Bài 38. Muốn giữ bí mật, phải diệt người thân

Chương 10. Thắc mắc về Ẩn – Robert Shaplen, một nhà báo Mỹ đã bị đầu độc mà chết.

            Bài 38.  Muốn giữ bí mật, phải diệt người thân!

                          “Mối quan hệ trong nghề gần gũi nhất của Ẩn là với Bob Shaplen!”

                                    ***

  1. Robert Shaplen là một nhà báo tầm cỡ thế giới!

“Nếu Deepe chỉ là một võ sĩ hạng bán trung hăng máu, thì Robert Shaplen lại là một nhà báo tầm cỡ thế giới, liên tục cho ra đời những bài báo và cuốn sách về châu Á trong suốt 50 năm. Shaplen là trưởng đoàn báo chí Mỹ tại Việt Nam, một người đàn ông to lớn, thô ráp, giọng ồm ồm, chuyên hút xì gà, giữ cương vị phóng viên thường trú tại vùng Viễn Đông của tờ The New Yorker. Ông sống trong một căn phòng khách sạn trông ra vịnh Hồng Kông, trừ những khi ở Sài Gòn, nơi ông sống trong phòng 47 tại khách sạn Continental Palace. Shaplen viết bốn bài báo cho tờ The New Yorker mỗi năm, những bài đánh giá dài, chi tiết, và đầy thâm thúy về chính phủ và chính sách quân sự, với thông tin từ những nguồn ở cấp cao nhất. “Ông ấy là một trong những nhà báo con cưng của chúng tôi,” cựu sĩ quan CIA Frank Snepp nói. “Chúng tôi có lệnh từ cấp cao nhất cho phép ông ta tiếp cận một cách không thể tin nổi với đại sứ quán và tình báo cấp cao.”

Cựu trưởng đại diện của Newsweek Kevin Buckley, người cũng sống và làm việc tại Continental, kể về việc Shaplen, người chiếm dụng căn phòng trung tâm đối diện với cửa chính của khách sạn, chiều nào cũng mở cửa phòng mình tổ chức tiệc cocktail thu hút những nhà báo có nhiều ảnh hưởng nhất trong thành phố, trong đó có Phạm Xuân Ẩn. “Sau buổi giao ban quân sự hàng ngày lúc 4:45 phút chiều, chúng tôi lại ghé vào quán cà phê Givral hoặc phòng Shaplen hoặc cả hai,” Buckley nói. “Lúc nào ông ta cũng có một chai Scotch, và kiểu gì cũng có phục vụ bàn lăng xăng chạy ra chạy vào với xô đá, ly, và soda. Ông ấy là một vị chủ nhà tuyệt vời.”

“Shaplen đồ rằng phòng của ông ấy còn có thiết bị thu âm tốt hơn cả một phòng thu,” Buckley nói. “Sống cạnh ông ấy là các nhà ngoại giao Canada, Ba Lan và Ấn Độ thuộc Ủy ban Giám sát Quốc tế. Ủy ban này được thành lập để giám sát cuộc tổng tuyển cử năm 1956 với mục đích thống nhất Việt Nam. Khi cuộc tổng tuyển cử bị hủy bỏ, những người này chẳng còn việc gì khác hay ho hơn để làm trong 20 năm tiếp theo ngoài việc nghe lén những cuộc điện thoại của Shaplen gọi cho CIA. Cứ khi nào xuất hiện một câu hỏi cần được trả lời, Shaplen lại nhấc điện thoại và gọi xuống sảnh. “A lô, Bob Shaplen đây, nối cho tôi số 4…” Buckley hạ thấp giọng và bắt đầu gầm gừ kiểu thì thầm rõ mồn một mà Shaplen vẫn dùng khi nói chuyện với bạn bè mình ở đại sứ quán.

Bất kể ông có làm việc cho CIA hay không, người ta vẫn biết rằng Shaplen đã dành sự phục vụ của mình cho chính phủ Mỹ ít nhất một lần, khi ông làm nhiệm vụ chuyển tải những thông tin liên lạc bí mật giữa Washington và Hà Nội cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Đến giữa năm 1966, chính phủ Mỹ bắt đầu lo sợ về số phận những phi công Mỹ và những tù binh khác bị giam giữ tại Hà Nội. Bị bắt giữ trong một cuộc chiến tranh không tuyên bố chính thức, những người này bị coi là tội phạm chiến tranh – mà như bây giờ được gọi là “binh sĩ thù địch”. Lo lắng muốn đảm bảo những người này được các Công ước Geneva bảo vệ và không bị tra tấn với mục đích “nhận tội” hoặc bị đưa ra xét xử và hành hình, đại sứ lưu động của Mỹ Averell Harriman đề nghị Shaplen liên lạc với Bắc Việt Nam.

Shaplen được phái từ New York đi Phnom Penh, tại đây ông được hướng dẫn tìm gặp người quen cũ của mình là Wilfred Burchett. Là một người có cảm tình với cộng sản đồng thời là một nhà báo với nhiều bài viết từ những “vùng giải phóng” của Việt Nam, Burchett được xem như con đường nhanh nhất để tới Hà Nội. Shaplen viết một bức thư trình bày chi tiết những mối lo ngại của Mỹ và đề nghị một thỏa thuận, hoặc là hàng y tế hoặc trao đổi tù binh, cho việc trả tự do cho các phi công Mỹ. Hai ngày sau khi Burchett chuyển bức thư của Shaplen cho đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở Phnom Penh, ông nhận được thư trả lời. Gọi các tù binh Mỹ là “những kiều dân tội phạm” (“criminal nationals”), bức thư tuyên bố, không đề cập thời gian cụ thể, rằng các “tù binh [sẽ] được trả về với gia đình mình.” (Phải bảy năm nữa trôi qua điều này mới xảy ra.) Shaplen xin phép Harriman để viết một bức thư khác cảm ơn những người cộng sản đã “thông cảm với khía cạnh nhân đạo của vấn đề”. Ông cũng muốn nói rõ rằng lá thư đầu tiên của mình, mặc dù được gửi đi từ một “cá nhân riêng lẻ”, được viết theo sự ủy quyền của chính phủ Mỹ.

” (The Spy Who Loved Us, page 155)

  1. Shaplen và Phạm Xuân Ẩn.
  1. Bob Shaplen là bạn thân thiết của Phạm Xuân Ẩn.

Mối quan hệ trong nghề gần gũi nhất của Ẩn là với Bob Shaplen, người từ năm 1962 đến 1978 đóng tại Hồng Kông trong vai trò phóng viên thường trú vùng Viễn Đông của tờ New Yorker, đưa tin về Chiến tranh Việt Nam và các nước khác ở châu Á. Những lúc ở Sài Gòn, ông thường xuyên trú tại phòng 307 khách sạn Continental. Từ cửa sổ và ban công phòng khách sạn, ông có thể nhìn thẳng sang tòa nhà Quốc hội; bên phải ông và nằm phía bên kia đường là tiệm Givral. Nhà nhân chủng học Gerald Hickey nhớ lại, “Khi Bob Shaplen ở Sài Gòn, tôi và Ẩn thường tới phòng ông ta ở khách sạn Continental, nơi có nhiều người tụ tập. Họ gồm ký giả, trong đó có Ịean-Claude Pomonti của tờ Le Monde, George McArthur của Los Angeles Times, Keyes Beech của Chicago Daily News, và những người ăn dầm ở dề tại Việt Nam như Lou Conein. Rồi sau đó, các quan chức Việt Nam, có cả Tướng Trần Văn Đôn, cũng tới”. (14)(kỳ 28 – chương 5)

“Lou Conein qua lại thường xuyên với Ẩn và Shaplen. Ông luôn khẳng định rằng Ẩn định hình phong cách viết của Shaplen. Conein nhớ có lần đưa Shaplen tới thăm Thượng tọa Thích Trí Quang, nhưng khi bài phỏng vấn của Shaplen xuất hiện trên tờ New Yorker, nó không còn giống với những gì mà Conein đã nghe nhà sư Trí Quang đã nói với Shaplen. Khi Conein vặn vẹo Shaplen về tính xác thực của bài báo rằng,“Bob, ông ta đâu có nói vậy,”Shaplen đã đáp, “Nhưng đó là điều ông ta muốn nói, Lou, đó là điều ông ta thực sự muốn nói”.Conein kết luận rằng chuyện này là do Shaplen “đã tốc ký rất nhiều đoạn mà Trí Quang đã nói và sau đó đi gặp Anh [nguyên văn, tức Ẩn] và Vượng tại tiệm Givral. Ông ta đưa cho họ xem bản ghi chép và rồi hai người kia nói, ‘ông sư nói vậy, nhưng thực ra ý ông ta là thế này, ông ta thực sự muốn nói như vầy, như vầy’. Thế rồi Bob cứ thế mà viết”.” (kỳ 28 – chương 5)

Conein tin rằng kiểu gây ảnh hưởng này cũng tác động tới sự phân tích của Shaplen đối với chính trị nội bộ Việt Nam và ý nghĩa của nó. Sau khi đọc các bài báo trên tờ New Yorker, Conein thường vặn Shaplen: “Bob, tôi có nguồn tin cho biết là chuyện không phải như thế đâu”. Theo ghi chú của Sheehan thì “Shaplen sẽ bảo rằng Conein sai, và thường viện dẫn lời của Anh [nguyên văn] và Vượng ra để làm chứng”(15)Cả Conein lẫn Sheehan đều nghĩ rằng Ẩn “trở thành một Điệp viên hoàn hảo của Việt Cộng, bởi vì, cùng với các yếu tố khác, ông ta biết mọi thứ mà Shaplen có được từ Đại sứ quán và chi nhánh CIA, cũng như biết người Mỹ có ý định làm gì và họ đánh giá tình hình như thế nào, ít nhất là từ khi Shaplen nhận được những thông tin này, và Anh [nguyên văn] đã có một vỏ bọc hoàn hảo với tư cách là trợ lý chính thức của Shaplen khi Shaplen tới thành phố này và những năm sau đó là vỏ bọc trong vai trò là ký giả của tờ Time”. ” (kỳ 28 – chương 5)

Từ ngày 24 đến 26 tháng 1 năm 1973, ngay trước khi Hiệp định được ký, Shaplen viết rằng “Ẩn có cảm giác chúng ta sẽ không cắt viện trợ – không thể bất chấp dư luận thế giới về tái thiết. Nhưng chúng ta có thể cắt cổ Thiệu”.” (kỳ 33 – chương 6)

  1. Ẩn rời Reuters đến Time vào năm 1964

Ông Ẩn rời Reuters vào năm 1964 sau khi tranh cãi với Nick Turner. “Sự tiết lộ thân phận hoạt động ngầm của ông ta đã khiến nhiều đồng nghiệp của tôi ngạc nhiên và đã có nhiều người viết về điều đó, nhưng đối với tôi thì không có gì đáng ngạc nhiên cả”, Nick Turner viết. “Tôi luôn nghi ngờ và thường nói với ông ta điều đó, nhưng tôi bảo sẽ không có vấn đề gì nếu ông ta làm được việc. Tuy nhiên, tôi luôn cẩn trọng trong việc chia sẻ những thông tin nhạy cảm với ông ta, và rõ ràng ông ta phật ý về điều này nên cuối cùng chuyển qua văn phòng của Time. (18)Khi tôi đề nghị Turner nói chi tiết về quan điểm, ông ta viết: “Tôi chưa bao giờ nói với ông ta rằng tôi nghĩ ông ta là sĩ quan tình báo Việt Cộng, chứ đừng nói là sĩ quan cấp cao, và thực tế thì tôi chưa bao giờ nghi ngờ như vậy. Nhưng cảm tình của ông ta là rất rõ ràng và đó là điều tôi đã trao đổi với ông ta, nhưng không hề làm ầm lên. Đối với tôi, thật là tự nhiên – và chẳng có gì đáng phê phán cả – khi một người với bản tính và bề ngoài có vẻ triết lý như ông ta có cảm tình với Việt Cộng, và tôi cũng ghi nhận những cuộc trò chuyện với ông ta đã giúp tôi hiểu phần nào sự phức tạp của khái niệm được nhiều người gọi là chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Mối nghi ngờ của tôi nằm ở chỗ, bởi Ẩn có cảm tình khá rõ ràng nên ông ta hầu như chắc chắn bơm thông tin cho Việt Cộng, nhưng có lẽ là ở cấp thấp, thông qua những gián điệp khác hoặc mạng lưới nào đó. Cũng có những lý ảo khác khiến tôi nghĩ đến khả năng này.Nhưng tôi muốn nhấc lại, tôi chưa từng nghĩ rằng bản thân ông ta là một phần quan trọng trong chiến dịch tình báo của họ.(19)” (kỳ 28 – chương 5)

Ẩn có cách giải thích khác về cuộc cự cãi ấy, ông mở đầu rằng. “Nick Turner chưa bao giờ nói với tôi một lời nào về việc nghi ngờ tôi là Việt Cộng. Tôi không cần ông ấy chia sẻ những thông tin nhạy cảm, bởi tôi có những nguồn tin riêng của mình, còn tốt hơn nguồn của ông ấy nhiều, tôi cam đoan với ông như vậy. Tôi rất lấy làm tiếc khi đọc được những điều mà ngày nay ông ấy nói ra, bởi ông ấy biết rõ tôi đã bảo vệ ông ấy và Reuters để không rơi vào tình huống bẽ bàng. Tôi là nguồn tin chính của ông ấy về tất cả mọi thứ và ông ấy biết rất rõ điều đó. Tồi rất tiếc phải nói ra điều này, nhưng những gì ông ấy nói là sai”. (20)Ẩn giải thích với tôi rằng ông nghỉ việc ở Reuters vào ngày ông trở về sau khi đi tường thuật cuộc đảo chính vào tháng 8 năm 1964, sự kiện Thiếu tướng Khánh hất Thiếu tướng Dương Văn Minh để đứng đầu Việt Nam Cộng hòa. Turner cần phải nộp bài báo này, nhưng các sự kiện xảy ra trong dinh khiến Ẩn bị trễ nhiều giờ. “Cậu vừa từ nơi quái quỷ nào trở về vậy, Ẩn? Tôi đã đợi cậu quá lâu rồi”, Ẩn nhớ Turner đã hét lên như vậy. “Tôi đi lấy tin đảo chánh trong dinh”, Ẩn đáp.Ẩn kể rằng khi cuộc tranh cãi trở nên gay cấn, Turner bảo ông đem con chim “ồn ào” mà ông để trên bàn đi chỗ khác. “Tôi bảo ông ta rằng nếu đem chim đi thì tôi đi luôn, và tôi thực sự đã làm vậy. Lúc ấy tôi giận đến phát điên lên được, cứ xua mọi thứ trên bàn xuống. Tôi thu dọn đồ đạc và không bao giờ quay lại Reuters nữa. Nick Turner đã để mất một nguồn tin quý giá và ông ta biết điều đó”.“” (kỳ 28 – chương 5)

            ““Về chuyện Ẩn chuồn khỏi Reuters, thực tế thì ông ta không chỉ đi ‘vài giờ’ mà là tới ba hay bốn ngày gì đó và tôi biết ông ta không rời khỏi thành phố”, Turner giải thích. “Lúc ông ta đường đột trở lại thì có lẽ tôi đã nói ‘Cậu vừa từ chỗ quái quỷ nào trở về vậy, Ẩn?” Vì ông ta bảo vừa làm một phi vụ quan trọng gì đó cho Beverly Deepe. Nghe vậy tôi liền bảo rằng ông ta được trả lương để làm việc cho Reuters, thì ông ta nói lương ở đây quá thấp, ông ta nói đúng. Tôi đã đề nghị Reuters tăng lương cho ông ta bởi vì nhu cầu về trợ lý giỏi người Việt cho các phóng viên nước ngoài đang tăng cao, nhưng đề nghị của tôi đã bị từ chối. Tôi cũng được an ủi bằng chuyện một vài phóng viên nước ngoài thinh thoảng tạt qua văn phòng Reuters để khai thác chất xám của ông ta (mà tôi không phản đối), và một vài người trả công cho ông ta bằng nhiều cách khác nhau. Ông ta không chịu được sự quở trách của tôi nên đã cuốn gói ra đi”. (21)” (kỳ 28 – chương 5)

            “Ít lâu sau Ẩn được Bob Shaplen giới thiệu với Frank McCulloch của tờ Time. (27) McCulloch, một cựu lính thủy đánh bộ; tác nghiệp trong hầu hết các trận đánh lớn trong giai đoạn 1964-1965, phần lớn là đi cùng Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến, về sau, ông được tặng thẻ bài ghi nhận ông là một thành viên danh dự của đơn vị. Vào đầu năm 1964, quy mô nhân sự của Time và Life – tương tự cuộc chiến tranh – vẫn còn nhỏ. John Shaw là một cộng tác viên thường trú tại Sài Gòn, và ông ta thường cùng Frank làm việc tại căn hộ của Shaw trên đường Công Lý cũng như phòng của McCulloch tại khách sạn Caravelle. Sự hiện diện quân sự của Mỹ lúc đó vào khoảng mười sáu ngàn lính. Rồi chẳng bao lâu sau, Jim Wilde đến và họ chuyển tới phòng số 6 tại khách sạn Continental. Năm 1964, văn phòng tại Sài Gòn tuyển nhân viên người Việt làm việc toàn thời gian đầu tiên, Nguyễn Thụy Đăng, trong vai trò chánh văn phòng. Khi chiến tranh lan rộng, Frank bảo Đăng kiếm một văn phòng mới. Họ chuyển tới số 7 Hàn Thuyên, cách Continental bốn dãy nhà về phía tây, cạnh nhà thờ Đức Bà, văn phòng điện tín và bưu điện. Vào thời điểm McCulloch ra đi, Time-Life đã có biệt thự riêng, năm phòng trong khách sạn Continental, bao gồm cả phòng số 6 là văn phòng của Life. (28)McCulloch ngay lập tức có ấn tượng về Ẩn. “Ẩn đáp ứng mọi điều mà tôi trông đợi. Ông ấy rất am tường về sự xoay chuyển tình hình. Sau khi đã nhìn lại mọi chuyện, tôi có thể nói rằng vai trò điệp viên đã không hề làm cong vênh nghề báo của ông ấy”. ” (kỳ 29 – chương 5)

            “Thách thức lớn nhất đối với một phóng viên Mỹ tại Việt Nam là việc thâm nhập vào các khu chợ hoặc quán cà phê nơi vốn là những cỗ máy tin đồn của Sài Gòn. Shaplen đã phải dựa vào người bạn thânPhạm Xuân Ẩn: “[ông ấy] được một tạp chí Mỹ tuyển mộ và có lẽ là nhà báo người Việt siêng năng nhất và được kính nể nhất tại thành phố… Ẩn, dù làm cho người Mỹ nhưng vẫn được người Việt tín nhiệm, đặt chỉ tiêu mỗi buổi sáng phải tới ít nhất năm điểm như thế (nơi có nhiều tin đồn) trước khi trực chỉ tiệm Givral; và rồi sau bữa trưa, ông ấy đi tới các buổi họp báo chính thức của Mỹ và Việt Nam trước khi trở lại Givral”.Shaplen sau đó trích dẫn lời của Ẩn nói về những phẩm chất cần có của một phóng viên làm việc hiệu quả ở Sài Gòn…” (kỳ 29 – chương 5)

“Ẩn đã cung cấp cho Shaplen một sự phân tích chi tiết về tình hình.(36) “Ẩn sợ nhất là những người lính vô kỷ luật và quân cướp. Ông ta cầu nguyện cho Sài Gòn,” Shaplen viết.(37)

THÁNG 4 ĐẾN với đầy những nỗi âu lo trong lòng Ẩn về an nguy của gia đình và bè bạn. Ông biết thời gian không còn nhiều. “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ đi Mỹ, nhưng tôi phần vân không biết là có nên để vợ con ra đi hay không. Tôi không nhận được thông tin nào từ Hà Nội, không có sự chỉ dẫn nào, và tôi cũng chịu áp lực từ tờ Time là phải đưa ra quyết định. Tất cả bạn bè đều muốn giúp đỡ tôi, chứ không chỉ riêng tờ Time, có rất nhiều người tốt bụng. Malcom Browne đề nghị đưa tôi vào đanh sách của New York Times dù tôi làm việc cho một tờ báo đối thủ; một đại diện của Reuters đến tiệm Givral đề nghị giúp tôi và gia đình xuất ngoại. Jim Robinson, người từng làm việc cho đài NBC, mời tôi và gia đình đi cùng chuyến bay do ông thuê. Rồi đến ngày 22 tháng 4, Bob Shaplen bảo tôi đã đến lúc phải quyết định, vĩ an nguy của vợ con. Tôi bảo được rồi, cho tôi một ngày để suy nghĩ”.

…Shaplen viết cho Lansdale vào ngày 10 tháng 5 rằng “nằm trong số những người ở lại, bất chấp mọi lời nài nỉ, trong đó có cả sự nài nỉ của tôi, là Phạm Xuân Ẩn, bạn cũ của chúng ta ở tờ Time… Hy vọng là ông ấy sẽ ổn.”(40) …” (Điệp viên hoàn hảo kỳ 35: Tổng thống Thiệu từ chức)

  1. Shaplen và Phạm Xuân Ẩn dành nhiều giờ ngồi rịt cùng nhau.

            Shaplen và Phạm Xuân Ẩn dành nhiều giờ ngồi rịt cùng nhau trong phòng khách sạn của Shaplen trao đổi về tình hình chính trị Việt Nam và diễn biến cuộc chiến, rồi Shaplen thậm chí còn viết về Phạm Xuân Ẩn trong một bài báo trên tờ The New Yorker với nhan đề “Chúng tôi vẫn luôn sống sót”, đăng năm 1972. Phạm Xuân Ẩn “có lẽ là nhà báo Việt Nam làm việc chăm chỉ và được kính trọng nhất trong thành phố”, Shaplen viết, ông bắt đầu bài báo của mình với một đoạn dài tả quán cà phê Givral. “Mọi người đều đến Givral không chỉ để trao đổi thông tin mà còn để chơi trò đối thoại khôn ngoan mà người Việt Nam vốn chơi giỏi hơn người Mỹ rất nhiều – thử thách lẫn nhau, nắn gân lẫn nhau, cố gắng trêu đùa người này để gièm pha người khác. ” (The Spy Who Loved Us, page 157)

Shaplen tiếp tục đi theo Phạm Xuân Ẩn với những thói quen hằng ngày của ông. “Bên cạnh đường Hàm Nghi là một con đường có tên là Nguyễn Công Trứ, nơi mỗi buổi sáng vào khoảng mười giờ các thương nhân Hoa kiều hoặc đại lý người Việt Nam của họ lại tụ tập trong hai ba quán cà phê để cùng xác định xem tỷ giá hối đoái chợ đen của đồng tiền Nam Việt Nam sẽ là bao nhiêu và cũng để ấn định giá gạo, thịt lợn, và các hàng nhu yếu phẩm khác. Trong nửa giờ sau khi quyết định của họ được đưa ra, tin tức đã đến hai chợ hàng hóa chính tại Sài Gòn và Chợ Lớn và tới thị trường đô la chợ đen. Cung cách làm ăn do Hoa kiều chi phối này có từ thời Pháp thuộc, người Pháp cũng hoạt động ở những chỗ đó thông qua các nhà tư sản mại bản của mình.”

” (The Spy Who Loved Us, page 158)

            “Đến lúc này đã thấy đoi đói, Phạm Xuân Ẩn và Shaplen nghỉ ăn trưa. “Cũng quanh khu này có một số nhà hàng, mỗi nơi phục vụ một đối tượng khách hàng khác nhau, và Phạm Xuân Ẩn đưa tôi tới những nơi này trong hành trình đi tìm kiếm những mẩu thông tin của anh ta. The Victory, một nhà hàng rộng thênh thang trên đường Hàm Nghi chuyên về đồ ăn Trung Hoa, có không khí buổi sáng giống như không khí buổi chiều ở Givral, nhưng không đông đúc bằng. Các chính trị gia, nhà báo, và các thương nhân quan trọng trao đổi thông tin tại đó vào mỗi buổi sáng bên tách trà hoặc bát cháo bát mì Trung Hoa. ” (The Spy Who Loved Us, page 159)

Trong cuốn sách Chiến thắng cay đắng (Bitter Victory) của mình, mà ông viết sau khi đi xuyên Việt Nam và Campuchia năm 1984, Shaplen gọi Phạm Xuân Ẩn “chắc chắn là một trong những người thạo tin nhất trong thành phố… Trong những lần trò chuyện của chúng tôi qua nhiều năm, thường kéo dài đến hàng giờ, tôi phát hiện ra rằng những sự thật và quan điểm mà anh ta ấp ủ liên quan đến cộng sản, chính phủ, và rất nhiều cá nhân cũng như các nhóm đang tranh giành nhau – gồm cả những tín đồ Phật giáo và Công giáo phản đối cả hai phe trong cuộc chiến – luôn chính xác hơn bất kỳ thứ gì tôi có thể thu thập được từ những nguồn khác, thậm chí cả từ Đại sứ quán Mỹ, nơi biết ít đến ngỡ ngàng những gì đang diễn ra giữa những người Việt Nam vốn không theo một khuôn phép nào cả”.

” (The Spy Who Loved Us, page 160)

  1. Peter Shaplen: “Phạm Xuân Ẩn là một trong những điệp viên hai mang vĩ đại của thế kỷ 20, có thể là của mọi thời đại.“!

            Ẩn luôn mơ về một đất nước Việt Nam thống nhất, được hòa hợp dân tộc.

             “Ngay sau cuộc di tản, Peter Shaplen, tìm kiếm trong vô vọng thông tin về hành trình của cha mình, nhận được tin từ Trung tâm Chỉ huy Hải quân tại Lầu Năm Góc và Văn phòng Công vụ của Bộ Ngoại giao rằng cha ông “ở đâu đó trên Biển Đông”. Trong một lá thư đầy cảm xúc gửi tới căn hộ của cha ở Hồng Kỏng, Peter viết, “George McArthur đang ở đâu ? Eva Kim, thư ký của Đại sứ, đang ở đâu ? Những con chó Sài Gòn đang ở nơi quái quỷ nào? Điều gì xảy đến cho nhà cửa và tài sản của họ? Có ai thoát ra được không? Điều gì xảy ra với số vàng trị giá 17 triệu đôla của Sài Gòn? Người ta có đưa ra được không? Ông Vượng ở đâu? Philippe Francini (nguyên văn) ở đâu? Vinh và gia đình ông ở đâu? Họ có thoát nạn cùng nhau không? Francini (nguyên văn) vẫn ở khách sạn? Ẩn có lên được chiếc máy bay thuê riêng của Time, Inc. không? Gia đình ông ấy thế nào? Keyes Beech ở nơi nàoỉ Dennis (nguyên văn) Warner ở đâu? Dan Southerland đâu rồi?”(70)

Ẩn quả thực đã lên chuyến bay của Time, Inc. Trong một giai đoạn ngắn, ông sẽ là phóng viên duy nhất của Time tại Việt Nam.

Một trong những đoạn ghi chép của Bob Shaplen bộc lộ nhiều điều nhất là đoạn viết về ngày cuối cùng ông ở bên Ẩn tại Sài Gòn. “Ẩn – đám đông dân chúng đang cần hòa bình hơn bao giờ hết, không muốn củng cố sức mạnh của chính phủ; dân chúng không muốn chiến tranh, họ muốn hòa giải”. (71) Ẩn luôn mơ về một đất nước Việt Nam thống nhất, được hòa hợp dân tộc.

…(70) Thư, Hộc 2, Tệp 3, Tài liệu của Shaplen.” (Kỳ 38 – chương 6)

“Phạm Xuân Ẩn là một trong những điệp viên hai mang vĩ đại của thế kỷ 20, có thể là của mọi thời đại.“!

““Phạm Xuân Ẩn là một trong những điệp viên hai mang vĩ đại của thế kỷ 20, có thể là của mọi thời đại,” theo lời của Peter Shaplen, con trai của Robert, người trở thành nhà báo và nhà sản xuất cho ABC News. “Ông được tiếp cận tất cả các nguồn tin cao cấp ở Việt Nam. Đất nước này được cấu thành từ vô số những mối quan hệ kỳ lạ, mờ mịt, và Phạm Xuân Ẩn ở chính giữa tất cả những điều đó.”

Peter giải thích cho tôi về việc cha của ông, giống như Phạm Xuân Ẩn, có nhiều quan hệ như thế nào. “Khi tới Washington, ông sẽ gặp bạn bè ở CIA. Những bạn bè khác ở Hồng Kông cũng là người của Cục29. Mọi người nói: ‘Ồ, thế thì chắc chắn ông ấy làm việc cho họ rồi,’ nhưng tôi không nghĩ là như vậy. Ông có trao đổi thông tin, ông thở bằng nó, ông sống bằng nó. Chắc chắn Cục sẽ cực kỳ quan tâm đến ông, nhưng liệu ông có phải là một điệp viên không? Tôi không nghĩ vậy. Vì một lý do, ông không bao giờ giàu có cả. Những khoản tiền mà ông có đều từ tờ The New Yorker.

Peter Shaplen còn một lý do khác để nghi ngờ việc cha mình là một điệp viên. “Bob không giữ nổi một bí mật. “Nói với Western Union30 thì cũng như nói với Shaplen,” một trong những bà vợ cũ của ông nói. Ông sống rất phóng khoáng và rộng rãi. Ông là một người to lớn, cao 1,9 mét, nặng hơn 90 kilôgam. Ông là một

người đẹp trai với mái tóc đen, thường ngồi xuống với chiếc máy chữ của mình lúc 7 giờ sáng, và làm việc qua bữa trưa trước khi ra ngoài vào buổi chiều để chơi một séc tennis. Ông có một giọng nam trung oang oang, oai vệ, trở nên khàn khàn vì hút xì gà nhỏ vào ban ngày và xì gà lớn vào buổi tối. Ông thích những ly rượu Scotch, xì gà và những người đàn bà của mình. Ông yêu cuộc sống của một phóng viên thường trú nước ngoài. Ông thích thú được người ta chú ý và thích được là trung tâm của mọi việc. Chúng ta là những kẻ ngồi lê đôi mách,” Peter Shaplen nói. “Nhà báo chúng ta là vậy, những kẻ ngồi lê đôi mách.”

Đầu những năm 1970, khi Peter đang bắt đầu sự nghiệp báo chí của mình, ông đăng ký phòng ở khách sạn Continental, nơi ông được giới thiệu căn phòng cũ của cha ông. Ngay sau đó ông ngỡ ngàng trước một dòng ùn ùn những người gõ cửa phòng mình – người cầu cạnh, kẻ rửa tiền, nhà báo, những cô nàng bướm đêm, và những kẻ buôn chuyện tầm phào khác mà cha ông thích bán. Tin đã lan ra là “Shap- ah-lain” đã quay lại thành phố, và mọi người cứ đinh ninh Bob đã quay lại.” (The Spy Who Loved Us, page 160)

            Nhận xét: Đâu là sự thật?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s