Tân đã đến tòa báo để khai thác tên thật và địa chỉ của tôi.

Kể rõ về đám cưới cho anh Tân nghe vì anh cũng là bạn đồng hương nên tôi cho đây chỉ là chuyện bình thường, không ngờ một tuần sau, một công văn do ông trưởng Ty Công an tỉnh ký mời tôi lên ty để khai nhân chứng về đám cưới hôm nọ. Vì không phải là bị cáo nên tôi đã được đón tiếp lịch sự, ngủ lại một đêm sau khi đã viết hai trang tường thuật mọi sự mắt thấy tai nghe trong đám cưới lịch sử này…

…Cuối năm ấy, tôi nhận được giấy mời sang Thái Nguyên dự phiên tòa xử bộ ba:

  1. Trần Dụ Châu, cục trưởng Cục Quân nhu; 2. Lê Sỹ Cửu, trợ lý của Trần Dụ Châu; 3. Bùi Minh Chân, bí thư của Trần Dụ Châu – can tội tham ô làm thất thoát những số tiền lớn của công quĩ.

Tôi không sang dự được vì đường sá quá xa, giao thông không thuận tiện.

Đến đây tôi xin nói rõ về ba nhân vật chính trong đám cưới ngày 4-4-1950 tại làng Lang Tạ:

Chú rể là Bùi Minh Chân.

– Chủ hôn là Trần Dụ Châu.

– Trưởng ban lễ cưới là Lê Sỹ Cửu.

Sau khi luận tội là hết sức nghiêm trọng, tòa đã tuyên án tử hình Trần Dụ Châu về tội tham nhũng. Lê Sỹ Cửu và Bùi Minh Chân mỗi người 10 năm tù giam.

Ngày ấy có người bình luận là bản án quá nặng! Nếu không trùng vào đợt điển hình thi hành chủ trương chống tham ô lãng phí thì có lẽ Trần Dụ Châu không chết! Nhưng đa số cán bộ, kể cả nhân dân, thì lại rất hoan nghênh.

Sau vụ án này một thời gian khá dài không xảy ra một vụ tham ô lớn nào trong các cơ quan nhà nước. Mãi đến giai đoạn gần đây, có thể nói là từ sau năm 1975 mới lại xuất hiện các vụ tham ô thuộc mọi cỡ tập trung vào giới cán bộ quyền cao chức trọng.

GS NGUYỄN KHẮC PHI

Top of Form

Bottom of Form

Đây là bài báo “Ăn cắp hay buôn lậu” đăng trên báo Cứu Quốc số 1.548 ra ngày 15-5-1950

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20060702/mot-dam-cuoi-nam-1950/147909.html

Ăn cắp hay buôn lậu

Đám cưới ông ấy sang quá !

Đó là lời thiên hạ bàn tán ở miền Úc Sơn ít lâu nay. Chim gà mổ ở máng nước làm xao cả một khúc sông. Bữa tiệc lại khéo tổ chức có ý nghĩa chính trị là vào đúng ngày lễ lớn. Đủ mặt quan khách dự tiệc.

Tiệc ăn kéo dài theo lối “tàu” từ chập tối đến gần sáng. Ngoài các món ăn Tây, Tàu, tiệc còn có những thứ phụ mà quan khách lâu ngày thèm muốn: nào sâm banh, rom xanh – dam, đuy bon – nê, thuốc lá thì hộp sắt ănglê 50 điếu, kẹo bánh thì bích quy Hoa Thịnh Đốn, hoa quả thì táo tây và cam Bố Hạ trái mùa v.v…

Đặc biệt và quý phái nhất là bàn tiệc lại được soi sáng bằng ngót trăm cây nến “nhà thờ” thắp liên tiếp hơn thủ đô thời bình. Người ta đồn là tiệc cưới đời sống mới này đã tiêu tốn mươi vạn bạc và lợi dụng địa vị cao cấp của chú rể, chúng đã có phép com-măng được toàn đồ xa xỉ ở tận thủ đô ra trong lúc đang bao vây ngặt nghèo này.

Người ta tự hỏi chúng ăn cắp hay buôn lậu mà lắm tiền thế. Chúng tôi đề nghị chính quyền điều tra vụ này.

Bác Hồ với quyết định “Thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt”

(Văn bản 4)

Vụ án Trần Dụ Châu, bài học không chỉ cho ngày hôm qua…

16:00 25/08/2010

http://cstc.cand.com.vn/cstc-2010/Vu-an-Tran-Du-Chau-bai-hoc-khong-chi-cho-ngay-hom-qua%E2%80%A6-312932/

Cách nay gần 60 năm, ngày 5/9/1950 tại chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi.

Có thể nói đây là vụ án tham nhũng điển hình xảy ra trong bối cảnh Đảng, Nhà nước, quân và dân ta còn gặp muôn trùng khó khăn, ăn đói, mặc rét nhằm đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thì việc đưa vụ án này ra xét xử công khai trước công đường không chỉ vạch trần các hành vi tham nhũng, sa đọa của kẻ phạm tội mà còn là lời cảnh tỉnh cho những kẻ coi thường pháp luật, tham ô trộm cắp… tài sản Nhà nước, sống sa đọa đang nhởn nhơ ở ngoài xã hội. Kết thúc phiên tòa, hai bị cáotrong vụ án này là Trần Dụ Châu và Lê Sỹ Cửu bị tuyên phạt với mức án cao nhất – tử hình.

Bản án đã nhanh chóng báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Sau khi cân nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. Quyết định xử tử hình Trần Dụ Châu của Bác thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ.6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu đã bị đưa ra trường bắn trước sự chứng kiến của các cán bộ Bộ Tư pháp, Nha Công an Trung ương, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác.

Xã luận Báo cứu quốc ra ngày 27/9/1950 đã khẳng định: “Trong tình thế kháng chiến và trong giai đoạn quyết liệt hiện nay, vụ án Trần Dụ Châu có một ý nghĩa lớn lao. Nó làm toàn thể nhân dân bằng lòng và thêm tin tưởng ở chính quyền và đoàn thể nhân dân.

(Văn bản 5)

Ba Phút Sự Thật – Nhà thơ với tệ tham nhũng

http://vnthuquan.org/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqnmn3n0n31n343tq83a3q3m3237n4n&AspxAutoDetectCookieSupport=1

Phùng Quán

  1. Nhà thơ với tệ tham nhũng

Cách đây đã nhiều năm… Một buổi trưa mùa hè, tôi ra bãi An Dương phía ngoài đê sông Hồng, tìm thăm nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tác giả bài thơ bất hủ Màu thời gian. Năm đó nhà thơ đã ngoài 70 tuổi. Nắng hè thiêu đốt nóng đến ngạt thở. Tôi thật sự kinh khiếp khi thấy ông tóc bạc trắng, cởi trần, thản nhiên ngồi đọc sách trên bức phản gỗ mọt, mặe cho mồ hôi chảy đầm đìa trên mặt, trên lưng, giọt giọt từ chòm râu xuống những trang Ngôi nhà búp bê của Íp-en. Ông đặt sách xuống tiếp tôi ông gần như dốc ngược chai rượu mới được đầy một chén, và sẻ cho tôi một nửa. Tôi đọc ông nghe bài thơ vừa mới viết về đề tài kháng chiến. Đọc đến câu: Giữa chiến khu võ vàng đói khát, Cả tiểu đội tôi chỉ còn mắt với răng…, ông đặt chén rượu đã uống cạn xuống, ngắt lời tôi: “Chỉ vì những người lính – chỉ còn mắt với răng” các cậu mà năm đó mình đã đụng độ với thằng Trần Dụ Châu… Cậu có biết Trần Dụ Châu không?” Tôi nói: “Những người lính chống Pháp bọn em, ai mà không biết Trần Dụ Châu…”. Hắn là Đại tá Cục trưởng Cục Quân nhu, trông coi việc ăn mặc cho toàn quân. Ngày đó chúng tôi thường gọi: “Màn Trần Dụ Châu”, vì mỗi cái màn lính hắn ăn cắp mất hai tấc vải, nên hễ ngồi lên là đầu đụng trần màn; “Áo mền trấn thủ Trần Dụ Châu” vì hắn ăn cắp bông lót trong áo, trong mền và thay vào bằng bao tải… Nét mặt ông vụt sa sầm khi nghe tôi nhắc lại những chuyện đó. Kỷ niệm một thời hào hùng đánh giặc cứu nước bất ngờ ập đến, cặp mắt già nua của nhà thơ lóe ánh giận dữ. Ông kể:

Mùa đông năm 1949, ông ở chiến khu Việt Bắc. Là nhà thơ, ông còn là đại biểu Quốc hội khóa I. Ông cùng với một đoàn nhà văn đi thăm và úy lạo các đơn vị bộ đội vừa đánh giặc trở về. Ông đã khóc nấc lên khi thấy các chiến sĩ bị thương thiếu thuốc men, bông băng, và hầu hết chiến sĩ đều rách rưới, “võ vàng đói khát”, “chỉ còn mắt với răng”, mà mùa đông năm đó tiết trời chiến khu lạnh tới mức nươce đóng băng… Ông trở về cơ quan chân ướt chân ráo thì nhận được thiệp mời của Trần Dụ Châu, đến dự lễ cưới mà hắn đứng ra tổ chức cho cán bộ cấp dưới đặc biệt thân cận, phụ trách công tác vật tư, tên là Lê Sĩ Cửu.

Ông bước vào phòng cưới mà cứ ngỡ mình nằm mê. Cái hội trường dựng bằng tre nứa, lợp lá gồi, sáng trưng những dãy bạch lạp to bằng cổ tay. Trên những dãy bàn dài tít tắp, xếp kín chim quay, gà tần, vây bóng, nấm hương, giò chả, thịt bê thui, rượu tây, cốc thuỷ tinh sáng choang, thuốc lá thơm hảo hạng. Ban nhạc sống của nhạc sĩ Canh Thân được mời từ khu 3 lên tấu nhạc réo rắt…

Trần Dụ Châu mặc quân phục đại tá choáng lộn, cưỡi ngựa đến dự cưới, theo sau hắn là một vệ sĩ cao lớn, súng “côn bạt” đeo xệ bên hông. Tân khách ngồi chật kín hội trường, mắt hau háu nhìn bàn tiệc. Rượu vang đỏ rót đầy các cốc. Vị chủ hôn Trần Dụ Châu oai phong, đỏ đắn, đầy quyền uy bước ra tuyên bố làm lễ thành hôn cho đôi vợ chồng mà hắn đỡ đầu, và trịnh trọng mời tân khách nâng cốc… trong tiếng nhạc vang lừng. Nhìn thấy nhà thơ ngồi ở bàn đầu, hắn liền tươi cười giới thiệu: “Đám cưới hôm nay có một vị khách đặc biệt là ông Đoàn Phú Tứ, nhà thơ cự phách cửa nhóm Xuân Thu Nhã Tập. Xin mời nhà thơ nổi tiếng lên đọc một bài thơ mừng cô dâu chú rể và quý vị tân khách”.

Đoàn Phú Tứ đứng lên, mắt đăm đăm nhìn cốc rượu vang đỏ như máu đầy tràn trước mắt… Ông bỗng thấy giận run lên với ý nghĩ: “Bọn võ biền đốn mạt đầy quyền uy này, đã quen coi thi sĩ là kẻ nô bộc, và thơ là món đồ trang sức, một thứ gia vị cho bữa ăn tội lỗi của chúng thêm ngon miệng… Chúng sẽ được thơ dạy cho một bài học đích đáng!…”. Ông ngẩng lên, nhìn thẳng vào mặt Trần Dụ Châu, nói lớn, nhấn mạnh từng từ một cho tất cả những người dự tiệc cưới đều nghe thấy: “Tôi xin đọc tặng vị chủ hôn, cô dâu chú rể và tất cả các vị có mặt hôm nay, một câu thơ hay nhất mà tôi vừa chợt nghĩ ra”… Khắp các bàn tiệc dậy lên tiếng xì xào tán thưởng: “Hoan hô Xuân Thu Nhã Tập! Hoan hô thi sĩ Đoàn Phú Tứ!”. Chắc phải hay hơn câu nghìn trùng e lệ phụng quân vương (1) … Chờ cho tiếng xì xào im hẳn, nhà thơ nói tiếp: Câu thơ đó như sau: “Bữa tiệc cưới chúng ta sắp chén đẫy hôm nay, được dọn bằng xương máu của chiến sĩ! – “Láo”, Trần Dụ Châu mặt vụt tái nhợt quát to. Tiếp liền theo đó là tên vệ sĩ của hắn xông tới tát bốp vào mặt nhà thơ. Nhà thơ lặng lẽ rút khăn tay lau mặt, ném khăn xuống đất, rồi nhổ vào cốc rượu đỏ như máu đầy tràn trước mặt, và đĩnh đạc bước ra khỏi phòng cưới.

Ngay đêm hôm đó, nhà thơ viết một bức thư dài gửi lên Hồ Chủ Tịch, trình bày toàn bộ sự việc.

Một tuần sau tòa án quân sự được thiết lập cũng tại khu vực hội trường đó. Trần Dụ Châu bị điệu ra trước vành móng ngựa, cúi đầu nhận hết mọi tội lỗi, và lãnh án tử hình vì tội tham nhũng. Hồ Chủ Tịch đã tự tay ký vào bản án tứ hình. ĐÓ là bản án tử hình đầu tiên mà Người đã ký, kể từ ngày Người lên nhậm chức Chủ tịch nước (2).

“Thế còn chú rể Lê Sĩ Cửu?”. Tôi hỏi. “Hắn tự sát trong nhà tù để khỏi phải phơi mặt trước vành móng ngựa”. Tôi nâng chén rượu chưa kịp uống, dâng lên nhà thơ và nói: “Vô cùng cảm ơn anh. Anh đã làm vinh quang cho thi sĩ của đất nước. Người đầu tiên đứng ìên chống hiểm họa tham nhũng tàn hại đất nước không phải ai khác, mà chính là thi sĩ, mà đã chống một cách can đảm, dữ dội và quyết liệt biết chừng nào!”.

Chú thích:

(1) Câu thơ trong bài Màu thời gian.

(2) Tôn trọng tác giả đã quá cố, chúng tôi in nguyên bản thảo, song nhận thấy có môt vài điểm cần nói thêm. Theo tư hệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh thì thời gian xảy ra vụ án Trần Dụ Châu là cuối năm 1950. Trong biên bản cuộc họp Hội đồng Chính phủ các ngày 15, 16 và 17-11-1950 do Hồ Chủ Tịch chủ tọa, mục thứ 35 kiểm điểm vụ án này. Tại đây Người đã phát biểu: “Chúng ta sinh ra trong một xã hội phong kiến và thực dân. Xã hội ham danh, ham lợi. Danh lợi dễ làm hư người. Danh lợi là tập quán. Bây giờ chúng ta dùng cán bộ để cải tạo xã hội mà không có chính sách cải tạo cán bộ, đấy là khuyết điểm”.

Điều nữa là chúng ta không có sư phê bình và tư phê bình. Chúng ta hay nể nả nhau nên chỉ biết mình thanh liêm là đủ.Quan niệm thanh cao tự thủ thế là không đu. Tất cả chúng ta phải phụ trách trước nhân dân”.

Một điểm nữa mà theo pháp luật, bản án tử hình chỉ do tòa án xử. Chủ tịch nước chỉ ký sắc lệnh đối với đơn xin ân xá. Trước vụ án Trần Dụ Châu đã có một sắc lệnh do Người ký bác đơn xin ân xá môt án tử hình xảy ra ở miền Trung.

Chưa thấy có sắc lệnh nào của Người liên quan đến vụ án Trần Dụ Châu.

(Chú thích của Tạp chí Xưa & Nay, số 31-9 -1996)

  1. Chút nghĩa cũ càng

(…) Cách hơn một tháng trước, vợ tôi đến thăm chị Khiêm lúc này đã ốm liệt giường. Ngoài cân đường biếu người ốm, tôi gửi biếu nhà thơ nửa ìít rượu. Nhà thơ hỏi vợ tôi: “Thằng Phùng Quán chết rồi hay sao mà lâu nay nó không đến thăm tôi?,. Chị Khiêm đưa mắt lườm chồng, nói: “Đừng chấp lão ta làm gì… mồm miệng lúc nào cũng độc địa như thế…”. Vợ tôi kể lại chuyện này và có ý giận sự độc mồm độc miệng của ông. Nhưng tôi thì rớm nước mắt vì cảm động. Tôi thấy đằng sau lời rủa độc ấy là tình thương quý của ông đối với tôi – “Mình là cái con khỉ gì mà được nhà thơ Đoàn Phú Tứ thương quý làm vậy?”. Tôi thầm nghĩ thế và lòng xốn xang tình cảm biết ơn…

Bây giờ nhà thơ đã qua đời. Nhớ lại tất cả những chuyện đó, tôi càng buồn rầu hơn vì vô phương giúp đỡ gia đình ông trong cảnh tang gia cùng quẫn. Tôi lục lọi khắp nhà xem tìm được vật gì sớm mai đem bán. Nhưng cảnh nhà tôi cũng chẳng hơn gì cảnh nhà ông. Vật dụng có giá trị nhất trong nhà tôi là cái xe đạp mi-ni cũ nát, đem bán chưa chắc đã nổi hai chục nghìn.

Cái khó ló cái khôn. Trong đầu tôi chợt lóe lên “sáng kiến”: Nghe nói Đoàn Phú Tứ đã từng là đại biểu Quốc hội khóa I, vậy mình sẽ lên thẳng Quốc hội xin tiền làm ma cho ông. Sáng kiến có vẻ hay đấy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy khó lòng thực hiện nổi. Tôi lấy tư cách gì để lên tận Quốc hội xin tiền cho ông? Tôi không phải là bà con ruột thịt, không phải họ hàng, cũng không phải là bạn của ông… Tôi không có chức danh gì trong các doàn thể văn học nghệ thuật… Xuất thân là một người hnh trinh sát của một trung đoàn thiện chiến, tôi thường bị kẹt vào những tình huống hiểm nguy tường chừng không lối thoát, nhưng cuối cùng vẫn thoát. Quân đội đã rèn giũa cho tôi từ thuở thiếu mên cái ý chí: hãy tìm cho ra một kẽ hở ở những chân tường kiên cố nhất, để chui qua.

Một giờ sáng, trằn trọc trên Chòi ngắm sóng, tôi đã tìm ra kẽ hở đó. Nhưng kẽ hở này là một hạ sách, vì nó vi phạm nghiêm trọng đạo lý con người và nhà văn: Nói dối. Nghĩ vậy, tôi cảm thấy chùn tay. Nhưng thời gian gấp quá rồì, chỉ còn một buổi sáng ngày mai… Tôi tự an ủi: Mục đích sẽ biện hộ cho phương tiện. Tôi bật đèn, tìm giấy bút và sáng tác một bức thư:

“Kính gửi đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Kính thưa đồng chí, tôi xin báo với đồng chí một tin buồn: ông Đoàn Phú Tứ, nhà thơ, nhà viểt kịch, nhà dịch thuật, và đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thọ 80 tuổi, đã từ trần ngày hôm qua. Họa vô đơn chí. Vợ ông là chị Nguyễn Thị Khiêm vừa mất cách đây hai tháng. Sau ngày vợ mất, ông Đoàn Phú Tứ tìm gặp tôi và nói: “Mình cảm thấy như ngọn đèn đã cạn dầu, lụi bấc, chưa biết tắt lúc nào. Tám mươi tuổi rồi, chết không phải là điều đáng sợ, chỉ sợ một nỗi đến lúc nằm xuống, các con chẳng biết lấy gì để làm ma cho bố. Bởi vậy mình uỷ thác Phùng Quán một việc. Nếu mình nằm xuống, thì Quán hãy viết thư kêu ông Chủ tịch Quốc hội, trình bày hoàn cảnh gia đình mình, và chuyển lời mình đến với ông: “Nểu Quốc hội còn nhớ đến tình cũ nghĩa xưa, thì xin ông một cỗ áo quan và một chút tiền để mai táng”. Bây giờ ông Đoàn Phú Tứ đã nằm xuống. Tôi xin chuyển đến đồng chí lời uỷ thác của ông. Mong đồng chí lưu tâm giải quyết. Hai giờ chiều mai, gia đình ông Đoàn Phú Tứ sẽ đưa ông về Văn Điển. Nay kính thư, Phùng Quán”.

Trong cuộc đời làm văn của tôi, chưa bao giờ viết một đoạn văn nào mà tôi phải đắn đo, cẩn trọng đến như bức thư này. Tôi chép đi chép lại bức thư nhiều lần, cân nhắc từng chữ một, sửa chữa, thêm bớt.

Tôi chép lại bức thư với nét chữ nắn nót, đề địa chỉ người nhận, với dòng chữ trong ngoặc đơn: “Kính nhờ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam chuyển”.

Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng.

Tôi đến Trụ sở Hội Nhà văn vào đầu giờ làm việc May mắn nhà văn Xuân Thiều cũng vừa đến. Tôi trao bức thư và nói gần như năn nỉ: “Anh cố gắng chuyển thư đến tay anh Đạo vào buổi sáng nay, anh ấy mới giải quyết kịp”. Xuân Thiều xem bức thư rồi trao lại cho tôi, nói: “Không ăn thua đâu Quán. Chuyện tiền nong đâu có thể giải quyết một cách chóng vánh, dễ dàng như vậy?”.

Tôi buột miệng đọc câu thơ của Uytman: “Dù cho ai thất vọng về người – Ta, ta vẫn đời đời tin tưởng” Tôi nói: “Đã thế tôi sẽ lên thẳng Quốc hội gặp anh Đạo”. Tôi dắt xe đến thẳng chòi gác, cố lấy dáng đi thật chững chạc.

Anh công an gác trước Trụ sở Quốc hội (33 Ngô Quyền) bước ra hỏi:

– Cụ đến có việc gì ạ?

– Báo cáo đồng chí, tôi muốn gặp Chủ tịch Lê Quang Đạo.

– Chắc cụ muốn đưa đơn kiện phải không?

Tôi đoán anh ta cho tôi là một lão nông từ làng quê lên. Mà các cụ ở nông thôn đã tìm lên đến tận Quốc hội thì chỉ có mỗi việc là đệ đơn kháng cáo những chuyện bê bối của chính quyền địa phương.

– Không, đồng chí ạ. Tôi không có chuyện kiện cáo gì đâu. Chỉ cần gặp ông Chủ tịch để đề đạt một công việc cần thiết.

– Thế thì mời cụ dựng xe đằng kia rồi vào gặp bác thường trực.

Ông già thường trực sau khi nghe tôi trình bày vắn tắt, liền trá lời với giọng Quảng Trị đặc sệt:

– Ông Lê Quang Đạo và ông Vũ Mão mới về Hải Phòng chiều qua để kiểm tra việc chuẩn bị bầu cử hội đồng nhân dân các cấp…

“Thế thì không ăn thua gì rồi anh Tứ ơi… Anh đen quá, đen cho đến chết. Anh dịch “Đỏ và đen” mà số anh chỉ nhận được toàn phần đen… Tôi đã hết sức với anh, nhưng số phận đã được an bài… Mong vong linh anh đừng giận tôi”.

Tôi đưa phong thư và bộ “Tuổi thơ dữ dội”, nhờ ông thường trực chuyển giúp cho Chủ tịch Lê Quang Đạo ông ta lên mục kỉnh, đọc tên tôi trên phong bì thư. Ông ngẩng mặt lên hỏi: “Có phải Phùng Quán “Vượt Côn Đảo” không?”

– Đúng rồi…

– Dạo ni nom già hớm hí. Cậu quên tớ rồi à?

Tôi chăm chú nhìn ông, lòng lấy làm lạ: “Ở một nơi uy nghiêm như thế này sao lại nảy nòi ra một anh quen biết hạng người như mình?”

– Thật tình mình không nhớ được… Tôi bối rối nói.

– Vô đây uống chén nước đã, rồi ta nhắc cho mà nhớ. Cậu là lính “Trăm lẻ một”, tớ là lính “Chín lăm”. Cậu có nhớ trận phục kích đoàn công-voa gần đồn Hòa Lục Nam, chiến dịch Phan Đình Phùng năm 1952 không?

– Có, có, nhớ rồi…

– Lúc thu chiến lợi phẩm, cậu với tớ giành nhau khẩu ga-răng, cậu đạp tớ một cú giữa bụng, tớ nện cậu một cú vô quai hàm, nhớ chưa?

– Nhớ rồi, nhớ rồi… Mà ngày xưa tớ nom cậu to con hơn…

– Xí… già thì người phải teo tóp lại như trái mướp khô… Rứa cậu gặp ông Đạo có việc chi?

Tôi trình bày tóm tắt câu chuyện và nói: “Thế mà ông Đạo lại đi vắng…, có hết hơi không?…

– Cậu cứ ngồi đó, chưa chi dã chủ bại. Tớ thấy hồi còn làm lính “Trăm lẻ một” cậu coi bộ cứng cổ hơn:.. Để tớ gọi điện thoại cho ông Phó Tổng biên tập báo “Người đại biểu nhân dân”, hỏi ý kiến ông ta, liệu có giải quyết được không?

Người chiến hữu cũ của tôi gọi điện thoại, quay lại nhìn tôi gật gật: “Ông ấy mời cậu lên gặp. Điệu ni là có hy vọng đấy. Chừ cậu đi lên tầng gác hai, thấy gian phòng ngoài cửa có tấm biển đề Tổng biên tập. Ông ta đang ngồi ở đó”.

Phó Tổng biên tập báo “Người đại biểu nhân dân” kém tôi vài tuổi, tên là Thọ. Anh Thọ không những bỉết Đoàn Phú Tứ mà còn biết cả chuyện ông là người đầu tiên đã ra tay chống tệ nạn tham nhũng, trong vụ Trần Dụ Châu và Lê Sĩ Cửu, từ thời chiến khu Việt Bắc.

Đọc xong bức thư gứi đồng chí Lê Quang Đạo, anh Thọ nói: “Đây không phải là chuyện nghĩa cử mà còn liên quan đến ảnh hưởng chính trị… Anh Phùng Quán ngồi đây chờ tôi mười phút, tôi chạy đi mời một số cán bộ chủ chốt của cơ quan. Chúng ta sẽ cùng họp bàn cách giải quyết trong khi anh Đạo đi vắng”. Lát sau tôi được mời vào phòng họp.

Ngoài anh Thọ có Vụ trưởng Vụ Tài chính, Vụ trưởng Vụ Chính sách, một chuyên viên đặc trách những việc đột xuất của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bức thư gửi lên đồng chí Lê Quang Đạo được anh Thọ đọc to lên cho tất cả cùng nghe. Vụ trưởng Vụ Chính sách trạc năm mươi tuổi, người cao gầy, ánh mắt sắc sảo, nói: “Trước khi bàn bạc cách giải quyết, chúng ta phải cần kiểm tra xem ông Đoàn Phú Tứ có phải là đại biểu Quốc hội không đã…” Ông đứng lên ra khỏi phòng họp một lúc rồi trở vào, tay cầm cuốn sổ dày cộp, bìa bọc vải có chữ mạ vàng. Ông đặt cuốn sổ trước mặt tôi, giới thiệu: “Đây là Kỷ yếu danh sách đại biểu Quốc hội từ khóa I đến nay. Tên đại biểu được xếp theo vần A, B, C. Đoàn Phú Tứ, ta tra vần T. Ông lật giở kỷ yếu tìm vần T. Chúng tôi cùng chụm đầu trên ba trang vần T. Không có tên Đoàn Phú Tứ. Tôi tái mặt… Dò tìm lại lần nữa. Có tên Nguyễn Đình Thi, Phan Tứ… nhưng Đoàn Phú Tứ thì không. Tôi hoảng sợ thật sự. Thật ra, việc Đoàn Phú Tứ là đại biểu Quốc hội khóa I thì tôi cũng chỉ nghe nói vậy thôi, chứ chưa bao giờ hỏi thẳng ông… Nếu Đoàn Phú Tứ không phải là đại biểu Quốc hội thì những con người sắc sảo này sẽ nhận ra ngay sự gian dối của bức thư. Như vậy thì tôi đã tự chuốc lấy một hoàn cảnh hết sức lố bịch. Tôi chợt nghĩ: vẫn còn một tia hy vọng. Tôi nói: “Nhưng nhà thơ Đoàn Phú Tứ chi là đại biểu có mấy năm, sau đó ông bỏ thành…” Vụ trưởng Chính sách nói: “Đây là Kỷ yếu. Trong số này có cả tên Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh”.

Lúc này tôi chỉ muốn chui xuống đất. Tôi lắp bắp, ấp úng: “Việc này tôi nghe các anh ở Hội Nhà văn nói chắc lắm. Có lẽ để tôi về hỏi lại anh Nguyễn Đình Thi xem sao. Anh Thi cũng là đại biểu Quốc hội khóa I…”. Miệng nói, chân tôi dợm đứng lên, cốt làm sao rút được ra nhanh khỏi gian phòng họp. Bất chợt tôi nhìn thấy trong sổ Kỷ yếu có mục: Những đại biểu Quốc hội đào nhiệm. Tôi hồi hộp nói: “Thử tra cứu mục này xem có tên ông Tứ không?”

Ngón tay trỏ tôi lần dọc theo các hàng tên… “Đoàn Phú Tứ đây rồi!” – Tôi nói gần như reo. Vụ trưởng Chính sách xem xét lại lần nữa, rồi gật đầu: “Qua khâu kiểm tra, ông Đoàn Phú Tứ đúng là có danh sách trong đại biểu Quốc hội. Nhưng ông đã đào nhiệm từ năm 1951. Chúng tôi không còn trách nhiệm gì về ông, nên không có chính sách cấp tiền làm tang lễ cho ông…”

– Chính sách đất nước quý trọng nhân tài – Tôi nóng nảy ngắt lời ông. – Tuy ông đào nhiệm, nhưng trước đó ông là nhà thơ đầu tiên đứng lên chống tệ tham nhũng. Và ông đã chống một cách thật can đảm. Ông đã vạch mặt Trần Dụ Châu, đại tá Cục trưởng Cục quân nhu phè phỡn trên xương máu chiến sĩ. Trần Dụ Châu đã bị xử bắn như chúng ta đã biết…

Cảm thấy chừng ấy lý lẽ cũng chưa đủ thuyết phục họ, tôi liền vận dụng đến thơ. Tôi nói: “Một nhà thơ cộng sản người Đức tên là Bectôn Brếch, từng viết những câu thơ đầy sức giáo huấn:

Mộ~ người đấu tranh một giờ là một người tốt. Một người đấu tranh nhiều ngày là một người tốt hơn

Một người đấu tranh nhiều năm là một người tốt hơn nữa

Một người đấu tranh suốt đời thì rất hiếm…

Thật ra đoạn thơ này còn có câu cuối cùng:

“Những người đó mới thật cần thiết cho chúng ta”, nhưng tôi đã cắt bỏ câu này để cho việc trích dẫn thơ có lợi cho mục đích của tôi. Tôi nói tiếp: “Như vậy nhà thơ Đoàn Phú Tứ là “một người tốt hơn nữa”, vì ông đã đấu tranh nhiều năm”.

– Thơ hay quá! Mọi người trầm trồ, đề nghị anh đọc lại cho chúng tôi chép.

Tất cả cùng mở sổ tay, rút bút bi. Tôi đọc chậm rãi từng câu theo kiểu thầy giáo đọc chính tả cho học sinh… Vụ trưởng Tài vụ hỏi:

– Đồng chí nhà thơ cộng sản này là Đông Đức hay Tây Đức?

– Cộng hòa dân chủ Đức, người đã sáng lập ra Đoàn kịch nói quốc gia Béc-lanh.

Tôi không ngờ thơ lại có sức mạnh thuyết phục đến như thế. Vụ trưởng Vụ Chính sách hăng hái nói:

– Đúng, chúng ta cần phải gửi tiền đến để góp phần tổ chức tang lễ cho nhà thơ, mặc dầu chưa có chính sách về những trường hợp như thế này. Chúng ta cần phải linh động chính sách.

Vụ trưởng Tài vụ có vẻ nghĩ ngợi lung lắm, ông nói: “Nhưng ký duyệt những khoản tiền đột xuất như thế này thì phải đồng chí Lê Quang Đạo, hoặc đồng chí Vũ Mão… Mà bây giờ cả hai đồng chí đều đi vắng…”.

Anh Thọ nói: “Nếu chưa kịp gửi tiền thì chúng ta có thể gửi một vòng hoa đến viếng”. Vụ trưởng Tài vụ gật đầu: “Việc mua vòng hoa thì quyền hạn tôi có thể giảỉ quyết được”. Nhìn lên đồng hồ đã 11 giờ, ông đứng lên: “Các đồng chí cứ ngồi đây nói chuyện. Tôi cho người đi đặt vòng hoa thì mới kịp”.

Vụ trưởng Chính sách băn khoăn: “Không biết nên đề lên vòng hoa như thế nào… Vì ông Tứ không còn là đại biểu Quốc hội nữa…”. Tôi nói: “Theo tôi có thể đề: “Kính viếng hương hồn nhà thơ Đoàn Phú Tứ – Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Quốc hội gửi vòng hoa viếng một nhà thơ nổi tiếng, việc này vừa hợp với đạo lý vừa có ảnh hưởng chính trị tốt không những chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài”. Mọi người đều tán thành cách giải quyết của tôi. Anh Thọ gọi điện cho họa sĩ phụ trách “mi” của báo “Người đại biểu nhân dân”, để yêu cầu tạm xếp công việc “mi”, viết ngay một “băng-rôn” vải đỏ chữ vàng với nội dung trên.

Vụ trưởng chính sách hỏi tôi địa chỉ cua nhà thơ. Tôi nói: “Nhà ông ở bãi An Dương, hơi khó tìm. Tôi sẽ làm người dẫn đường. Đúng 1g30 tôi sẽ có mặt ở đây để cùng di với các đồng chí”.

Đồng hồ chỉ 12 giờ. Tôi thấy mệt lả và đói mềm người. Nhưng tôi tính toán: nếu trở về nhà ăn cơm rồi đạp xe đến thì không kịp mất. Tôi quyết định ở lại đây buổi trưa. Tôi ghé vào phòng thường trực ngồi chơi với người chỉến hữu cũ của sư đoàn, hút thuốc lào và ôn lại những kỷ niệm chiến trường để dịu bớt cơn đói.

Đúng 1g30, chiếc Vonga đen choáng lộn mang biển số Văn phòng Quốc hội, chở một vòng hoa lớn, vắt chéo tấm băng-rôn đỏ nổi bật dòng chữ nhũ vàng do một họa sĩ trang trí viết: “Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước – Kính viếng hương hồn nhà thơ nổi tiếng Đoàn Phú Tứ” chạy về phía bãi An Dương.

(…) Nhiều năm tháng đã trôi qua. Mộ nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã được các con cải táng… Nhưng lòng tôi sao vẫn ray rứt mãi không yên. Trong sự việc này, tôi đã phạm hai lần nói dối. Càng luống tuổi, càng sống, càng chiêm nghiệm tôi càng không tin rằng “mục đích có thể biện hộ cho phương tiện”. Trên khắp thế gian, người ta đã phạm biết bao nhiêu tội ác chỉ vì cái lập luận đáng sợ này. Những lỗi lầm mà tôi đã phạm phải trong công chuyện nhà thơ Đoàn Phú Tứ, có nguồn gốc sâu xa của nó. Năm tôi mười tám tuổi, là lính trinh sát của Trung đoàn 101. Tôi được cử vào đội bảo vệ một đoàn văn nghệ sĩ từ vùng tự do Liên khu 4, vào Thừa Thiên đi thực tế chiến trường. Trong đoàn này có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng: Thanh Tịnh, Phạm Duy, Bửu Tiến…

Đội bảo vệ chúng tôi có 8 người, vừa làm công tác bảo vệ, vừa dẫn chương trình, trinh sát. Trước khi lên đường nhận công tác, Chính uỷ Trung đoàn Trần Quý Hai đến gặp chúng tôi, chỉ thị: “Nhân tài là vốn quý của đất nước. Một đất nước không có nhân tài thì đất nước đó sẽ lụn bại. Bởi vậy các đồng chí phải bảo vệ văn nghệ sĩ như bảo vệ con ngươi giũa mắt mình”. Chúng tôi đã thi hành chỉ thị của Chính uỷ hết sức nghiêm chỉnh. Ngày đó chiến trường Thừa Thiên bom đạn đầy trời, giặc càn quét ìiên miên. Suốt hai tháng, đạn giặc không đụng đến được cái lông chân đoàn văn nghệ sĩ. Đội bảo vệ chúng tôi hy sinh mất hết hai chiến sĩ, còn tôi bị thương ở cẳng chân, suýt bị cưa phía trên đầu gối.

Do được ở gần đoàn văn nghệ sĩ, cánh lính bảo vệ chúng tôi cũng tập tọng bắt chước các anh, làm thơ. Tôi cũng có làm được vài câu nôm na như sau:

“Nếu các anh bị bốn bề vây súng giặc – Chúng tôi sẽ xông ra lấy ngực che đạn cho các anh…”.

Do đó về sau này, mỗi lần nhìn thấy các anh văn nghệ sĩ có tên tuổi, có tài năng phải sống khổ cực như nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tôi lại chợt nhớ đến lời dạy của Chính uỷ năm nào… Khốn nỗi, bây giờ muốn che chở, bảo vệ nhân tài, không còn cần đến ngực, đến máu (thứ chúng tôi có sẵn) như ngày ở chiến trường. Mà cần tiền – thứ chúng tôi hoàn toàn không có – Bởi vậy, tôi phải sứ dụng đòn liều mạng, mà trong thâm tâm tôi biết đó là một biện pháp rất tồi tệ, không thể nào tha thứ được. Tôi coi thiên hồi ức này là sự tạ tội trước hương hồn nhà thơ Đoàn Phú Tứ – vì nội dung điều nóỉ dối của tôi không phù hợp với tính cách con người ông; đồng thời đây cũng là lời tự thú với đồng chí Lê Quang Đạo mà tôi hết lòng kính trọng, với các anh ở cơ quan Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, và với độc giả!

Tôi trông chờ vào sự phán xét dù nghiêm khắc đến đâu. Tôi hy vọng có như vậy tôi mới được cứu rỗi.

Hồ Tây – 1993

(Văn bản 6)

Đêm trắng sau 15 năm trở lại

y 03 tháng 09 năm 2005

http://www.tienphong.vn/van-nghe/dem-trang-sau-15-nam-tro-lai-20542.tpo

…Vở kịch Đêm trắng kể chuyện Bác Hồ xem xét án tử hình một cán bộ có chức vụ cao trong quân đội – đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu. Đây là một câu chuyện có thật trong những năm toàn dân và toàn quân ta dồn hết sức người, sức của kháng chiến chống thực dân Pháp (những năm 50 của thế kỷ 20).

Trong lúc từ Chủ tịch đến người dân đều phải mỗi tuần nhịn ăn một bữa, mỗi ngày dành một vốc gạo vào hũ gạo tiết kiệm kháng chiến…thì Hoàng Trọng Vinh (tên nhân vật) chất gạo đầy kho để báo cáo thành tích nhưng không cấp cho bộ đội, bớt xén công quỹ tiêu xài phè phỡn, hoang phí…

(Văn bản 7)

Xem, nghe “Đêm trắng” để chống giặc nội xâm

QĐND – Thứ ba, 09/01/2007

                http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/van-hoa-the-thao-giai-tri/xem-nghe-dem-trang-de-chong-giac-noi-xam/7440.html

Trong mỗi chúng ta không ít người đã được nghe hoặc xem vở kịch “Đêm trắng” của tác giả Lưu Quang Hà. Đây là vở kịch dựng lại câu chuyện lịch sử có thật xảy ra vào lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước sang giai đoạn gay go, ác liệt (năm 1950). Câu chuyện nói về vụ án tham nhũng nghiêm trọng mà kẻ phạm tội lại là một cán bộ cấp cao của Quân đội, nắm giữ quyền quản lý cung cấp quân nhu trong quân đội lúc bấy giờ đã bị tòa án quân sự xử với mức án tử hình. Can phạm đã có đơn kháng án gửi Bác Hồ.

Có thể tóm lược nội dung vở kịch như sau:

…Với cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ đã dành nhiều thời gian đọc lại các văn bản của vụ án, gặp gỡ những người thụ lý, gặp gỡ các thân nhân liên quan trong vụ án. Bác lật giở từng trang ghi chép của điều tra viên, đọc kỹ lời khai, đơn kháng án của Hoàng Trọng Vinh.

Đầu tiên Bác cho gọi chị Hiền-vợ của bị cáo Hoàng Trọng Vinh. Hình ảnh của Hiền bước ra gặp Bác thật cảm động. Chị nghẹn ngào chào Bác và nói: “Thưa Bác, mặc dù khi có chức có quyền, có tiền, anh ấy ruồng rẫy mẹ con cháu, hàng mấy năm trời không đoái hoài nhìn mẹ con cháu, nhưng cháu nghĩ chẳng gì vợ chồng cũng ăn ở với nhau và đã có một mặt con với nhau, cháu không nỡ…”. Nói đến đây chị Hiền nghẹn ngào và khóc. Bác an ủi, động viên chị Hiền. Vừa lúc ấy thì Hoàng Trọng Vinh được gọi và bước vào, không hề hỏi vợ lấy một câu mà khi trông thấy Bác, Hoàng Trọng Vinh đã quỳ xuống nói lớn, đại ý kêu oan, kêu nặng và với câu: “Thưa Bác, cháu còn vợ con…”. Vừa nghe đến đó, Bác nghiêm khắc nói: “Bác không cho phép một chiến sĩ đã từng vào sinh ra tử lại quỳ gối một cách đớn hèn như vậy”, còn chị Hiền thì dường như không thấy còn tình nghĩa gì nữa với người chồng bội bạc kia, nhìn về Bác và nói: “Thưa Bác, vừa nãy cháu làm Bác phải bận tâm” và xin phép Bác lui ra. Đến đây, Bác quay sang hỏi Hoàng Trọng Vinh về những tội mà Tòa đã kết. Hoàng Trọng Vinh không hề chối cãi và chỉ xin Bác tha tội. Bác nghiêm nét mặt nói: “Khi có chức, có quyền thì chú quên vợ con, bây giờ lại lấy vợ con ra như là một cái bình phong để che chắn cho mình. Hành động và tội lỗi của chú không thể có ở một người chiến sĩ cách mạng”và Bác quyết định ký chuẩn y bản án tử hình đối với Đại tá-Cục trưởng Cục Quân nhu Hoàng Trọng Vinh.

Sau khi đã chuẩn y bản án, Bác phê bình nghiêm khắc một đồng chí cán bộ Trung ương đã lợi dụng cương vị để bao che, dung túng cho Hoàng Trọng Vinh. Bác nói: “Từ ngày mai, đồng chí thôi công tác ở cơ quan Trung ương mà đi về cơ sở để được gần dân, có thực tế nhiều hơn trong công tác”. Bác quay sang chỉ thị cho đồng chí lãnh đạo quân đội có mặt ở đó: “Ngày mai thi hành ngay bản án, đồng thời triệu tập các nhà báo thông báo quyết định đối với bản án, cho in báo kịp thời, cần thiết tăng số lượng phát hành rộng rãi đến nhân dân, nhất là vùng địch hậu để nhân dân, kể cả kẻ địch biết là Đảng ta, Chính phủ ta xử rất nghiêm đối với hành vi tham nhũng, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của nhân dân”. Nói đến đây Bác quay sang hỏi một đồng chí bảo vệ: “Bây giờ là mấy giờ rồi chú?”. Đồng chí bảo vệ: “Thưa Bác, đã gần năm giờ sáng rồi ạ“.

Đêm ấy Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã thức trọn Đêm trắng“…

TRẦN THÔNG

(Văn bản 8)

                Ban liên lạc truyền thống Trường Sĩ quan Lục quân Trần Quốc Tuấn phía Nam

Cha Trần Tử Bình, niềm tự hào của anh chị em chúng tôi (Trần Kiến Quốc)

Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2015

http://lucquantranquoctuanphianam.blogspot.com/2015/02/cha-tran-tu-binh-niem-tu-hao-cua-anh.html

Bài viết trên tập 1 bộ sách “TƯỚNG LĨNH VN THẾ KỶ XX QUA LỜI KỂ CỦA NGƯỜI THÂN” (THÁI HÀ BOOKS)

Anh em trong gia đình tôi gọi thân phụ là Cha có căn nguyên của nó. Cha tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo.

…Những ngày giáp Tết Đinh Mùi 1967, cha tôi về họp Trung ương, không may bị cảm lạnh phải cấp cứu vào Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Chiều 30 tết, mẹ tôi và em gái Hạnh Phúc đang ngồi chơi với cha thì thấy Bác và chú Vũ Kỳ đến thăm. Cha tôi định xuống giường chào Bác thì Bác xua tay:- Chú còn mệt, cứ nằm nghỉ. Thế sức khỏe của chú ra sao rồi?
– Dạ, vào viện có thuốc và được nghỉ ngơi nên huyết áp đã ổn định hơn. – Cha tôi trả lời.
– Vậy là tốt, chú cố gắng chữa cho khỏi. Công việc cách mạng ngoài kia đang rất cần nhiều người như chú. Và hôm nay có chút quà cho chú đây.
Chú Vũ Kỳ lấy trong túi ra mấy quả táo, đặt lên bàn. Bác vui vẻ:
– Đồng chí Chu Ân Lai tết này có gửi sang ít hoa quả biếu Bác. Nay Bác có quà cho chú bồi dưỡng chóng lành bệnh, sớm về làm việc. Vậy chú là “bệnh nhân đặc biệt” của 2 nước Việt, Trung đấy nhé. Còn vài giờ nữa là sang năm mới, Bác tranh thủ đi thăm mỗi nơi một tí. Nghe anh em báo cáo, Đại sứ Trung Quốc Chu Kỳ Văn cũng bị cao huyết áp, đang điều trị tại đây. Tết nhất xa nhà lại bị ốm, chắc đồng chí cũng buồn. Bác tranh thủ sang thăm đồng chí ấy. Chúc chú chóng khỏi bệnh và chúc cả nhà một năm mới đầy hạnh phúc!
Nói rồi Bác chia tay cha mẹ tôi.
Ai ngờ, chỉ 3 ngày sau, sớm mùng 3 Tết, cha tôi chuyển bệnh và vĩnh viễn ra đi.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s