Bài 3. Phù thủy Hồ Thị Bi cũng “Chồng chết, em trai chồng cũng chết, 2 con cũng chết”

  1. Mất người thân: “Chồng hy sinh được một tháng, em trai bà bị sa vào tay kẻ thù, bị thủ tiêu. Rồi đứa con gái chưa đầy 2 tuổi của bà mất. Chỉ trong vòng một tháng, ba cái tang đã phủ lên mái đầu bà. ”

  2. “Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Bà Hồ Thị Bi được bố trí vào bộ phận chuẩn bị đón tiếp đồng bào, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc… Như một tặng phẩm của số phận, bà bất ngờ gặp lại Trương Văn Đa, đứa con trai đầu lòng sau bao năm dài xa cách.”

            Lưu ý: “Chồng bà, liệt sĩ Trương Văn Ngài cũng là một chiến sĩ cách mạng nổi tiếng. Giặc Pháp treo thưởng nhiều tiền đổi thủ cấp của ông. Năm 1947, ông và em trai bị giặc bắt, chúng chặt đầu ông đem về lĩnh thưởng. Bà chỉ nhận được thân thể chồng an táng. Năm mươi năm đằng đẵng, từ khi còn chiến tranh đến lúc hòa bình, cả gia đình chỉ có một ước nguyện tìm được thủ cấp của ông.” (Xem thêm phần Cộng Sản Thật thì mất mộ)

Hồ Thị Bi – Con người và nghĩa khí

8:25, 12/01/2010

http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ho-Thi-Bi—Con-nguoi-va-nghia-khi-296545/

Đằng sau những tấm huân, huy chương thắm đỏ trên ngực áo của Đại tá, Anh hùng quân đội Hồ Thị Bi, khó ai hình dung bà là người phụ nữ rất giàu tình cảm, nhiều bi kịch, uẩn khúc. Cuộc sống và chiến đấu luôn đặt bà đứng trước sự lựa chọn, những khúc quanh nghiệt ngã trong cuộc đời.

“Bà chúa” rỗng ông Hồ

Phải đi ở đợ khi mới lên 6 tuổi, nếm đủ mùi tủi cực, Hồ Thị Bi (tên thật là Hồ Thị Hoa), người con gái quê hương Mười tám thôn Vườn Trầu, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn sớm đến với cách mạng. Ngay từ năm 1936, bà đã tham gia “Hội Ái  hữu”. Và cũng năm ấy, mới 20 tuổi, bà được kết nạp Đảng.

Ngày 23/8/1945,  Hồ Thị Bi đã có mặt trong đoàn người nón lá, khăn rằn, tay cầm gậy tầm vông,  mã tấu đi chân không từ Hóc Môn, Bà Điểm rầm rập giăng cờ kéo xuống Sài Gòn giành chính quyền. Bà đã tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc Hóc Môn, với vai trò Đoàn phó, Trưởng ban tiếp tế rồi Đội trưởng Đội nữ binh sĩ của quận. Giặc Pháp quay trở lại, bà lúc ấy là mẹ của 3 đứa con nhỏ,  tổ chức kháng chiến của quận không yên tâm, khuyên bà trở về nhà làm ăn, nuôi con. Chồng bà lúc đó cũng đang công tác tại Ban an ninh của quận.

Hai lần bị từ chối, phải giải ngũ, bà rất đau khổ khi bị đặt ra bên lề của cuộc chiến đấu sôi động. Tấm lòng người mẹ lúc ấy có biết bao giằng xé, trăn trở. “Tôi nghĩ phải thắng giặc mình mới có độc lập, mới có hạnh phúc, gia đình mới được sum họp, các con mới được sung sướng”. Nghĩ thế, bà đã buộc lòng xa con. Người mẹ với trái tim tan nát ấy đã cắn răng chạy ào vào đêm tối, để cùng đồng đội đi chiến đấu. Bà đã đứng ra tập hợp, động viên 6 đồng chí cùng có hoàn cảnh như bà, thành một đội vừa sản xuất tự túc nuôi thân, vừa đánh giặc… Đó là lực lượng tiền thân do bà xây dựng, tiền thân của Ban công tác số 12, của Đại đội 2804 sau này do bà chỉ huy…

Trận đánh đầu tiên làm cho địch hoang mang, khiếp sợ là trận đánh vào chợ Hóc Môn, vào Nhà Việc, vào nơi giặc đóng quân tại chùa Ông. Đối với bà, ý nghĩa của trận thắng này còn nhằm hạ uy thế địch, cảnh cáo tề ngụy, nâng cao uy thế của bộ đội để nhân dân ta phấn khởi yên tâm chờ đợi. Sau trận này, ông Trần Văn Trà, lúc đó chỉ huy bộ đội Hóc Môn về thăm, động viên đơn vị bà, tặng đơn vị khẩu súng ngắn, giao cho đơn vị nhiệm vụ làm kinh tế tự túc nuôi quân, vừa tham gia diệt tề trừ gian.

Cô gái mồ côi của Mười tám thôn Vườn Trầu tạo thanh thế lẫy lừng bằng chính những trận đánh trên quê hương. Nhân dân Hóc Môn vẫn còn nhớ những trận đánh ấy đến giờ. Đó là trận đánh vào đồn Chợ Cầu trên đường số 9  Hóc Môn đi Sài Gòn. Bà đã phối hợp binh vận, dùng nội công ngoại kích. Trận đánh diễn ra chưa đầy 10 phút, không tốn một viên đạn. Đơn vị bà còn thu được 1 khẩu FM đầu bạc, 1 khẩu Thomson, 2.000 viên đạn. Trong hoàn cảnh thiếu vũ khí trầm trọng của ta thời đó, những chiến lợi phẩm thu được ấy quả là vô giá.

Tiếp theo là trận pháo kích chia lửa chống lại cuộc tấn công của địch vào Bộ Tư lệnh Khu 7 ở Giồng Dinh – Quéo Ba, buộc địch rút về bảo vệ hậu cứ. Đơn vị của bà ngày càng lớn mạnh. Đã đến lúc bà cần có một địa điểm sinh hoạt bí mật, vừa giữ được sự an toàn cho nhân dân. Bà đã chọn Rỗng Ông Hồ làm căn cứ địa.

Ngày ấy, bà đã xây dựng căn cứ nơi một con rạch quanh co giữa cánh đồng bưng sình lầy, ken đặc lau sậy, những đám tre dày gai nhọn biến thành hàng rào phòng thủ thiên nhiên khá vững chắc.

Căn cứ của bà được xây dựng trên hai chiếc ghe cũ, có mái lá che ken lại như một mái nhà. Bà cũng chia căn cứ của mình ra thành từng cụm, từng tuyến, có vòng ngoài, vòng trong canh gác cẩn thận, cũng có những tín hiệu, ám hiệu mật để kiểm soát, phân biệt người lạ mặt. Từ Rỗng Ông Hồ, đơn vị bà bủa lưới tấn công vào Hóc Môn, ven Sài Gòn. Ban công tác số 12 ngày càng lập nhiều chiến công vang dội bằng những trận đánh xuất quỷ nhập thần, làm kẻ địch ăn không ngon, ngủ không yên. Đơn vị của bà có uy thế đến nỗi có việc gì tranh chấp, kẻ địch thề nhau: “Cho bộ đội bà Bi lấy họng”.

Ngoài nhiệm vụ diệt giặc trừ gian, đơn vị bà còn sản xuất tự lực cánh sinh. Bí, bầu, chuối, rau… phủ kín những vạt đất trống. Họ cấy lúa trên những cánh đồng bị bỏ hoang. Hàng năm, đơn vị bà sản xuất hơn 1.000 giạ lúa, bán được hơn 30.000 đồng Đông Dương tiền thuốc lá. Thanh thế đơn vị của bà ngày càng lẫy lừng. Secteur Hóc Môn ra bố cáo: Nếu ai giết hoặc bắt sống được “Capitaine” Hồ Thị Bi, còn gọi là “Bà 131” sẽ được thưởng 100.000 đồng Đông Dương. Trong bố cáo có kèm theo hình vẽ chân dung bà (do không biết chữ, bà ký tên Bi bằng những nét rời nhau, thành 131)… Số tiền thưởng khổng lồ ấy không làm mờ mắt nhân dân. Bà vẫn sống, chiến đấu trong sự che chở, đùm bọc của đồng bào Hóc Môn…

Nơi căn cứ Rỗng Ông Hồ, bà được suy tôn như một vị nữ chỉ huy xuất sắc, một “bà chúa” nhưng bà cũng là một người vợ, người mẹ. Đã có bao đêm dưới tán tre dày bịt, nước mắt bà tuôn chảy vì nhớ thương con. Thỉnh thoảng, bà mới gặp được con trong những lần hành quân, chớp nhoáng ghé qua thăm nhà. Thỉnh thoảng, Đa – đứa con trai đầu lòng của bà dắt em đến gặp mẹ. Muốn ở bên con thật lâu nhưng rồi hoàn cảnh chiến đấu khiến bà hối thúc Đa phải quay trở về nhà ngay.  Bà đã nén lại nỗi đau để không òa khóc trước những người lính khi dõi theo bóng dáng thất thểu của con xa dần, mất hút. Bà cũng không thể quên đêm cuối cùng gặp gỡ chồng.

Lao vào cuộc chiến đấu, vợ chồng bà ít có dịp gặp nhau. Ông canh cánh nỗi lo: Nếu bà vì nước hy sinh, đàn con thơ dại sẽ bơ vơ. Ông muốn bà quay trở về với vai trò một người mẹ bình thường, bởi một mình ông tham gia công tác đã đủ. Bà thẳng thắn nói với chồng: “Muốn đánh thắng giặc, người chỉ huy không ra trận làm sao thắng được. Tôi hứa với anh, dù có bận công tác thế nào, tôi vẫn không quên bổn phận một người mẹ!”.

Buổi sáng hôm đó, bà đang thu xếp cho một trận đánh mới thì một cậu trinh sát chạy về báo tin chồng bà hy sinh. Giặc giữ xác ông nhưng đồng bào đã mang về được một… cái xác không đầu. Mảnh vá tự tay bà khâu trên áo ông còn nguyên vẹn đó. Bà lặng lẽ lấy kim chỉ nhíp lại miếng vá trên vai ông cho lành lặn rồi tắm rửa, chôn cất ông. Chỉ khi còn lại một mình bà mới òa khóc như chưa từng được khóc.

Ngay sáng hôm đó, giặc bêu đầu chồng bà ngay giữa chợ. Tên Robert, Chỉ huy trưởng khu vực Hóc Môn đã hí hửng rêu rao: “Giết được cọp đực rồi. Còn con cọp cái nữa là xong Việt Minh!”. Đồng bào kéo nhau ra chợ xem rất đông. Họ nói với nhau rằng dù ông mất đi nhưng mắt vẫn mở trừng trừng. Bất chấp sự canh gác cẩn mật của chúng, chiếc đầu ông vẫn được đồng bào mang về chôn cất cẩn thận. Nhân dân và sư sãi xã Thới Nhì đã bí mật lập bài vị thờ ông.

Chồng hy sinh được một tháng, em trai bà bị sa vào tay kẻ thù, bị thủ tiêu. Rồi đứa con gái chưa đầy 2 tuổi của bà mất. Chỉ trong vòng một tháng, ba cái tang đã phủ lên mái đầu bà. Mất mát, đau thương nhưng bà đã can đảm đứng lên, bà càng tỏ ra cứng cỏi. Đại đội 2804 của bà lúc ấy liên tiếp giáng vào kẻ thù những đòn chí tử. Tên quận trưởng phụ trách Secteur Hóc Môn liên tiếp gửi thư cho bà xin thương lượng, xin gặp gỡ, xin xác những tên lính bị giết… Bà trở thành nhân vật huyền thoại.

Trầm Hương

Hồ Thị Bi – Con người và nghĩa khí (tiếp theo và hết)

3:40, 17/01/2010

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2010/1/71330.cand

Một lần, đoàn của bà đùm cơm nắm từ Tà-nốt đến Đồng-rùm. Mưa gió, bờ suối Tha La ngập nước. Cả đoàn phờ phạc. Họ chưa vào được bờ, voi bầy từ đâu sầm sập kéo tới. Đụng voi lại mắc nước, không ai chạy được…

Được gặp Bác hồ tại Việt Bắc

Đó cũng là thời điểm quân Pháp lồng lộn điên cuồng, nham hiểm chủ trương tiêu diệt mọi nguồn sống của quân và dân 6 tỉnh miền Đông. Chúng ra lệnh bắn giết hết trâu bò để không còn sức cày, kéo trong vùng kháng chiến. Chúng coi việc giết được một con trâu là diệt được một tiểu đội Vệ quốc đoàn. Vì lẽ đó, quân dân ta phải đào hầm sâu để bảo vệ trâu bò như bảo vệ sự sống của con người. Trong tình hình nước sôi lửa bỏng đó, bà được giao nhiệm vụ luồn qua đồn bót địch, về tận Giồng Dinh, qua Bến Lức mua trâu, mang về cho căn cứ 6 tỉnh miền Đông.

Năm ấy, có người phụ nữ bé nhỏ, mảnh mai đã  đưa cả đàn trâu vượt rừng. Đàn trâu gặp thú dữ đã quây tròn lại với nhau. Ngồi trên lưng con trâu đầu đàn, bà nắm chặt dây dàm, hai chân thúc vào hông trâu cho khỏi ngã. Mặt khác, bà cũng nới lỏng dây dàm để con trâu khi cần cũng có thể chiến đấu được. Trong tình thế đó, bà chỉ cần rơi khỏi lưng trâu là tan xác. Bằng cách ấy, bà đã mua được hàng trăm trâu bò, cung cấp cho các vùng kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ. Có được trâu, đơn vị bà còn mượn cả ruộng của đồng bào để mở rộng cày cấy, trồng khoai, trồng thuốc; học cách làm xa đánh bắt cá, làm mắm cất trong các kho, vận chuyển lúa gạo, muối về căn cứ dự trữ cho trận đánh Trà Đông – Tây Ninh.

Công việc xây dựng căn cứ địa đang được tiến hành thuận lợi, thì bà lại nhận được lệnh của đồng chí Lê Duẩn: “Phải tìm mọi cách để mở cho được con đường 12. Đó là con đường mang tính chất chiến lược cho cuộc kháng chiến sẽ đi đến giai đoạn tổng phản công kẻ địch khi có thời cơ. Từ đó, quân ta sẽ từ chiến trường ngoài tiến vào bằng hai con đường: Một mũi đi theo con đường ven biển Khu 5. Một mũi đi dọc theo xương sống Trường Sơn…”.

Bà lại cắt một tiểu đội dò dẫm đi sâu lên rừng già phía bắc Campuchia, lại phải đối phó với thú dữ, với biệt kích. Đến Kông-pông-chàm, bà đặt liên lạc với Tỉnh ủy, mở một trạm sản xuất lương thực. Thiên nhiên ở đây ưu đãi nên chẳng bao lâu trạm đã dồi dào lương thực, khô, cá dự trữ, một phần đem bán lấy tiền làm quỹ cho kháng chiến. Một lần, đoàn của bà đùm cơm nắm từ Tà-nốt đến Đồng-rùm. Mưa gió, bờ suối Tha La ngập nước. Cả đoàn phờ phạc. Họ chưa vào được bờ, voi bầy từ đâu sầm sập kéo tới. Đụng voi lại mắc nước, không ai chạy được.

Trong hoàn cảnh nguy ngập đó, những người lính chỉ kịp lôi xểnh người chỉ huy trên rừng nước. Đôi chân bà nát nhừ. Vượt được nạn voi rồi, cơm nước họ mang theo tuột mất hết. Họ phải đối mặt với cái đói. Cả tiểu đội chỉ còn vắt cơm nhỏ bằng nắm tay ngấm đầy nước. Cả đoàn chia sẻ nhau vắt cơm cầm hơi… Tiếp sau đó, bà lại được lệnh của Khu bộ trưởng: Bàn giao căn cứ lại cho Đoàn 999 để vượt Trường Sơn ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới.

Ấy là dịp đầu năm 1954.  Người phụ nữ bé nhỏ ấy lại khoác ba lô lên vai, lại xuyên rừng. Hơn 7 tháng vượt Trường Sơn, bà Hồ Thị Bi đã đến được căn cứ Việt Bắc. Lúc gặp bà, nhà thơ Tố Hữu hỏi chuyện chiến trường miền Nam không ngớt. Bà kể chuyện thật thà về chiến trường miền Đông, về Rỗng Ông Hồ, Tà Nốt, Đồng Rùm… Bà nói thao thao bất tuyệt. Bỗng một giọng nói ấm áp từ trên nhà sàn vọng xuống: “Ai mà nói rổn rảng, có phải “Nữ kiệt miền Đông” đó không vậy?”. Bà ngẩng lên, ngỡ ngàng, sung sướng nhận ra Bác.

Cho đến giờ, bà vẫn không quên được ấn tượng lần đầu tiên gặp Bác: “Từ trên thang gác nhà sàn, một cụ già mặc bộ quần áo màu nâu giản dị, trên vai còn vắt chiếc khăn mặt, miệng ngậm điếu thuốc, dáng người thanh thanh. Chòm râu dài thưa, chưa bạc. Tóc thời đã hoa râm. Bác bước thong thả từ thang gác xuống, chẳng khác nào một ông tiên”.

Trong niềm hạnh phúc ấy, bà đã òa khóc như đứa trẻ. Bác vỗ nhẹ lên vai bà, giọng thân tình như một người cha: “Mừng gặp Bác phải vui, phải cười, sao lại khóc?”. Bà nghẹn ngào: “Thưa Bác, những ngày đánh nhau với giặc trong ấy, anh chị em chúng con thường đố rằng: Ngày Bác vô Nam, ai là người được đứng gần Bác… Bây giờ… chỉ có mình con”. Bác hỏi đến chuyện con cái của bà rồi bảo: “Bây giờ cô Bi ra đây gặp Bác. Ít lâu nữa, đồng bào chiến sĩ cũng gặp Bác!”. Lần gặp gỡ ấy Bác Hồ đã hóm hỉnh, thân thương gọi bà là: NỮ KIỆT MIỀN ĐÔNG.

Nỗi niềm ngày Bắc đêm Nam

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Bà Hồ Thị Bi được bố trí vào bộ phận chuẩn bị đón tiếp đồng bào, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc. Từ chiến khu Việt Bắc, bà được điều về Tổng cục Chính trị. Công  việc ấy của bà lúc đó mang một ý nghĩa chính trị đặc biệt. Cuộc đón tiếp này phải xóa đi những thành kiến lâu đời về kỳ thị Nam – Bắc. Như một tặng phẩm của số phận, bà bất ngờ gặp lại Trương Văn Đa, đứa con trai đầu lòng sau bao năm dài xa cách. Cuộc gặp gỡ ấy đầy cảm động. Bà ôm con vào lòng, xiết bao mừng tủi.

Niềm hạnh phúc của bà được nhân lên  khi đứa con trai của mình nay đã trưởng thành, đã tiếp bước cha mẹ đến với con đường chiến đấu.  Nhưng bà đã có 20 năm trên đất Bắc. 22 năm xa quê biết bao nỗi niềm thương nhớ ngày Bắc đêm Nam… Năm 1958, bà là một trong những nữ quân nhân hiếm hoi được phong quân hàm Đại úy. Năm tiếp sau, bà đắc cử đại biểu Quốc hội liền trong hai khóa II và III. Bà là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà phụ trách công tác quản lý gia đình hậu phương quân đội, đảm bảo thực hiện chính sách của Đảng chăm lo hậu phương để cán bộ, chiến sĩ ở tiền phương yên tâm chiến đấu.

Trong những năm chiến tranh phá hoại ác liệt của không quân Mỹ, bà Hồ Thị Bi được giao nhiệm vụ sơ tán những con em liệt sĩ, những con em có cha mẹ chiến đấu ra khỏi thủ đô Hà Nội. Mỗi phút dừng xe qua cầu là mỗi phút đứng trước tọa độ chết. Trách nhiệm của bà trước hàng trăm đứa trẻ thật lớn lao. Bà đã xông xáo, gào thét, sẵn sàng lao vào các barie buộc người phụ trách đưa các cháu sớm rời khỏi hiểm nguy. Nhiều người biết đến bà với tính cách quyết liệt ấy: “Bà đại úy mỗi bước đi là mỗi bước cự”.

Để giải quyết chính sách công bằng và hợp lý, bà đã không ngần ngại đi vào Quảng Trị bằng chiếc xe Rumani cũ kỹ. Những năm ấy vào Quảng Trị cũng đồng nghĩa với “bay qua cõi chết”. Thực tế ấy đã giúp bà nhìn tận mắt sự khốc liệt của chiến tranh. Bà hiểu thêm một điều rằng chẳng gì có thể bù đắp được trước sự hy sinh vô cùng lớn lao của người lính. Bà bắt tay ngay vào việc xây dựng khu nhà ở cho vợ con của những chiến sĩ vào miền Nam chiến đấu.

Trải qua nhiều mất mát trong đời riêng, bà thấu hiểu những khó khăn, bất hạnh của những người vợ vừa xa chồng vừa nuôi con. Ngôi nhà tình nghĩa ấy đã được xây dựng đàng hoàng dù không ít lần đi chở nguyên vật liệu về Hà Nội, bà suýt mất mạng vì máy bay B.52. Bà ngậm ngùi kể: “Trong chiến tranh, có những nỗi đau, mất mát hiện ra, dễ thấy; có những nỗi đau, mất mát lặn vào trong. Có một lần trong đời dì Năm đã nói dối. Đó là lúc cô Cầm – vợ của Trần Thế Truyện – Sư trưởng Sư 5 hy sinh trong cuộc tổng tiến công năm Mậu Thân 1968. Dì Năm biết tin nhưng giấu biệt vì Cầm lúc đó đang học thi làm bác sĩ. Dì Năm định bụng tìm thời điểm thích hợp để báo cho cô tin buồn đó.

 Trầm Hương

1. Chong va em cung con chet

 

Advertisements

One thought on “Bài 3. Phù thủy Hồ Thị Bi cũng “Chồng chết, em trai chồng cũng chết, 2 con cũng chết””

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s