Bài 3. Lê Đức Anh – cũng bỏ vợ đầu, bỏ con – với lý do rất tắc ơ – gia đình vợ đầu cũng chết rất nhiều – vợ 2 cũng chồng đại úy chết. (Giống như vợ chồng Lê Văn Hiến)

 (Lê Đức Anh là giả! Đã giết cả một gia đình Cs để thế chỗ – Một Hung Thần diệt CS Miền Nam!)

(Chưa hoàn chỉnh lắm)

Lưu ý:

  1. Tiểu sử không nói tên cha mẹ, anh em!
  2. Tiểu sử không thấy nhắc đã có vợ 1!
  3. Gia đình bên vợ 1 là Cộng Sản!

Ông Lê Đức Anh gặp người vợ đầu tiên, bà Phạm Thị Anh, vào tháng 8-1945, khi ông đang là “uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ phụ trách tổ chức và quân sự”(420) và bà Bảy Anh đang là phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã An Tây, huyện Bến Cát.

Bà Phạm Thị Anh sinh năm 1925, con một gia đình địa chủ nhỏ ở Bình Dương. Cả mấy anh chị em đều đi theo Việt Minh, có người đang làm chủ tịch huyện, có người đang làm bí thư xã.(Văn bản 1)

  1. Con đầu chết:

Cuộc hôn nhân ngay ngày đầu đã gặp sự cố: Đám cưới vừa bắt đầu thì có Tây càn, ông Lê Đức Anh đạp xe chở vợ về bên Hội Phụ nữ rồi quay lại chỉ huy chống càn. Đứa con đầu lòng của họ ra đời khi bà Bảy Anh chỉ mới có bầu bảy tháng, bà ngoại cháu đặt tên là Lê Thiếu. Vừa sinh xong lại gặp càn, y tế xã đưa lên võng gánh chạy vào rừng, đứa bé nhiễm lạnh, chết. (Văn bản 1)

  1. Con bé: “Năm 1951, bà sinh hạ một người con gái đặt tên là Lê Xuân Hồng.(Văn bản 1)
  2. Gia đình vợ bị tàn sát:

, hai mẹ con bà Bảy Anh xuống thăm chồng. Nhưng bà quyết định không tập kết ra Bắc như những người phụ nữ khác. … Chỉ không lâu trước đó, gia đình bà Bảy Anh đã phải mất ba anh em trai trong một vụ án oan lớn ở Bến Cát(422).” (Văn bản 1)

  1. Tuyên bố “ly khai với gia đình vợ”.

Lê Đức Anh ra Bắc, thoạt đầu được giao làm sư trưởng Sư đoàn 330, đóng ở Thanh Hoá; …Trong chi bộ của ông có hai người bị kiểm điểm nặng, ông và ông Bội Dong, vì lấy vợ thuộc thành phần tư sản, địa chủ. Cả hai sau đó đều tuyên bố “ly khai với gia đình vợ”(423).

Năm 1956, ông kết hôn với bà Võ Thị Lê, có chồng là một đại uý quân đội đã hy sinh và đang có một người con riêng. Năm 1957, họ có với nhau một con trai…” (Văn bản 1)

  1. Dàn Dựng để giết CS kỳ cựu:

“(422) Phòng nhì Pháp đã đánh vào một điệp viên để cho những người kháng chiến “bắt được”. Người này khai ra hàng chục cán bộ chủ chốt “nhận làm điệp viên” cho Phòng Nhì. Ngay lập tức, hàng chục cán bộ bị các đồng chí của mình đưa đi thủ tiêu, trong đó có 3 người anh và em trai của bà Bảy Anh.” (Văn bản 1)

  1. Vợ vẫn sống nhưng… không bao giờ gặp!

“424) Bà Phạm Thị Anh biết tin này từ cuối thập niên 1950 nhưng bà không đi bước nữa, sau 1975 bà về sống với con gái tại Cư xá Bắc Hải. Bà mất ngày 8-1-2011. Trong thời suốt thời gian ấy hai người chưa bao giờ gặp lại nhau.” (Văn bản 1)

  1. Em trai chết!

“Đến năm 1947 thì Lê Em bị Tây phục kích bắn chết .
Từ đó Lê Anh đi ra khỏi Tỉnh Thưa thiên và vào trong Nam làm ở dồn điền cao-su của Pháp . …” (Văn bản 4)

B. Tài liệu nghiên cứu.

(Văn bản 1)

BÊN THẮNG CUỘC : QUYỀN BÍNH -CHƯƠNG 18

Phần IV: Tam Nhân

Chương 18: TAM NHÂN PHÂN QUYỀN

  1. 2013

http://chauxuannguyen.org/2013/03/03/ben-thang-cuoc-quyen-binh-chuong-18/

…Ông Lê Đức Anh sinh ngày 1-12-1920 tại Truồi, một làng quê nghèo đói bên phá Tam Giang, thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Cha ông vừa làm ruộng vừa có thêm nghề thuốc nên cuộc sống gia đình, theo ông, đỡ cực hơn mọi người. Ông học vỡ lòng ở trong làng rồi ra Huế học tiểu học. Năm mười một tuổi, ông được gửi ra nhà chị gái, có chồng đang dạy học ở thành Vinh học tiếp nhưng cũng chỉ được thêm một, vài năm. Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo.

Ông Lê Đức Anh bắt đầu được “giác ngộ” thông qua những câu chuyện về “một người có tên là Nguyễn Ái Quốc” do hai người cậu ruột của ông, Lê Bá Giản và Lê Bá Dị, kể. Theo lý lịch tự khai: Lê Đức Anh chính thức tham gia cách mạng từ năm 1937 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 1-5-1938. Năm 1939, khi bị đàn áp, một số đồng chí bị bắt, ông lánh vào Đà Nẵng, lên Đà Lạt, rồi đến năm 1942 thì xuống đồn điền cao su Lộc Ninh. Cuộc hôn nhân với bà Lê cùng với một số điểm không rõ ràng về thời điểm vào Đảng là hai vấn đề khiến ông Lê Đức Anh luôn bị những người từng hoạt động với ông xới lên mỗi khi quyền lực của ông được nới rộng(419).

Ông Lê Đức Anh gặp người vợ đầu tiên, bà Phạm Thị Anh, vào tháng 8-1945, khi ông đang là “uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ phụ trách tổ chức và quân sự”(420) và bà Bảy Anh đang là phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã An Tây, huyện Bến Cát.

Bà Phạm Thị Anh sinh năm 1925, con một gia đình địa chủ nhỏ ở Bình Dương. Cả mấy anh chị em đều đi theo Việt Minh, có người đang làm chủ tịch huyện, có người đang làm bí thư xã. Thời gian ấy, bà Bảy Anh chỉ mới vừa đôi mươi lại được coi là hoa khôi trong khi ông Lê Đức Anh thì bị rỗ và một bên mắt bị bệnh vảy cá. Ông Lê Đức Anh “tìm hiểu” bà bằng cách cho mượn sách và mỗi lần như thế lại kẹp vào một mảnh giấy ghi mấy chữ. Làm hậu thuẫn cho ông còn có hai tỉnh uỷ viên: Tư Đang và Nguyễn Oanh(421); Tư Đang khi ấy là con nuôi của gia đình bà Bảy. Nhưng, bà Bảy Anh cho rằng, việc bà chọn ông Lê Đức Anh chủ yếu vì nếu lấy ông thì bà không phải làm dâu; ông Lê Đức Anh cũng ngỏ lời đúng khi bà muốn yên bề gia thất.

Cuộc hôn nhân ngay ngày đầu đã gặp sự cố: Đám cưới vừa bắt đầu thì có Tây càn, ông Lê Đức Anh đạp xe chở vợ về bên Hội Phụ nữ rồi quay lại chỉ huy chống càn. Đứa con đầu lòng của họ ra đời khi bà Bảy Anh chỉ mới có bầu bảy tháng, bà ngoại cháu đặt tên là Lê Thiếu. Vừa sinh xong lại gặp càn, y tế xã đưa lên võng gánh chạy vào rừng, đứa bé nhiễm lạnh, chết. Sau đó, Lê Đức Anh được điều về Khu 8. Năm 1950, khi xuống miền Tây thăm chồng, bà Bảy có thai đứa con thứ hai. Năm 1951, bà sinh hạ một người con gái đặt tên là Lê Xuân Hồng.

Sau Hiệp định Geneva, Lê Đức Anh nằm trong số những cán bộ được đưa ra miền Bắc. Từ Bình Dương, hai mẹ con bà Bảy Anh xuống thăm chồng. Nhưng bà quyết định không tập kết ra Bắc như những người phụ nữ khác. Khi ấy, mấy anh em bà Bảy theo kháng chiến để lại một đám trẻ con lít nhít, bà không nỡ để cho cha, một người đàn ông goá vợ phải một mình chăm nom bọn trẻ. Chỉ không lâu trước đó, gia đình bà Bảy Anh đã phải mất ba anh em trai trong một vụ án oan lớn ở Bến Cát(422).

Lê Đức Anh ra Bắc, thoạt đầu được giao làm sư trưởng Sư đoàn 330, đóng ở Thanh Hoá; sau được điều về Bộ Tổng tham mưu làm cục phó Cục Tác chiến. Thời gian này, quân đội đang chịu cuộc “chỉnh huấn, chỉnh quân” khốc liệt do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo. Trong chi bộ của ông có hai người bị kiểm điểm nặng, ông và ông Bội Dong, vì lấy vợ thuộc thành phần tư sản, địa chủ. Cả hai sau đó đều tuyên bố “ly khai với gia đình vợ”(423).

Năm 1956, ông kết hôn với bà Võ Thị Lê, có chồng là một đại uý quân đội đã hy sinh và đang có một người con riêng. Năm 1957, họ có với nhau một con trai, đặt tên là Lê Mạnh Hà; năm 1959, họ sinh thêm một người con gái, cũng đặt tên là Lê Xuân Hồng. Giữa thập niên 1960, Lê Xuân Hồng lớn, người con của ông Lê Đức Anh và bà Bảy Anh, cũng được tướng Trần Văn Trà tổ chức đưa ra miền Bắc(424). Ở Hà Nội, bà Lê làm y sỹ ở bệnh viện Hữu Nghị. Những năm ông làm Bộ trưởng Quốc phòng rồi chủ tịch nước bà luôn ở bên cạnh chăm sóc ông. Đây là thời gian mà cuộc sống của ông bà được mô tả là cẩn trọng tới từng chén cơm, viên thuốc.

…Cuối năm 1986, khi tướng Lê Trọng Tấn mất đột ngột, Lê Đức Anh thay vị trí Tổng tham mưu trưởng. Chỉ huy tình báo quân đội, tướng Phan Bình, được cho về hưu. Trung tướng Phan Bình là người kế nhiệm Đại tá Lê Trọng Nghĩa làm cục trưởng Cục II kể từ năm 1968, thời kỳ mà tình báo quân đội thực sự phục vụ cho quốc phòng. Sau khi bàn giao, tướng Phan Bình vào Sài Gòn. Ông nghỉ tại nhà khách Cục II, số 30 Lê Quý Đôn. Đêm 13 tháng Chạp năm Bính Dần (đầu năm 1987), ông chết ở tư thế “ngã sấp trên thềm nhà trước phòng khách, ở đầu bị bắn toác một lỗ rộng”.

Những thông tin không chính thức sau đó nói rằng “đồng chí Phan Bình bị bệnh tâm thần, tự sát”(432).

(419) Các ông: Phạm Văn Xô, nguyên Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp sau là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam; tướng Đồng Văn Cống, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 Nam Bộ; Tư lệnh quân khu 9, Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam; Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một, cho tới lúc chết vẫn ký đơn tố cáo Lê Đức Anh. Những nhà cách mạng đàn anh của Lê Đức Anh cho rằng: Ông Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm (chef des cooperatives) cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh, bị công nhân cao su đặt cho biệt danh là “cai lé” do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh cũng là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant, một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Ông đã từng bị nghi ngờ là “surveillant”, là “2è bureau (phòng nhì)”, không phải là đảng viên từ năm 1938 ở quê mà được kết nạp tháng 4-1945, trong một cuộc họp của Ban cán sự Đảng Thủ Dầu Một có ông Nguyễn Văn Thi cùng dự…Vào thời điểm những là thư tố cáo của ba vị lão thành này được phát tán rộng rãi, ông Anh cho xuất bản cuốn Đại tướng Lê Đức Anh, thanh minh: Khi ở Đà Lạt, ông làm cu ly, quét nhà, quét sân cật lực cũng chỉ được trả lương tháng 15 đồng. Nhưng: “Làm được hai tháng, ông thấy mình phải cố gắng học lấy một nghề, có nghề vững mới kiếm được tiền đủ sống và hoạt động cách mạng” và một “thằng Tây” đã hướng dẫn ông làm pa-tê, xúc xích, dăm bông. Về “chủ đồn điền De Lelant”, mà các vị lão thành tố cáo là “phòng nhì”, ông Lê Đức Anh giải thích: “Thằng chủ Tây đích thực của sở cao su này khi thì ở thành phố khi thì ở Paris… Cả hai thằng Đờ La-lan và Man-đông cũng đều là những thằng làm thuê. Man-đông thoả thuận trả lương tháng cho ông 30 đồng. Thấy Pa-tê, xúc xích ông làm ra ngon nên nó yêu cầu ông làm thêm giờ… và trả thêm cho ông mỗi tháng 15 đồng. Như vậy, mỗi tháng ông có thu nhập đều đặn 45 đồng. Có tiền dư dật, công việc lại không bị quản thúc như phu cạo mủ nên ông bắt đầu hoạt động cách mạng” (Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005, trang 20-21).

(420) Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005, trang 30.

(421) Tên ông được đặt cho một con đường ở Gò Vấp.

(422) Phòng nhì Pháp đã đánh vào một điệp viên để cho những người kháng chiến “bắt được”. Người này khai ra hàng chục cán bộ chủ chốt “nhận làm điệp viên” cho Phòng Nhì. Ngay lập tức, hàng chục cán bộ bị các đồng chí của mình đưa đi thủ tiêu, trong đó có 3 người anh và em trai của bà Bảy Anh.

(423) Theo Đại tá Khuất Biên Hoà.

(424) Bà Phạm Thị Anh biết tin này từ cuối thập niên 1950 nhưng bà không đi bước nữa, sau 1975 bà về sống với con gái tại Cư xá Bắc Hải. Bà mất ngày 8-1-2011. Trong thời suốt thời gian ấy hai người chưa bao giờ gặp lại nhau.

(432) Theo ông Trần Quốc Hương, bí thư Trung ương Đảng Khoá VI: “Tin ông Phan Bình bị bệnh tâm thần, tự sát là do Cục II báo cáo”.

(Văn bản 2)

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_%C4%90%E1%BB%A9c_Anh

Lê Đức Anh (sinh 1 tháng 12 năm 1920) là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997.

Lê Đức Anh quê tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 1944, ông tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn,

…Gia đình

Phu nhân là bà Võ Thị Lê. Con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Con trai là Lê Sỹ Hiệp, Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng…

(Văn bản 3)

Làng có công với nước

Ngày cập nhật 23/08/2012 04:57

http://baothuathienhue.vn/?gd=6&cn=274&newsid=31-83-25840

(TTH) – Tình cờ đọc một tài liệu nghiên cứu tôi được biết, trước đây Nhà nước ta có một danh hiệu cao quý dành cho các làng quê giàu thành tích đặc biệt trong Cách mạng Tháng Tám, được gọi là bảng vàng “có công với nước”. Năm 1988, Bàn Môn (xã Lộc An, huyện Phú Lộc) là một làng quê ở Thừa Thiên Huế vinh dự được Hội đồng Bộ trưởng (tức Chính phủ) tặng danh hiệu cao quý này.

Làng quê Bàn Môn được Lê Quý Đôn nhắc đến trong tác phẩm nổi tiếng “Phủ Biên tạp lục” viết khoảng sau năm 1774. Đặc biệt, tên gọi Bàn Môn gợi lại ký ức hào hùng trong những tháng ngày này khi cả nước rợp bóng cờ hoa kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Lịch sử ghi lại, ngay từ năm 1916, dân làng Bàn Môn đã nổi tiếng trong việc tập hợp, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa yêu nước Duy Tân. Ít người biết rằng, chính cụ Lê Tuý, thân phụ của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, là người phụ trách chở thuyền và đã cõng vua Duy Tân trên đường rút lui từ Kinh thành Huế về Hà Trữ và rồi trú lại ở Hà Trung (Phú Vang).

Cũng chính Bàn Môn là trung tâm lãnh đạo cách mạng của tỉnh Thừa Thiên trong tháng ngày chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa 1945. Sau khi thoát khỏi nhà tù Buôn Mê Thuột, đồng chí Nguyễn Chí Thanh trở về quê hương hoạt động và ngay tại Bàn Môn, đồng chí trực tiếp truyền đạt Nghị quyết 8 của Trung ương về thành lập Mặt trận Việt Minh và vũ trang khởi nghĩa. Sau khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh bị bắt, đồng chí Nguyễn Sơn, người làng Bàn Môn, được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên và là người trực tiếp chỉ đạo hội nghị cán bộ Đảng lịch sử vào tháng 5/1945 ở đầm Cầu Hai. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, nhân dân Bàn Môn hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện đường Cầu Hai. Tiền khởi nghĩa, đình làng Bàn Môn là địa điểm tập trung huấn luyện tự vệ. Sau tổng khởi nghĩa thắng lợi, đây là nơi quyên góp “hũ gạo cứu đói”, “hủ gạo nuôi quân”; là nơi diễn ra các “tuần lễ vàng”, “tuần lễ đồng” và cũng là nơi bắt đầu của những đoàn quân nam tiến.

Có hai người con của Bàn Môn đáng được nhắc đến sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Đó là cụ Hoàng Đức Trạch và Lê Bá Dị mà mới đây vào năm 2010, Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế và Hội đồng hương Phú Lộc tại TP Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức hội thảo về quê hương và cuộc đời hoạt động cách mạng của hai ông. Cụ Hoàng Đức Trạch từng là Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Thừa Thiên sau Cách mạng Tháng Tám, sau đó là Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến – Hành chính tỉnh Thừa Thiên và đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Cụ Trạch được nhớ đến với hình ảnh của một nghị viện Dân biểu Trung kỳ, có cuộc sống giàu sang nhưng sẵn sàng từ bỏ để theo cách mạng. Còn cụ Lê Bá Dị là lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Thừa Thiên Huế, từng là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng đầu tiên của huyện Phú Lộc.

Hừng hực khí thế cách mạng là Tố Hữu với những vần thơ: Tháng Tám vùng lên Huế của ta/ Quảng – Phong ơi, Hương Thủy, Hương Trà/ Phú Vang, Phú Lộc đò lên Huế/ Đỏ ngập dòng sông rộn tiếng ca.” (Quê mẹ). Huế là kinh đô thời triều đình Nhà Nguyễn. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Huế cùng với Hà Nội và Sài Gòn được xem là những dấu mốc có ý nghĩa bước ngoặt. Và, tôi đã nghĩ đến những làng quê, trong đó có người dân Bàn Môn trong chuyến “đò lên Huế” năm nào, tham gia cướp chính quyền tại Cố đô như một nét riêng độc đáo và tuyệt vời của sự nghiệp cách mạng mùa thu vùng đất xứ Thần kinh. Và cùng với Bàn Môn, tôi đã nghĩ đến rất nhiều làng quê ở Thừa Thiên cũng rất xứng đáng với bảng vàng làng có công với nước.

Đan Duy

(Văn bản 4)

Vương Triều Đỏ CS Việt nam – Đại Hán Giao Chỉ Quận

 LĐA

http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=17649&page=4

Trích từ alamit .
Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.
Chổ nầy sai hòan tòan và không chính xác .
LĐA nguời làng Truồi thuộc Huyện Phú Lộc, Tỉnh Thưa thiên .
Gia đình có 2 anh em, nguời Anh tên Lê Anh (họ đó ở làng Truồi không có chữ lót “sous–secteur có nghĩa như là Chi khu bây giờ, còn chỉ huy quân sự tòan Tỉnh thì gọi là Secteur (Tiêu khu) . Hồi đó đêm đêm đồn bị đánh hay bị phá cầu từ Huế trở vào Lăng cô thì họ biết là do anh em nhà Anh (les frères de Anh) . Đến năm 1947 thì Lê Em bị Tây phục kích bắn chết .
Từ đó Lê Anh đi ra khỏi Tỉnh Thưa thiên và vào trong Nam làm ở dồn điền cao-su của Pháp .

1. Bo vo va Con - Gd vo ta nat

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s